|
Cách
đây trên hai ngàn năm trăm năm một vị đã Phật ra đời. Không phải
là một ngẫu nhiên mà sự ra đời này lại trùng hợp với sự nở rộ
của một loài hoa qúy hiếm, tương truyền hàng ngàn năm mới nở một
lần: Hoa Vô Ưu. Tất cả mọi hiện hữu trên thế gian này, như ta
biết, đều có nhân duyên của nó, thế nên vượt lên trên tất cả, sự
ra đời của Phật chính là một đại sự nhân duyên. Do bởi đại sự
nhân duyên này mà đóa hoa Vô Ưu nở từ hơn hai ngàn năm trước cho
đến nay vẫn không hề tàn lụi, càng ngày càng tỏa hương ngát khắp
mười phương, vượt qua mọi biên giới quốc gia, phủ trùm lên mọi
quốc độ thế gian, từ Đông sang Tây, từ Âu sang Á. Có thể nói một
cách khẳng định rằng, đoá hoa Vô Ưu này đã nở ra từ khổ đau của
con người để giúp thăng hoa và giải trừ nỗi khổ đau ấy. Nó trực
diện với khổ đau và giải phóng con người ra khỏi những khổ đau.
Nói đạo Phật gắn liền với xã hội, nhân sinh là như thế, và bởi
vì nó gắn bó mật thiết với thời đại và con người thế nên nó tồn
tại và phát triển.
Chúng
ta hiện đang sống trong một thế giới đang thay đổi và chính
chúng ta cũng đang thay đổi trong từng giây phút, nếu không nói
là trong từng sát na. Thay đổi là một trong ba pháp ấn của Phật
giáo dưới tên gọi Vô Thường. Thế nên vấn đề của chúng ta, những
người Phật tử trong thời đại này, là hãy nhổ neo, căng buồm lên,
cỡi theo ngọn gió đổi thay để cùng với mọi người mau chóng đến
bờ bên kia –đáo bỉ ngạn, thể hiện tinh thần Bát Nhã. “Yết
Đế. Yết Đế. Ba La Yết Đế. Ba la Tăng Yết Đế. Bồ Đề. Tát Bà Ha.”
Phải đi, phải vượt lên, vượt qua hết, phải thay đổi không ngừng.
Ngôn ngữ thế gian gọi sự thay đổi đó là cách mạng. Daisaku
Ikeda, chủ tịch đương nhiệm phong trào Soka Gokkai (Sáng Giá
Hội) của Phật Giáo Nhật Bản gọi đó là cuộc cách mạng trong
mỗi con người –The Human Revolution. Đó là một cuộc cách
mạng bản thân hay nói rõ hơn, một cuộc cách mạng tâm linh. Hôm
nay, dưới ánh sáng của mùa Phật Đản, chúng ta thử tìm hiểu những
nét sơ lược về một phong trào Phật giáo đang để lại những dấu ấn
sâu đậm trong mọi hoạt động của xã hội Nhật Bản hiện nay.
1.
Nhật Liên (Nichiren Shonin),
Người Sáng Lập Nhật Liên Tông
Ngài Nhật Liên (Nichiren Shonin), tục danh là
Zennichimaro, sinh ngày 16 tháng 2 năm 1222 tại Kominato, quận
Chiba, phía đông Nhật Bản. Trong tự truyện, Ngài Nhật Liên đã
nói về mình như sau: “Tôi là con trai của một ngư phủ ở Tojo,
một làng chài lưới hẻo lánh vùng duyên hải tỉnh Awa” và rất hãnh
diện khi nhận mình là “đứa con của đại chúng”. Đứa con trai của
người đánh cá nghèo hèn ở tận cùng của bức thang xã hội này đã
lớn lên cùng với tiếng sóng vỗ của biển Thái Bình và nhận ra
rằng mình thuộc về cái đám đông không tên tuổi đó và có nghĩa vụ
phải cứu độ họ. Niềm khát khao này đã đưa Nhật Liên đến sự khám
phá rằng mình là hoá thân của Bồ Tát Tịnh Hành, một người sinh
ra từ giai cấp bần cùng và đã phổ truyền bộ kinh Pháp Hoa. Chúng
ta nên lưu ý rằng ngài Nhật Liên tuyên bố điều này vào một thời
điểm mà xã hội Nhật đang còn ở trong tình trạng kỳ thị do đẳng
cấp xã hội, đồng thời cũng là một giai đoạn đang có những thay
đổi lớn lao, từ một xã hội của giai cấp quý tộc bước sang một xã
hội của giai cấp chiến sĩ.
