|
LGT:
Nguyệt san “Current History” –quy tụ những cây viết gồm những
học giả, nhà nghiên cứu, giáo sư Đại học Hoa Kỳ- trong số tháng
05/2006 đã ra một chủ đề về sự chuyển mình của Á Châu, trong đó
đặc biệt nhấn mạnh đến sự trổi dậy của Trung Quốc. Chúng tôi
chọn lựa chuyển ngữ bài viết của GS John J. Mearsheimer
để giới thiệu đến độc giả vì đồng tình với quan điểm của ông.
N.A.
*
* *
Trung
quốc có thể phát triển trong hoà bình? Câu trả lời của tôi là
không. Nếu trong vài thập niên tới Trung quốc tiếp tục tăng
trưởng kinh tế với tốc độ đáng kể như hiện nay, Hoa Kỳ và Trung
Quốc rồi sẽ dấn mình vào một cuộc chạy đua về an ninh ngày càng
căng thẳng tiềm ẩn mối nguy cơ dẫn đến chiến tranh. Hầu hết các
quốc gia láng giềng của Trung Quốc -kể cả Ấn Độ, Nhật Bản, Tân
Gia Ba, Nam Hàn, Nga, và Việt Nam- rồi sẽ bắt tay cùng với Hoa
Kỳ để ngăn chặn thế lực của Trung Quốc.
Để tiên
đoán tương lai Á Châu, ta cần một học thuyết về chính trị quốc
tế có thể giải đoán được những thế lực cường quốc đang lên sẽ
hành xử như thế nào và các quốc gia trong vùng sẽ phản ứng ra
sao. Học thuyết này dĩ nhiên phải thuần lý và phải được đặt cơ
sở trên thái độ ứng xử của những thế lực đại cường đó trong quá
khứ.
Học
thuyết của tôi về chính trị quốc tế là, những thế lực siêu cường
khi muốn làm bá chủ một khu vực trên thế giới đồng thời cũng
phải để mắt canh chừng không cho một thế lực cường quốc đối thủ
nào có thể trổi dậy thống trị ở một khu vực khác. Học thuyết này
giúp ta lý giải chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ kể từ khi lập
quốc, cùng những tác động của nó lên mối liên hệ giữa Trung quốc
và Hoa Kỳ trong tương lai.
SỰ TRANH ĐUA QUYỀN LỰC
Căn cứ
trên những hiểu biết của tôi về nền chính trị quốc tế, sự sống
còn là mục tiêu quan trọng nhất của một quốc gia, bởi vì một
quốc gia không thể theo đuổi bất cứ những mục tiêu nào khác nếu
như nó không tồn tại. Quan tâm đến mối an nguy của chính mình,
cơ cấu căn bản của những quốc gia trong hệ thống quyền lực quốc
tế được xây dựng trên sự cạnh tranh lẫn nhau về quyền lực, mà
mục tiêu tối hậu của mỗi đại cường là ai cũng muốn dành tối đa
quyền lực thế giới về phần mình và đi đến việc chế ngự toàn bộ
hệ thống.
Hệ
thống quyền lực quốc tế có ba đặc tính nổi bật. Thứ nhất, những
kép chánh là những quốc gia hoạt động theo kiểu cách vô chính
phủ -trong cái ý nghĩa đơn giản là không có một quyền lực nào
cao hơn ở trên họ. Thứ hai, tất cả các siêu cường đều có khả
năng tấn công quân sự, tức là họ có thể gây thương tổn lẫn nhau.
Thứ ba, không một quốc gia nào có thể hiểu được ý định của những
quốc gia khác một cách chắc chắn, đặc biệt là những ý đồ tương
lai của họ. Giản đơn là như thế, ví dụ như làm sao ta có thể
biết được những toan tính của Đức hay Nhật đối với những quốc
gia láng giềng của họ vào năm 2025?
Trong
một thế giới mà có thể không thiếu những quốc gia có những ý đồ
xấu cũng như có khả năng tấn công quân sự đáng kể, các quốc gia
thường có khuynh hướng sợ hãi lẫn nhau. Sự sợ hãi này được tích
lũy do một sự kiện thực tế rằng họ đang sống trong một thế giới
vô chính phủ, không có ai để kêu cầu khi họ gặp phải vấn nạn.
Thế nên, các quốc gia đều nhận thức một điều rằng, để sống còn
trong một hệ thống như thế, tốt nhất là phải sửa soạn cho mình
càng có nhiều sức mạnh càng tốt so với những đối thủ tiềm ẩn.
