|
Vài lời ngắn: Tôi không phải Bác sĩ, và cũng không phục vụ trong
ngành Y tế. Cách đây một thời gian, người nhà tôi tại Việt nam
bị viêm gan siêu vi, nhờ qua tôi hỏi cách chữa trị cùng thuốc
men. Nhân dịp này tôi kiếm sách đọc và tìm tòi trên mạng
internet, thâu lượm được những thông tin ngắn gọn về căn bịnh
này, tôi chuyển dịch và gởi về cho người nhà đọc. Sẵn cơ hội tôi
muốn qua báo KhoaHọc@ĐờiSống phổ biến thông tin này đến các bạn
đọc hầu giúp mọi người chút ít kiến thức phòng ngừa căn bịnh,
hiện nay qua cách ăn uống cẩu thả, không kỹ lưỡng gìn giữ vệ
sinh, bị lây nhiễm khá nhiều tại VN. Tiện đây cũng mong nhờ các
Bác sĩ hoặc những người nghiên cứu trong lãnh vực này chỉnh sửa
bổ túc thêm nếu thông tin có sai sót. (03.2007)
* * *
Viêm gan siêu vi (Virushepatitis) là một chứng nhiễm trùng có
thể ảnh hưởng đến toàn cơ thể. Mặc dầu nhóm siêu vi này thoạt
đầu chỉ tấn công và phá hủy lá gan, nhưng sau đó có thể gây tác
động phá hư những cơ quan khác. Siêu vi gan thường lây truyền
qua đường máu, bám vào tế bào gan để sinh trưởng gây chứng viêm
gan.
Siêu vi gan không tạo hợp thành nhóm vi trùng nhất định. Chúng
được phân biệt qua cấu trúc, mực độ xuất hiện, tính truyền nhiễm
và đặc tính của từng loại. Do đó tiến trình bệnh trạng của mỗi
loại siêu vi gan đều khác biệt nhau.
Tỷ lệ bệnh được bình phục nhất thời cũng như tiến trình mãn tính
của con bệnh cũng hoàn toàn khác biệt.
Hiện nay Hepatitis-B và Hepatitis-C là hai loại siêu vi phổ biến
và quan trọng nguy hiểm trong các chứng viêm gan siêu vi.
Chú ý
Bệnh nhân khi được (bị) phát hiện "Hepatitis-C" thường phản ứng
khác nhau:
- Hoặc xem thường vì mặc đầu bị nhuốm bệnh đã lâu nhưng bệnh
nhân không bị đau đớn hay có triệu chứng khác lạ.
- Hoặc hốt hoảng sợ hãi mình đang mang một chứng bệnh nan y
và chỉ trông chờ cái chết.
Cả hai phản ứng đều không đúng đắn. Bởi từ khi chẩn định được
bệnh cho đến khi có được đầy đủ dữ liệu về bệnh án để dự đoán
bệnh và đề ra được một phương pháp chữa trị, thông thường cần
một thời gian từ vài tuần cho đến vài tháng. Cho nên cần bình
tĩnh và nghiêm túc theo dõi bịnh để chữa trị.
Viêm gan cấp tính
Triệu chứng nhiễm trùng cấp tính trong hầu hết mọi trường
hợp – bất cứ do siêu vi gan loại nào gây ra – thường diễn ra
giống nhau:
Ăn không ngon miệng, nhợn mỡ và rượu, hay mệt mỏi, đau đầu, ói
mửa và thỉnh thoảng đau phía trên phải bụng.
Trong thời kỳ này bệnh nhân thường sốt nhẹ và có những triệu
chứng nhức mỏi như đau cúm, sau đó đến một thời kỳ vàng da. Sau
hai đến sáu tuần những triệu chứng trên thường thường biến mất.
Trường hợp viêm cấp tính đưa đến hoại gan rất hiếm thấy xẩy ra.
Hoại gan cấp tính có cơ nguy tử vong rất lớn, bởi những chức
năng quan trọng của cơ thể, nhất là hệ tuần hoàn bị đình trệ.