Xuất gia năm 11 tuổi và thọ giới tỳ kheo năm
lên 15 tuổi với pháp hiệu Rencho, Nhật Liên đã phát nguyện rằng
ông phải hoàn thành Phật quả để cứu độ cha mẹ. Tuy còn ở tuổi
thiếu niên, nhưng Nhật Liên đã bắt đầu mang một thắc mắc lớn, là
tại sao Đạo Phật chỉ có một mà hiện nay lại có đến 9, 10 tông
phái? Để tìm câu trả lời đâu là Đạo Phật chân chính, năm 17 tuổi
nhà sư trẻ Rencho rời quê hương đi Kamakura, thủ phủ chính trị
của Nhật Bản lúc bấy giờ, đến tham học tại chùa Onjo, Kyoto được
coi như trung tâm văn hoá của Nhật và một số chùa chiền danh
tiếng khác, sau cùng là chùa Tỉ Duệ Sơn (Mt. Hiei,) một Phật học
viện hàng đầu của Nhật Bản lúc bấy giờ. Cuối cùng, đến năm 31
tuổi ngài Nhật Liên đi đến kết luận rằng chỉ có kinh Pháp Hoa
mới đúng là lời dạy chân thật do chính Đức Phật Thích Ca tuyên
thuyết và tin rằng mình là người mang trọng trách xiễn dương
giáo lý của Pháp Hoa để cứu độ nhân sinh. Trong niềm tin tưởng
như thế, ngài Nhật Liên đã viết bài pháp luận “Bốn Phê Phán” có
nội dung phê bình các tông phái Thiền, Tịnh Độ, Chân Ngôn, và
Luật Tông của Phật giáo Nhật Bản lúc bấy giờ.
Năm 1253 ông trở về ngôi chùa cũ ở quê hương,
đổi pháp hiệu từ Rencho thành Nhật Liên (Nichiren) và chính thức
tuyên bố thành lập giáo phái Nhật Liên Tông, đặt căn bản trên bộ
kinh Pháp Hoa. “Nichi” là Nhật, bao hàm ý nghĩa rằng vĩ nghiệp
của Đức Phật giống như mặt trời, mặt trăng xoá tan bóng đêm u
tối, và “Ren”-Liên, hoa sen, một loài hoa mang phẩm chất “gần
bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Nhật Liên như thế bao hàm ý
nghĩa rực rỡ như mặt trời và tinh khiết như hoa sen.
Ban đầu số lượng tín đồ tham dự rất khiêm
nhượng, khoảng 2, 3 người lại bị phái Tịnh Độ phản ứng gay gắt
tìm cách đuổi ra khỏi chùa, ngài Nhật Liên lên đường đến
Kamakura lập một ngôi làng nhỏ tại Matsubagayatsu làm cơ sở hành
đạo. Trong thời gian này Nhật Bản đang gặp khó khăn bởi thiên
tai và dịch tể tàn phá, thây người chết đói và chết dịch nằm đầy
trên khắp các ngả đường. Ngài Nhật Liên liền viết một bài pháp
luận dâng lên vị tướng quân nhiếp chính đương thời, cho rằng
những vị thần bảo hộ Nhật Bản đã lìa bỏ đất nước này vì dân
chúng hiện tin vào tà thuyết, cụ thể như Tịnh Độ tông đã từ bỏ
Đức Phật Thích Ca, không tin vào sự cứu độ ở thế gian này mà chỉ
mong cầu ở kiếp sau. Đó là lý do tại sao Nhật Bản phải chịu
những tai ương ở trong nước và họa ngoại xâm sắp cận kề. Để
thoát khỏi kiếp nạn này, dân Nhật không còn một lựa chọn nào
khác là quay trở về với Pháp Hoa, tức là với những lời dạy chân
thật của Đức Phật Thích Ca.