Một quốc gia càng hùng mạnh chừng nào thì càng ít lo sợ mình sẽ
bị các quốc gia khác tấn công. Cụ thể như không có người Mỹ nào
lại lo lắng chuyện Gia Nã Đại hay Mễ Tây Cơ sẽ tấn công Hoa Kỳ
bởi vì cả hai nước này không có ai đủ mạnh để tính chuyện đánh
nhau với Hoa Thịnh Đốn. Tuy nhiên những đại cường không hoàn
toàn cố gắng để trở thành một siêu cường mạnh nhất, mặc dù đó là
kết quả mà ai cũng muốn. Mục tiêu tối hậu của họ chỉ là để trở
thành một thế lực bá quyền -đại cường duy nhất trong khu vực của
mình.
Ý nghĩa
chính xác nhất của việc trở thành một thế lực bá quyền trong
khung cảnh thế giới hôm nay là gì? Hầu như là chuyện bất khả cho
một quốc gia đạt đến vị trí bá chủ toàn cầu, bởi vì quả là điều
cực kỳ khó khăn để dự phóng và giữ vững quyền lực của mình ở
trên khắp thế giới cũng như lên lãnh địa của những đại cường ở
xa. Thành tựu tốt nhất mà một quốc gia hy vọng là trở thành một
thế lực bá quyền khu vực và như thế họ có thể thống trị một khu
vực địa lý riêng biệt. Hoa Kỳ đã và đang là một bá quyền khu vực
ở vùng Tây Bán Cầu kể từ những năm 1800. Mặc dù hiện nay Hoa Kỳ
là một quốc gia mạnh nhất trên hành tinh này, nó không hẵn là
đang làm bá chủ thế giới.
Những
quốc gia khi đã trở thành một thế lực bá quyền khu vực đều có
thêm một mục tiêu khác nữa: Họ tìm cách ngăn ngừa những đại
cường của những khu vực khác dẫm lên chân họ. Những bá quyền khu
vực luôn luôn không muốn có những kẻ ngang tầm với mình. Ngược
lại họ muốn những cường quốc trong các khu vực khác chia rẽ,
tranh chấp lẫn nhau để không còn chỉa mũi dùi vào họ. Một cách
tổng quát, lý thuyết của tôi là, tình huống lý tưởng nhất cho
bất cứ đại cường nào là trở thành một thế lực bá quyền duy nhất
của một khu vực trên thế giới.
BÁ QUYỀN MỸ
Một cái
nhìn thoáng qua về chính sách ngoại giao của HK minh họa sự giải
thích quyền lực của lý thuyết này. Khi Hoa Kỳ dành được độc lập
từ Anh quốc năm 1783, nó chỉ là một quốc gia nhỏ yếu với 13 tiểu
bang nằm trên bờ Đại Tây Dương. Cái quốc gia mới mẻ này đã bị
bao quanh bởi đế quốc Anh và Tây Ban Nha, đồng thời vùng lãnh
thổ trải dài từ dãy núi Apalachian đến Mississipi River lại ở
dưới sự kiểm soát của những bộ lạc da đỏ thù nghịch. Đó là một
khung cảnh đầy hiểm nguy và đe dọa.
Trong
khoảng thời gian hơn 115 năm sau đó, những người hoạch định
chính sách Hoa Kỳ đã làm việc một cách cần mẫn để đưa nước Mỹ
trở thành một thế lực bá quyền khu vực. Họ đã mở rộng biên cương
bờ cõi của nước Mỹ từ Đại Tây Dương qua đến tân bờ Thái Bình
Dương trong một phần của chính sách được biết đến như là “Định
Mệnh Hiển Nhiên” (Manifest Destiny).
Hoa Kỳ đã đánh nhau với Mễ Tây Cơ cùng các bộ lạc da đỏ và đã
đoạt của họ khá lớn đất đai. Quốc gia này dã trở thành một thế
lực bành trướng bậc nhất, như TNS Cabot Lodge đã từng phát biểu,
“Hoa Kỳ đã có một lịch sử về xâm lấn, đô hộ, và bành trướng lãnh
thổ hơn bất cứ một quốc gia nào khác trong thế kỷ thứ 19”.