Trong trường hợp này thay gan là cách cứu chữa duy nhất.
Trường hợp nhiễm trùng không có triệu chứng
Bệnh nhân hoàn toàn không có triệu chứng bệnh, cũng không bị
vàng da, nhưng những trị số gan tăng cao.Trong trường hợp này bệnh nhân không biết mình bị nhiễm trùng.
Chỉ xác định được bệnh qua thử máu.
Đây là triệu chứng thông thường của viêm gan bởi siêu vi gan A
và C.
Viêm gan mãn tính
Hai loại siêu vi A und E không bao giờ gây viêm gan mãn tính,
ngược lại theo sác xuất hiện nay viêm gan mãn tính gây ra bởi
siêu vi B khoảng 10%, bởi siêu vi C khoảng 50 - 80%.
6 tháng sau khi nhiễm bệnh nếu những trị số của gan và lượng
siêu vi trong máu tăng cao, ta có thể khẳng định rằng bệnh đã
đến giai đoạn mãn tính.
20% viêm gan mãn tính đưa đến tình trạng hư hoại tế bào gan qua
đó phá hoại chức năng gan. Gọi là bệnh „xơ gan“.
Cũng từ 20% „xơ gan“, theo sác xuất, đưa đến „ung thư“.
Tình trạng viêm mãn tính kéo dài này có thể chữa trị với phương
pháp thích ứng. Những khả năng, cách thức chữa trị hiện nay đều
đã được công bố.
Thời gian ủ bệnh / tiến trình mãn tính của những thể loại viêm
gan đã được biết
|
Hepatitis |
Incubation time
(Incubationszeit: thời gian ủ bệnh) |
chronological sequence
(chronischer Verlauf: tiến trình mãn tính) |
|
A |
10 – 40 Ngày |
Không |
|
B |
1 – 6 Tháng |
5 –10 % |
|
C |
0,5 – 6 Tháng |
50-80 % |
|
D |
1 – 6 Tháng |
10 - 90 % |
|
E |
2 – 8 Tuần |
Không |
|
oOo
Hepatitis A
Nhiễm trùng:
Siêu vi A lây truyền
qua đường tiêu hóa.
Sinh họat thiếu vệ sinh là nguyên nhân chính. Nhiễm trùng qua
phân, nước uống (nước ống máy) nước đá, kem, sữa tươi, rau tươi,
cá và ngêu ốc.
Siêu vi A có ở mọi nơi. Các xứ nóng.
Chích ngừa:
Chủng ngừa: Có.
Trước hết nên khám nghiệm máu (qua kháng thể: antibody -
Antikörper) để biết bệnh nhân đã trước đó bị viêm gan chưa hoặc
đã chủng ngừa chưa.
Chủng ngừa gồm hai giai đoạn (hai lần chích ngừa).
Diễn tiến:
Khoảng 90 % bệnh nhân
nhiễm trùng siêu vi A không có triệu chứng và không phát hiện
được bệnh.
Triệu chứng như đã trình bày phần trên (xin đọc „Viêm gan cấp
tính“).
Cho đến nay chưa có hiện trạng nhiễm trùng siêu vi A mãn tính.
Nhiễm trùng siêu vi A có thể điều trị chữa lành hoàn toàn. Sau
đó cơ thể có thể sẽ miễn nhiễm suốt đời đối với dạng siêu vi
này.
Chữa trị:
Nhiễm trùng cấp tính A
không đòi hỏi một phương pháp điều trị đặc biệt nào.
Không phải kiêng cử (Diet – Diät) và cũng không cần dùng thuốc.
Bệnh nhân chỉ cần an dưỡng, nghỉ ngơi, nằm nhiều. Thức ăn đủ
chất dinh dưỡng và uống nhiều nước. Kiêng kỵ rượu và các thức ăn
uống có hại cho gan.