Bốn tháng sau, để trả lời cho bài pháp luận
này, tín đồ phái Tịnh Độ với sự đồng ý của vị tướng quân đã tấn
công phóng hỏa ngôi làng Matsubagayatsu và tìm giết Nhật Liên.
Ông thoát chết trong vụ tấn công này nhưng sau đó đã bị lưu đày
ra đảo Izu trong gần hai năm. Khi được phóng thích ông trở về
thăm lại quê hương và rồi trong một buổi thuyết pháp ở đây, ông
đã lọt vào một cuộc phục kích khác quy mô hơn của phái Tịnh Độ
với một rừng gươm giáo và tên bắn như mưa. Ông lại thoát chết
trong trận phục kích này nhưng một số tín đồ đã bị thiệt mạng.
Đó là năm 1264. Ba năm sau, đầu tháng Giêng năm 1268, Hoàng đế
Mông Cổ sau khi thôn tính xong lục địa Á Châu đã hạ chiến thư
với Nhật Bản. Thế là lời tiên đoán của Nhật Liên đã thành sự
thật. Nhân dịp này, ông đã gặp vị tướng quân đương nhiệm, Taira
Saemon-no-jo, đòi hỏi một cuộc tranh luận công khai với các tông
phái Phật giáo khác cùng thái độ đối xử đúng đắn của chính quyền
đối với tôn giáo. Vị Tướng quân này đã nổi giận, cho bắt giam
Nhật Liên, tuy nhiên hội đồng sứ quân lại muốn mang Nhật Liên ra
chém đầu ngay lập tức vào ngày hôm đó để diệt trừ hậu hoạn. Tại
pháp trường, một phép lạ đã xảy ra: “một khối lửa tròn như mặt
trăng bay đến từ hướng Enoshima, đánh ngã tất cả các binh sĩ tại
hiện trường”. Kết quả là không ai còn dám hành hình Nhật Liên
nữa. Ông bị lưu đày ra đảo Sado.
Được ân xá vào năm 1274, Nhật Liên trở lại
Kamakaru và gặp Tướng quân Saemon lần nữa cùng với những yêu
sách cũ. Đây là lần chỉ trích chính quyền lần thứ ba của ngài
Nhật Liên, chứng tỏ rằng với một đức tin mạnh mẽ, con nguời
không có gì phải sợ hãi trước bạo lực của thế quyền, như ngài đã
viết: “Khi một người được sinh ra trong một vương quốc, thể xác
y có thể bị bắt buộc phải vâng lệnh kẻ cầm quyền nhưng tâm hồn
thì không bao giờ”. Câu hỏi đầu tiên của Tướng quân Saemon là:
“Bao giờ thì Mông Cổ xâm lăng Nhật Bản”. Ngài Nhật Liên trả lời
dứt khoát: “Chắc chắn nội trong năm này”. Lần này thì hội đồng
sứ quân đã phải dịu giọng và tìm cách mua chuộc bằng cách mời
ngài về trú trì ngôi quốc tự Aizen tại thủ đô. Ngài Nhật Liên đã
từ chối lời đề nghị này và rút về ẩn cư tại núi Minobu đồng
thời xây dựng cơ sở phát triển tín ngưỡng của tông phái mình.
Tại đây, vào ngày 24 tháng 11 năm 1281, ngôi chùa đầu tiên của
Nhật Liên Tông đã được khánh thành.