Những
nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ trong thế kỷ đó không phải chỉ
quan tâm đến việc biến quốc gia này thành một thế lực đáng kể
trong khu vực mà đồng thời còn còn có quyết tâm đẩy các đại
cường Âu Châu ra khỏi khu vực Tây Bán Cầu với một thông điệp khá
rõ ràng là không muốn họ quay lại vùng đất này. Chính sách này
mệnh danh là Học thuyết Monroe, được đưa ra lần đầu tiên bởi
Tổng Thống James Monroe vào năm 1823 trong bản thông điệp hàng
năm đọc trước Quốc hội. Đến năm 1898 thì đế quốc Âu châu cuối
cùng tại châu Mỹ sụp đổ và Hoa Kỳ trở thành một thế lực bá quyền
khu vực lần đầu tiên trong lịch sử thế giới đương đại.
Thế
nhưng, công việc của một đại cường không bao giờ hoàn tất một
khi nó đạt đến ngôi vị bá quyền khu vực. Nó không muốn trông
thấy bất kỳ một cường quốc nào theo gót mình thống trị những khu
vực khác trên thế giới. Trong thế kỷ 20 có bốn cường quốc có khả
năng chạy đua để trở thành một bá quyền khu vực, đó là: Đế chế
Đức (1900-1918), Đế chế Nhật (1931-1945), Quốc Xã Đức
(1933-1945), và Liên Bang Sô Viết trong thời kỳ chiến tranh lạnh
(1945-1989). Không có gì đáng ngạc nhiên, mỗi quốc gia đã nỗ lực
để vươn tới những gì mà Hoa Kỳ đã thành tựu được trong vùng Tây
Bán Cầu trong thế kỷ thứ 19.
Và rồi
Hoa Kỳ đã phản ứng như thế nào? Trong mỗi trường hợp, nó đã đóng
vai trò chủ chốt trong việc đánh bại và triệt phá bất cứ những
ai có ý tưởng lăm le muốn trở thành những thế lực bá quyền khu
vực. Hoa Kỳ đã nhảy vào Đệ I Thế Chiến vào tháng Tư năm 1917 khi
thấy Đế quốc Đức có vẻ như sắp thắng trận đến nơi và sẽ thống
trị toàn cõi Âu châu. Quân lực Hoa Kỳ đã dự phần quyết định
trong việc làm nghiêng cán cân thăng bằng chống lại Kaiserrich,
dẫn đến sự sụp đổ chế độ này vào năm 1918. Trong những năm đầu
của thập niên 1940, Tổng Thống Franklin D. Roosevelt đã điều
động Hoa Kỳ can dự vào Đệ Nhị Thế Chiến để bẻ gãy những tham
vọng của Nhật tại Á Châu và của Đức tại Âu Châu. Trong cuộc
chiến tranh này, Hoa Kỳ đã góp phần tiêu diệt cả hai quốc gia
phe Trục, và sau năm 1945, các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ
đã trù liệu để nắm chắc một điều rằng cả Đức lẫn Nhật sẽ ở trong
vị thế yếu kém về quân sự. Cuối cùng, trong cuộc chiến tranh
lạnh vừa qua, Hoa Kỳ đã làm việc một cách kiên định nhằm ngăn
chặn Liên Bang Sô Viết đặt ách thống trị lên cả Âu và Á châu, và
rồi đến cuối thập niên 1980 đã góp phần vào việc loại bỏ đế quốc
này vào đống rác của lịch sử.
Chỉ một
thời gian ngắn sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, năm 1992,
trong cuốn “Chỉ Nam về Quốc Phòng” của chính phủ Bush (cha), bị
rò rỉ ra báo chí, đã nêu rõ rằng Hoa Kỳ hiện nay là cường quốc
bậc nhất trên thế giới và nó sẽ trù liệu để giữ vững vị trí trội
bật này. Nói một cách khác, Hoa Kỳ sẽ không khoan thứ cho bất kỳ
một thế lực cạnh tranh nào ngang tầm với mình.
Thông
điệp này đã được lập lại một lần nữa vào năm 2002 trong bản
“Chiến Lược An Ninh Quốc Gia” nổi tiếng của chính phủ Bush
(con). Đã có ít nhiều chỉ trích liên quan đến văn bản này, đặc
biệt là ý niệm “đánh phủ đầu”, thế nhưng chẳng có một lời phản
đối nào về sự khẳng định rằng Hoa Kỳ nên phải kiểm tra các thế
lực đang lên và giữ vững vị trí lãnh đạo trong việc cân bằng thế
lực toàn cầu.