Trong thời kỳ điều trị
ban đầu, siêu vi A được thải ra qua phân. Để phòng ngừa lây
nhiễm nên tránh dùng chung phòng vệ sinh. Giữ gìn vệ sinh cẩn
thận là biện pháp quan trọng và hữu hiệu nhất.
oOo
Hepatitis B
Với hơn 300 triệu bệnh
nhân (300.000.000), viêm gan siêu vi B là một loại bệnh truyền
nhiễm phổ biến nhất trên thế giới.
Xẩy ra phần lớn tại các nước khu vực thế giới thứ ba như Phi
châu (Africa), Nam Mỹ (Southamerica) và Á châu (Asia). Tại nước
Đức với con số 500.000 bệnh nhân viêm mãn tính (dữ liệu từ cơ
quan phòng dịch) và 6.000 trường hợp nhiễm trùng hàng năm cho
thấy tỷ lệ mang bệnh là gần 0,5 % dân số.
Nhiễm trùng:
Thời gian từ khi nhiễm
trùng đến khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên (incubation time:
thời gian ủ bệnh) xê xích từ 40 – 200 ngày (trung bình 75 ngày).
Lây nhiễm bệnh giữa người lớn phần lớn qua đường ngoại tiêu hoá,
kim chích (người nghiện ngập) và 60 – 70% qua đường tình dục.
Những người mẹ mang thai bị nhiễm trùng lây qua bào thai, hài
nhi. Siêu vi B được tìm thấy tại bạch huyết cầu (lymphocyte),
tinh trùng, nước mắt, sữa mẹ và trong nước miếng. Bệnh nhân với
số lượng tập trung siêu vi trong máu từ 1 tỷ – 10.000 tỷ đơn vị
có nguy cơ lây nhiễm rất cao. Một vết xây xướt nhỏ đủ để là cửa
ngõ thâm nhập của những siêu vi. Nguy cơ lây nhiễm siêu vi qua
đường truyền máu ngày nay đã giảm thiểu rất nhiều. Có thể tóm
tắt đường lây nhiễm như sau:
Qua đường ngoại
tiêu hoá: Máu và y dược phẩm sản xuất từ máu, lọc máu
(Dialyse), dùng chung kim chích (con nghiện), xâm hình trên da
(tattoo), châm cứu, xiên trái tai hoặc da (piercing) để mang nữ
trang, làm móng tay, móng chân, cạo râu tại tiệm hớt tóc.
Qua đường tình
dục: Ăn nằm với người nhiễm trùng (chưa có trường hợp
nhiễm trùng qua nước miếng).
Mẹ – con:
Trong thời gian mang thai, lúc sinh nở, thời gian con bú sữa mẹ.
Phòng chữa răng, phòng khám bệnh – Nhân sự:
Từ bệnh nhân qua nhân sự hoặc ngược lại, lây nhiễm từ những dụng
cụ bị nhiễm trùng.
Sinh hoạt hằng ngày:
Va chạm qua sinh hoạt hằng ngày (trong gia đình, vườn trẻ,
trường học…).
1/3
trường hợp không xác định được lý do.
Chích ngừa:
Chủng ngừa: Có.
Chủng ngừa gồm ba lần chích ngừa cách nhau một khoảng thời gian
qui định.
Diễn tiến:
Viêm cấp tính
Đau
nhức bao tử, đường ruột. Thường kèm theo những triệu chứng bệnh
cúm như nóng sốt, nhức mỏi tứ chi, đau đầu, chóng mỏi mệt và
những triệu chứng phong thấp. Những triệu chứng trên không đến
đột xuất như trường hợp nhiễm trùng Hepatitis A nhưng ngược lại
có cường độ mạnh hơn. Thời kỳ này có thể kéo dài từ vài ngày đến
mấy tuần. Khoảng 30% trường hợp cấp tính, từ tuần thứ 2 đến thứ
6 xuất hiện dấu hiệu bệnh vàng da, nước tiểu có màu vàng nâu,
phân nhạt màu, thường đi kèm với ngứa ngáy toàn thân.