Đúng như lời tiên đoán của ngài Nhật Liên,
tháng 10 năm 1274 quân Mông Cổ đổ bộ vào Kyushu xâm lăng Nhật
Bản, chiếm đóng hai hòn đảo Iki và Tsushima sau khi đánh bại
quân trú phòng. Đạo Phật của ngài Nhật Liên là một đạo Phật gắn
liền với thế gian, với những khổ đau của nhân sinh, đặc biệt là
những đau thương của dân tộc ông trong cuộc chiến đấu chống quân
Mông Cổ, điều này đã được ông gởi gắm qua những đoạn văn thể
hiện tình cảm yêu nước nồng nàn:
“Làm sao tôi có thể quay lưng lại với thực tế
khi mà cư dân của hai đảo Iki và Tsushima trong phút chốc đã
hoàn toàn biến mất vào hôm tháng Mười năm 1274? Vĩ đại thay là
những nỗi buồn đau của người lính chiến phải giã từ cha già mẹ
yếu, vợ dại con thơ cùng mái nhà thân yêu để lên đường bảo vệ
những vùng duyên hải xa lạ chống lại kẻ xâm lăng. Khi người lính
trông thấy những đám mây trời, họ tưởng như đó là cờ xí của quân
thù, khi họ thấy những chiếc ghe chài, họ cứ ngỡ như là đoàn
chiến hạm của quân xâm lược với xiết bao kinh hoàng. Ngày, một,
hai lần trèo lên núi cao; đêm, ba, bốn lần leo lên lưng ngựa, họ
không lúc nào rời mắt theo dõi kẻ thù. Họ có cảm giác như mình
đang sống trong một thế giới không ngừng tranh chiến, thế giới
của A tu la”. (1)
Trải qua những lần bị bách hại và thoát chết
cũng như những lời tiên đoán của ông đều trở thành sự thật, ngài
Nhật Liên khẳng định niềm tin rằng lịch sử của Phật giáo như
được Đức Phật tuyên thuyết trong kinh Pháp Hoa đã được chứng
nghiệm bởi chính cuộc đời ông và ông chính là người được Đức
Phật chọn lựa trong sứ mệnh phổ truyền giáo lý Pháp Hoa. Suốt
một đời hoạt động sôi nổi, không ngừng tranh luận với giới chức
quyền thế để bênh vực quyền lợi cho đại chúng dân nghèo, lấy
giáo lý Đại thừa để huấn luyện tinh thần dân tộc làm lợi ích cho
quê hương xứ sở về phương diện thế gian, dân Nhật vì thế tôn
sùng ông như một nhà tiên tri, một vị thánh. Ngài Nhật Liên viên
tịch vào ngày 13 tháng Mười năm 1282 tại tỉnh Musashi (Tokyo),
để lại lời di chúc: “Xin vui lòng an táng tôi trên ngọn núi
Minobu, nơi mà trái tim tôi an trú vĩnh viễn”.
(2)
Tương truyền mặt đất đã chấn động và hoa anh
đào lập tức nở rộ phủ đầy khắp ngọn núi Minobu như một lời đưa
tiễn.
2. Phong Trào SOKA GAKKAI (Sáng Giá Hội) cuả
Giáo Hội Phật Giáo Nhật Liên Tông, Nhật Bản.
Một trong những tổ chức tôn giáo năng động và
được coi là thành công nhất trong nỗ lực phổ truyền giáo lý Phật
giáo trên thế giới trong thời đại ngày nay là phong trào SOKA
GAKKAI (Sáng Giá Hội), một tổ chức cư sĩ hoạt động trong khuôn
khổ của Giáo hội Phật giáo Nhật Liên Tông, Nhật Bản. Mặc dầu tổ
chức này được hình thành và lớn mạnh tại Nhật do đáp ứng đúng
yêu cầu tâm linh của quần chúng, tuy nhiên vì đây là một phong
trào Phật giáo, đối tượng cuối cùng của nó vẫn là con người, là
nhân loại, thế nên mục tiêu của phong trào SOKA GAKKAI nói chung
đã được xây dựng trên một niềm tin vững chắc, rằng sự cải thiện
trong mỗi con người không những có năng lực chuyển hoá nghiệp
lực của mỗi cá nhân mà còn cả quốc gia và nhân loại nữa. Cho nên
ta có thể mô tả một cách ngắn gọn mục tiêu của tổ chức này, đó
là vận động thực hiện một Cuộc Cách Mạng Con Người.