Căn bản
của vấn đề là, Hoa Kỳ –vì những lý do chiến lược- đã hoạt động
cật lực trong hơn một thế kỷ qua để đạt đến vị trí bá quyền ở
vùng Tây Bán Cầu. Sau khi đạt đến vị trí bá quyền khu vực, nó đã
phải làm việc hết sức mình để ngăn chặn các cường quốc khác có
khả năng kiểm soát Á hay Âu châu.
Cách
hành xử của Hoa Kỳ trong quá khứ sẽ có những tác động nào trước
sự trổi dậy của Trung quốc? Một cách ngắn gọn, Trung Quốc sẽ
hành xử như thế nào khi càng ngày càng trở thành một thế lực
đáng kể? Và rồi Hoa Kỳ cũng như các quốc gia khác tại Á Châu sẽ
phản ứng như thế nào trước một Trung Quốc hùng cường?
TIÊN ĐOÁN TƯƠNG LAI TRUNG QUỐC
Trung
Quốc có vẽ như dồn nỗ lực để thống trị Á Châu giống như cách mà
Hoa Kỳ thống trị vùng Tây Bán Cầu. Một cách cụ thể, Trung Quốc
sẽ tìm cách để tăng cường tối đa khoảng cách sức mạnh của mình
đối với các quốc gia láng giềng, đặc biệt là Nhật Bản và Nga.
Trung Quốc muốn chắc một diều là nó sẽ trở thành một quốc gia
hung cường để không bất cứ một quốc gia Á châu nào có khả năng
đe dọa nó. Có vẻ như Trung Quốc sẽ không theo đuổi một sự vượt
trội về sức mạnh quân sự để rồi nổi cơn lên đi xâm lăng các quốc
gia Á Châu trong vùng, tuy nhiên ta cũng không bao giờ nên loại
trừ khả năng này. Thay vào đó, điều mà Trung Quốc có thể làm là
sẽ bức chế các quốc gia láng giềng trong vùng về những giới hạn
trong cách hành xử mà nó có thể chấp nhận được, cũng giống như
cung cách mà Hoa Kỳ chứng tỏ cho các quốc gia khác ở châu Mỹ
biết rằng mình là ông chủ. Trở thành bá chủ khu vực, theo tôi
nghĩ, là con đường duy nhất để Trung Quốc có thể thâu hồi lại
Đài Loan.
Một
Trung Quốc ngày càng hùng mạnh rồi đây cũng sẽ có những nỗ lực
để đẩy thế lực Mỹ ra khỏi Á châu, chẳng khác gì cung cách mà Hoa
Kỳ đã đẩy các thế lực Âu châu ra khỏi vùng Tây Bán Cầu trước
đây. Một “Học thuyết Monroe” kiểu Trung quốc rồi sẽ ra đời giống
như Nhật Bản đã làm trong thập niên 1930.
Những
mục tiêu chính sách này quả là một cái nhìn chiến lược dễ hiểu
đối với Trung quốc. Một điều chắc chắn là Bắc Kinh muốn thấy các
lân bang Nhật Bản và Nga yếu kém hơn họ về mặt quân sự, cũng
giống như Hoa Kỳ muốn nhìn thấy một nước láng giềng Gia Nã Đại
và Mễ Tây Cơ yếu kém quân sự hơn mình. Hẵn nhiên là đâu có quốc
gia nào lại muốn thấy có những quốc gia hùng mạnh khác ở ngay
trong khu vực của mình? Hầu hết những người dân Trung hoa chắc
là vẫn còn nhớ những gì đã xảy ra trong thế kỷ rồi khi Nhật Bản
là một đại cường và Trung quốc là một nhược tiểu. Trong cái bầu
khí của chính trị thế giới vô chính phủ này, tốt nhất là trở
thành một anh dã nhân khổng lồ Godzilla hơn là một chú thỏ hiền
lành Bambi.
Hơn
nữa, làm sao Trung Quốc lại có thể chấp nhận chuyện quân lực Hoa
Kỳ hoạt động ở ngay sân sau nhà mình? Những nhà hoạch định chính
sách Hoa Kỳ chắc chắn là sẽ nóng mặt lên khi thấy những cường
quốc khác đưa quân lực của họ vào vùng Tây Bán Cầu. Những thế
lực quân sự ngoại quốc này sẽ được nhìn một cách dứt khoát như
là một hăm dọa tiềm ẩn đối với nền an ninh Hoa Kỳ. Trung quốc
cũng thế thôi. Làm sao Trung Quốc cảm thấy an toàn được khi lực
lượng Hoa Kỳ bày binh bố trận trước ngưởng cửa nhà mình? Trên cơ
sở luận lý của Học thuyết Monroe, phải chăng nền an ninh của
Trung Quốc sẽ được cải thiện tốt hơn nếu đẩy được thế lực quân
sự Hoa Kỳ ra khỏi Á Châu?