Bệnh
nhân đau tức ở vùng bụng dưới lá phổi phải do gan bị sưng lớn
lên, lá lách cũng bi sưng lớn. Trị số gan tăng mạnh.
Thông thường (90% trường hợp) viêm gan siêu vi B tự động dứt và
lành hẳn trong vòng 4 đến 6 tháng sau.
Bệnh
lý (diagnosis) phải được theo dõi định kỳ bằng những thử nghiệm
(laboratory test) đặc biệt để theo dõi và xác minh bệnh trạng
được chữa trị dứt hẳn hay chưa.
Viêm mãn tính
10 –
15% viêm gan siêu vi B cấp tính đưa đến trạng thái mãn tính, từ
đó đưa đến xơ gan và có thể dẫn tới ung thư gan (từ khoảng 10%
bệnh mãn tính).
Có
những dấu hiệu như: đau tức dạ trên, yếu mình, ăn không ngon
miệng, nôn mửa, sình bụng, dễ bị tiêu chảy.
Trường hợp nhiễm phải cùng một lúc nhiều loại siêu vi (A, C …)
có thể đẫn tới những bệnh án rất trầm trọng.
Nên cần biết:
"người mang mầm bệnh" – Một số khá nhiều trường hợp bị
nhiễm trùng từ lúc sơ sanh hoặc lúc còn bé. Con bệnh phát triển
thành những dạng được gọi là Carrier-Status: Bệnh nhân miễn
nhiễm với vi trùng, có nghĩa những người này hoàn toàn khỏe mạnh
nhưng mang đầy siêu vi Hepatitis (…).Đó là những người không đau
ốm gì nhưng mang mầm bệnh truyền nhiễm siêu vi đến người khác.
Chữa trị:
Nhiễm trùng cấp tính siêu vi B:
Không cần thiết phải điều trị.
Không phải kiêng cử đặc biệt (Diet – Diät) và cũng không cần
dùng thuốc.
Bệnh nhân chỉ cần an dưỡng, nghỉ ngơi, nằm nhiều. Thức ăn đủ
chất dinh dưỡng và uống nhiều nước. Kiêng kỵ rượu và các thức ăn
uống có hại cho gan.
Viêm gan mãn tính:
Trong chu kỳ tối thiểu 6 tháng qua thử nghiệm xác định được trị
số của gan tăng nhanh (transaminase) và số lượng siêu vi trong
máu cao => bệnh nhân bị viêm gan mãn tính – Mực độ gan bị thiệt
hại nhiều hay ít đo được bằng cách phân tách thử nghiệm tế bào
gan. Phương pháp điều trị hiện nay là xử dụng Interferon
và Lamivudin – Cơ bản có thể chọn lựa giữa hai phương
pháp:
*
Điều trị bằng Interferon: Một phương pháp
được áp dụng trong nhiều năm qua. Sác xuất chữa trị dứt hẳn 30
tới 40%. lnterferon được chích vào dưới da bụng. Thời gian điều
trị kéo dài ít nhất 6 tháng và phải chích đều đặn. Phương pháp
này gây ra những phản ứng phụ và nguy hại kèm theo. Do đó bệnh
nhân không những phải được khám kỹ lưỡng (khám tình trạng tim
mạch, phổi, tuyến giáp ở cổ, gan, chức năng của gan, phân tách
tình trạng tâm sinh lý bệnh nhân) mà còn phải được giải thích
cặn kẽ về những điều này trước khi điều trị. Trong thời gian
điều trị phải theo dõi kiểm soát bệnh nhân thường xuyên.
Phương
pháp này không được áp dụng trên những bệnh nhân mắc những chứng
suy kháng thể, đã trãi qua một lần được thay cơ quan trong thân
thể, đang mang thai, những bệnh nhân mắc tâm lý trầm uất hoặc
những chứng tâm lý khác.