Tsunesaburo Makiguchi (1871 -
1944)
và Josei Toda (1900
- 1958),
Những Sáng Lập Viên Tiên Khởi của Phong Trào
Soka Gakkai.
Theo đuổi mục tiêu này hoàn toàn là một hành
động thuộc lãnh vực niềm tin tôn giáo. Các nhân vật lãnh đạo
tiên khởi của phong trào Soka Gakkai trong thời Đệ Nhị
Thế Chiến đã hành xử đức tin tôn giáo của mình một cách đúng đắn
qua việc bày tỏ lập trường kiên định là không tán đồng, phục vụ
cho một tôn giáo mà họ không tin là chân chính –Thần Đạo- đang
đưa nước Nhật vào thảm họa chiến tranh, không lối thoát. Hậu quả
là tất cả những nhân vật sáng lập phong trào đều bị chính quyền
quân phiệt Nhật bắt giam và vị chủ tịch tiên khởi, Makiguchi, đã
bỏ mình trong tù vào năm 1944 như một kẻ tuẩn giáo. Josei Toda,
người kế vị và là vị chủ tịch thứ hai của phong trào, sống sót
sau hơn hai năm bị giam cầm, được phóng thích chỉ vài tuần lễ
trước khi cuộc chiến kết thúc. Là một nhân vật có đầu óc tổ
chức, ông là người đã mở ra một chương mới cho lịch sử Soka
Gakkai, thế nên khi nói đến Soka Gakkai, ta không thể
không nói đến Josei Toda.
Xuất thân là một giáo viên Tiểu học, cuộc đời
của Josei Toda thực sự thay đổi khi ông gặp Makiguchi vào mùa
hè năm 1920, lúc đó đang là Hiệu trưởng của trường Tiểu học
Nishimachi tại thủ đô Tokyo. Trong vị trí này, Makiguchi đã giúp
Toda giữ một chân giáo viên tại đây và rồi trở thành một vị
thầy, một người hướng dẫn tâm linh cho Toda trong suốt cuộc đời
còn lại. Thế nên vào năm 1928, khi Makiguchi chính thức quy y
Nhật Liên Tông thì Josei Toda cũng lập tức theo bước chân thầy,
trở thành một đệ tử trung kiên của giáo phái này. Makiguchi là
người đề xướng ra một phương pháp sư phạm mới được gọi là “sáng
tạo giá trị”, soka, và lập ra hội Soka Kyoiku Gakkai –Sáng
Giá Học Hội, một tổ chức giáo dục chịu ảnh hưởng của tư
tưởng Nhật Liên Tông. Năm 1922 Toda xin từ nhiệm vai trò giáo
viên, đem phương pháp của Makiguchi áp dụng vào hệ thống giáo
dục lớp đêm do ông sáng lập. Doanh nghiệp này đã thành công rực
rỡ cho ông đủ vốn liếng để mạnh dạn đi hẵn vào thương trường,
thành lập một loạt các công ty xuất bản, một cơ sở tài chánh
cùng một hãng đầu tư chứng khoán. Đến năm 1943 thì Toda đã làm
chủ tất cả mười bảy công ty và sắp sửa mua thêm một mỏ than tại
Kyushu và một công ty sản xuất dầu tại Osaka. Thế nhưng tất cả
đều sụp đổ trong năm này. Tháng 7 năm đó, chính quyền ra lệnh
tất cả mọi công dân Nhật Bản phải tôn thờ một đạo bùa chú của
Thần Đạo để tỏ lòng trung thành với Thiên Hoàng. Để bày tỏ đức
tin tôn giáo của mình, Makiguchi từ chối, không những thế ông
còn cấm tất cả hội viên của Soka Kyoiku Gakkai tuân theo lệnh
này. Makiguchi lập tức bị bắt giữ và Josei Toda, với một đức tin
vững mạnh cũng đã chấp nhận từ bỏ tất cả tài sản, danh vọng để
đứng cạnh và chia xẻ số phận cùng với Makiguchi. Hai ngày sau,
Toda cùng hai mươi nhân vật lãnh đạo khác của phong trào Soka
Kyoiku Gakkai vào tù.