Tại sao
chúng ta lại chờ đợi chuyện Trung Quốc sẽ hành xử khác hơn với
cung cách mà Hoa Kỳ đã từng làm? Bắc Kinh nguyên tắc hơn Hoa
Thịnh Đốn? Đạo lý hơn? Ít tinh thần ái quốc hơn? Ít quan tâm đến
chuyện sống còn hơn? Tuyệt nhiên là không hề có những chuyện đó,
và như vậy điều dĩ nhiên là họ cũng sẽ bắt chước Hoa Kỳ để thực
hiện cái tham vọng trở thành một bá quyền khu vực.
VẤN NẠN TRƯỚC MẶT
Xuyên
qua chứng liệu lịch sử, ta cũng có thể thấy được một điều khá rõ
ràng các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ sẽ phản ứng như thế
nào nếu Trung quốc muốn trở thành một thế lực thống trị Á Châu.
Chắc chắn là Hoa Kỳ không bao giờ chấp nhận có những thế lực đối
đầu ngang tầm với mình. Như đã được chứng minh trong thế kỷ 20,
Hoa Kỳ đã biểu lộ quyết tâm giữ vững vị trí thế lực bá quyền khu
vực duy nhất trên thế giới. Thế nên điều mà chúng ta có thể chờ
đợi là Hoa Kỳ sẽ nỗ lực tối đa để bao vây ngăn chặn Trung Quốc
mà mục tiêu tối hậu là làm suy yếu nó đến mức không bao giờ còn
có khả năng hoành hành tại Á Châu. Một cách cụ thể, Mỹ sẽ hành
xử với Trung Quốc trong một cung cách chẳng khác gì đã đối phó
với Liên Sô trước đây trong thời chiến tranh lạnh.
Những
quốc gia láng giềng của Trung Quốc chắc chắn cũng đều lo sợ sự
trổi dậy đó và rồi họ cũng sẽ làm bất cứ những gì có thể làm
được để ngăn chặn Trung Quốc trở thành một thế lực bá quyền khu
vực. Thực vậy, đã có những bằng chứng cụ thể cho thấy những quốc
gia như Ấn Độ, Nhật Bản, Nga cũng như các tiểu quốc như Tân Gia
Ba, Nam Hàn, Việt Nam đã tỏ ra lo lắng trước uy thế đang lên của
Trung Quốc và đang tìm cách để ngăn chặn. Cuối cùng rồi thì họ
cũng sẽ đứng vào trong một lực lượng liên minh do Hoa Kỳ lãnh
đạo để canh chừng và kiềm chế sự lớn mạnh của Trung Quốc, chẳng
khác gì Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật và ngay cả Trung Quốc đã liên
kết lực lượng với Hoa Kỳ để ngăn chặn thế lực của Liên Bang Sô
Viết trong thời chiến tranh lạnh vừa qua.
Cuối
cùng, do vị trí chiến lược quan trọng của Đài Loan trong việc
kiểm soát hải hành trong vùng Tây Á, ta khó mà tin rằng Hoa Kỳ
cũng như Nhật Bản lại để cho Trung Quốc kiểm soát hải đảo lớn
lao này. Sự thực, Đài Loan sẽ là một con bài quan trọng trong
lực lượng liên minh chống Trung quốc, và chắc chắn điều này sẽ
càng chọc giận Trung Quốc, châm dầu thêm vào cuộc chạy đua an
ninh giữa Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn.
Bức
tranh mà tôi vẽ ra về những gì có thể xảy ra nếu Trung Quốc tiếp
tục tăng trưởng như hiện nay quả là không tươi đẹp chút nào. Quả
thực đây là điều khá nãn và tôi mong muốn có thể trình bày một
cái nhìn lạc quan hơn về tương lai. Thế nhưng thực tế cho thấy
chính trị quốc tế là một dịch vụ bẩn thỉu, đầy hiểm nguy và
không một thiện chí nào có thể cải thiện được bầu khí tranh đua
an ninh căng thẳng đã bắt đầu khi tinh thần bá quyền xuất hiện
trong vùng Âu Á. Đó là bi kịch của những thế lực chính trị đại
cường.
Nguyên
Anh chuyển ngữ.
Trở về Trang Chính
|