*
Đối với những bệnh nhân trong trường hợp nêu
trên, phương pháp chữa trị bằng Lamivudin là một hướng chọn lựa
thứ nhì. Lamivudin là loại dược phẩm dùng chặn đứng vi trùng,
bán dưới dạng thuốc viên và ít gây phản ứng phụ – Thời gian điều
trị kéo dài thông thường 5 năm, bệnh nhân phải dùng thuốc điều
độ. Mặc trái của phương pháp này: với thời gian siêu vi sẽ phát
triển thành những biến tướng với chức năng đề kháng mới, hiện
tượng lờn thuốc sẽ xảy ra.
oOo
Hepatitis C
Toàn
thế giới có khoảng 150 triệu người viêm gan siêu vi C
(150.000.000).
Chỉ riêng châu Âu có đến 4 triệu trường hợp. Tại nước Đức là
800.000, có tỷ lệ 1% dân số.
Siêu
vi gan Hepatitis C thuộc họ vi trùng RNS (RNA: ribonucleic acid)
dạng hình cầu. Không như siêu vi B bám ngoài màng tế bào, siêu
vi C chui lọt vào trong tế bào gan để từ đó bắt đầu công cuộc
tàn phá. Siêu vi C có khả năng sinh sản rất nhanh và qua mỗi lần
tạo sinh thế hệ mới siêu vi C lại thay đổi cấu trúc bề ngoài. Hệ
đề kháng của ta qua đó bị đánh lừa, để tiêu diệt được chúng
kháng thể ta luôn luôn phải định dạng lại giống siêu vi này.
Cũng chính vì tính cách đặc biệt này, ngành Y và Kỹ thuật Y khoa
vẫn chưa nghiên cứu thành công được thuốc chủng ngừa Siêu vi C.
Và những trường hợp viêm gan siêu vi C thường dễ kéo dài thành
mãn tính.
Nhiễm trùng:
Phần
lớn không xác định được nhuyên nhân. Qua thời gian ủ bệnh
(incubation time) khá lâu bệnh nhân không còn nhớ lại những
triệu chứng nhiễm trùng cấp tính, nếu có, xảy ra bao giờ, ở đâu,
trong môi trường tiếp xúc nào …
Lây
nhiễm trực tiếp qua đường máu, có nghĩa siêu vi C chỉ thâm nhập
cơ thể qua vết thương ngoài da hoặc trầy rách da non. Siêu vi C
được phát hiện từ 1989, do đó cho mãi đến năm 1990 căn bệnh này
vẫn còn có khả năng lây qua đường truyền máu.
Rất
hiếm thấy trường hợp bị lây truyền qua đường tình dục, khả năng
lớn bệnh bị lây truyền vì những trầy sướt khi quan hệ tình dục.
Nói
chung thương tích và tiếp xúc trực tiếp với máu luôn luôn là
những nguy cơ nhiễm trùng siêu vi C.
Qua đường ngoại tiêu hoá:
Máu và y dựơc phẩm sản xuất từ máu, lọc máu (Dialyse), dùng
chung kim chích (con nghiện), xâm hình trên da (tattoo), châm
cứu, xiên trái tai hoặc da (để mang nữ trang), làm móng tay,
móng chân, cạo râu tại tiệm hớt tóc.
Qua đường tình dục:
Ăn nằm với người nhiễm trùng (chưa thấy có trường hợp nhiễm
trùng qua nước miếng).
Mẹ – con:
Trong thời gian mang thai, lúc sinh nở, thời gian con bú sữa mẹ.
Phòng chữa răng, phòng khám bệnh – Nhân sự:
Từ bệnh nhân qua nhân sự hoặc ngược lại, lây nhiễm từ những dụng
cụ bị nhiễm trùng.
Sinh hoạt hằng ngày:
Va chạm qua sinh hoạt hằng ngày (trong gia đình, vườn trẻ,
trường học…).
Chích ngừa:
Chủng ngừa: Hiện nay chưa có thuốc chủng ngừa loại siêu vi C
này.
Diễn tiến:
Viêm cấp tính
Sau
thời kỳ ủ bệnh khoảng từ 1 – 6 tháng, 10 – 20% bệnh nhân nhiễm
siêu vi C có những triệu chứng bệnh cúm như nóng sốt, nhức mỏi
tứ chi, đau đầu và nôn mửa. Những triệu chứng này mất hẳn sau
một thời gian ngắn. Những triệu chứng phát bệnh giống như khi
mắc phải siêu vi A hoặc B thường không xảy ra. Số lớn con bệnh
không có triệu chứng gì và không cảm nhận được.
10 –
20% trường hợp tự khỏi hẳn không cần qua chữa trị.
Viêm mãn tính
Viêm
gan siêu vi C mãn tính là những trường hợp nhiễn trùng kéo dài
hơn 6 tháng. Tình trạng mãn tính có thể đưa đến xơ gan hoặc u
gan và sau đó dẫn đến ung thư gan. Khi gan bị hư hoại cách cứu
chữa duy nhất cuối cùng là thay gan.
Chữa trị:
Viêm cấp tính:
Không cần thiết phải chữa trị.
Bệnh nhân chỉ cần an dưỡng, nghỉ ngơi, nằm nhiều. Thức ăn đủ
chất dinh dưỡng và uống nhiều nước.
Viêm mãn tính:
Tiêu diệt siêu vi để ngăn ngừa gây viêm qua đó chận đứng xơ gan
hoặc ung thư. Thông thường sau xác nghiệm khoảng 6 tháng có thể
bắt đầu điều trị với Interferon và Ribavirin
(Phương pháp điều trị cơ bản theo Hội nghị Hepatitis November
1999, Dallas - USA).
Những thuốc này gây ra những phản ứng phụ và nguy hại kèm theo.
Do đó bệnh nhân không những phải được khám kỹ lưỡng (khám tình
trạng tim mạch, phổi, tuyến giáp ở cổ, gan, chức năng của gan,
phân tách tình trạng tâm sinh lý bệnh nhân) mà còn phải được
giải thích cặn kẽ về những điều này trước khi điều trị.
Phương pháp này không được áp dụng trên những bệnh nhân mắc
những chứng suy kháng thể, yếu tim mạch, đã trãi qua một lần
được thay cơ quan trong thân thể, đang mang thai, những bệnh
nhân mắc tâm lý trầm uất hoặc những chứng tâm lý khác.
Điều
trị kéo dài từ 6 – 12 tháng, bệnh nhân phải được theo dõi kiểm
soát thường xuyên mới có hy vọng đạt hiệu quả.
Chung sống, sinh hoạt cùng với người bệnh Hepatitis C:
Quan trọng:
Tuyệt đối không tiếp xúc trực tiếp với máu người bệnh.
Những lo ngại rằng những người thân, bè bạn và đồng nghiệp khi
gần gũi bệnh nhân sẽ bị lây nhiễm hoàn toàn vô căn cớ. Siêu vi
gan C không truyền nhiễm qua những sinh họat chung đụng gần gũi
hằng ngày cùng bệnh nhân, uống chung ly tách cùng bệnh nhân cũng
không bị lây nhiễm. Thậm chí quan hệ tình dục bình thường cũng
không gây truyền nhiễm. Nhưng tốt hơn nên dùng bao cao su tránh
thai khi quan hệ.
Cẩn
thận giữ gìn vệ sinh trong toilet và bếp núc là đủ. Đó cũng luôn
luôn là biện pháp thiết yếu quan trọng và hữu hiệu nhất để phòng
ngừa các bệnh truyền nhiễm khác.
Những dụng cụ có thể gây thương tích như dao cạo râu, cạo lông,
kéo cắt móng tay, bàn chải răng … tuyệt đối không được dùng
chung. Bởi qua vết thương và qua máu là đường lây nhiễm chính
của siêu vi gan C. Siêu vi gan C vẫn có khả năng lây nhiễm sau
khi ở ngoài không khí một thời gian dài và có khả năng sống đến
140o C. Diệt trùng bằng rửa nước và xà phòng hoặc nấu
sôi không đủ, phải dùng đến hóa chất khử trùng thí dụ như dung
dịch chlor, thuốc tím … Cách đơn giản nhất là nên sắm những đồ
dùng nêu trên cho người bệnh xử dụng riêng.
Khi
bệnh nhân bị thương tích hoặc chảy máu nên cẩn thận băng bó
ngay, các băng gạt đã dùng qua hoặc dính máu phải được diệt
trùng và (hoặc) tiêu hủy (đốt), các vết máu chảy (trên sàn nhà
…) phải được diệt trùng ngay.
Khâu ăn uống dinh dưỡng:
Không nên thay đổi chế độ ăn uống một cách cực đoan. Nên dùng
thực phẩm tươi, thay đổi thức ăn để bữa ăn phong phú và đa dạng,
nên ăn nhiều lần thay vì ăn dồn 3 bữa trong ngày. Hệ tiêu hoá
của ta và dĩ nhiên lá gan qua đó thoải mái hơn, tuy phải làm
việc nhiều lần hơn nhưng trải đều mỗi lần một ít.
Thịt:
Câu
hỏi luôn được đặt ra là bệnh nhân Siêu vi gan C nên cử thịt hay
không? Thật là một câu hỏi ngớ ngẩn. Thịt là một món ăn thường
ngày không thể thiếu được của loài người. Nếu thích ăn thịt và
thấy ngon miệng, tại sao không?
Quán
tính này có thể, đi ngược lại, do từ thời gian nhiễm bệnh hoặc
từ thời kỳ cấp tính gây ra: Thời gian bị cấp tính nhiều con bệnh
lợm ngán thịt, kỵ và ngây những mùi mỡ thịt. Trong thời gian đó
dĩ nhiên không ăn đuợc mỡ thịt. Nhưng nay thời kỳ đó đã trải
qua. Và đối với Y khoa hiện nay điều này không cấm kỵ đối với
bệnh nhân.
Rau
cải và trái cây:
Rau
cải, trái cây rất cần thiết cho người bệnh gan và luôn luôn
thành phần không thể thiếu trong một bữa cơm ngon, đầy đủ dinh
dưỡng và lành mạnh. Nên tránh những loại dễ gây đầy hơi sình
bụng (như chou-fleur, đậu hạt, poirrée, các loại cải bẹ trắng …)
Dầu
mỡ:
Tránh dùng mỡ động vật, luôn cả các loại dầu thực vật đã bảo
hoà, gan cần rất nhiều sức lực để hoá giải các chất này. Nên
dùng những dầu thực vật dễ tiêu thí dụ như dầu olive, dầu hoa
hướng dương … Ngược lại nên dùng bơ (beure), dễ tiêu hơn
margarine (bơ thực vật).
Sữa:
nên dùng loại ít thành phần mỡ - Xúc xích, dồi: Không kiêng cử
nhưng dùng ít, chọn loại ít mỡ - Fromage (phó mách, phô mai):
cũng nên chọn loại có thành phần mỡ thấp.
Lời khuyên: - Artichaut (engl. artichocke) có tính trợ gan
rất tốt
- Củ cải trắng cũng vậy, tốt cho gan
Tóm lại: - Ăn uống bình thường - Không phải kiêng cử
gì đặc biệt
- Thức ăn tươi, phong phú, đa dạng - Đầy đủ vitamine (rau cải,
trái cây)
- Nhắc nhở thêm: tránh những thức ăn đóng hộp. Những hoá chất
dùng mục đích giữ cho thức ăn để được lâu có tác động không tốt
cho lá gan
Lời khuyên cho bệnh nhân bị xơ gan:
- Hạn chế protein (chất
đạm)
- Hạn chế muối, các thức
ăn mặn
- Không dùng các loại dầu
mỡ đã bảo hoà (saturated)
- Chọn dùng các loại rau
cải trái cây chứa nhiều vitamine. Các
vitamine sau. A, D, K, E, B1, B2
- Củ cải trắng cũng vậy, tốt cho gan.
Trở về Trang Chính |