Ra khỏi tù với một thân thể đau ốm bệnh hoạn,
không một đồng xu dính túi, trong bối cảnh của một nước Nhật
hoàn toàn đổ nát vì chiến tranh, tuy nhiên Toda đã không một
chút nãn chí, vội vàng bắt tay ngay vào việc tái tổ chức, xây
dựng lại phong trào. Việc đầu tiên là ông loại bỏ chữ Kyoiku –có
nghĩa là giáo dục- trong danh xưng cũ, biến thành Soka Gakkai,
một tổ chức thuần túy tôn giáo. Với sự hoạt động năng nổ của
ông và người kế vị, vị chủ tịch đương nhiệm Daisaku Ikeda, phong
trào Soka Gakkai với số lượng hội viên lúc ban đầu chưa
đếm đủ trên đầu ngón tay, nhưng chỉ trong vòng ba thập niên sau
đã thu hút một khối lượng quần chúng đông đảo lên tới mười hai
triệu hội viên tại Nhật Bản, và trên 400,000 hội viên ở khắp nơi
trên thế giới trong đó tại Mỹ có khoảng 200,000 người. Điều có ý
nghĩa hơn cả là phong trào Soka Gakkai đã đạt đến một thành tựu
trên lãnh vực tinh thần song hành với sự thành công của dân Nhật
về mặt vật chất trong lãnh vực kinh tế.
Và rồi người ta không thể không ngạc nhiên
nêu lên câu hỏi: Cái gì đã làm cho một tổ chức cư sĩ Phật giáo
chỉ mới được hình thành từ sau Đệ Nhị Thế Chiến đã đạt đến một
thành công nhanh chóng như thế? Thiết tưởng ta có câu trả lời
không mấy khó khăn. Nguyên nhân căn bản vẫn là đức tin. Đức tin
đã làm cho tập thể và những nhà lãnh đạo phong trào trong thời
đại này gắn bó lại cùng nhau hướng về vị sáng lập Nhật Liên
Tông, tuy đã qua đời hơn bảy thế kỷ trước nhưng tư tưởng và cuộc
đời của ông vẫn là nguồn cảm hứng bất tận. Chính đức tin đã làm
cho những thành viên của phong trào Soka Gakkai có đủ can
đảm để chịu đựng và vượt qua sự bách hại tôn giáo đồng thời vẫn
mở rộng lòng từ hướng đến tha nhân, từ đó khai mở tâm hồn và
trái tim họ quay về với Chánh Pháp. Thế nên khi cơn bách hại tôn
giáo chấm dứt với sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ độc tài quân
phiệt tại Nhật Bản vào tháng Tám năm 1945, Soka Gakkai đã
có sẵn một miếng đất thuận tiện để gieo trồng niềm tin tôn giáo.
Hoàn cảnh của Nhật Bản vào năm 1945 cũng gần
giống như hoàn cảnh của Đế Quốc La Mã vào năm 311 khi chính
quyền La Mã từ bỏ chính sách bách hại nhắm vào người người Cơ
Đốc giáo. Trong cả hai trường hợp, xã hội đều bày ra một khoảng
trống tâm linh và sự suy sụp trong đời sống vật chất. Đế quốc La
Mã lúc đó đã bị tàn phá nặng nề bởi những cuộc xâm lăng, cùng
một lúc các giá trị tôn giáo cũ hầu như không còn đủ hấp lực thu
hút trái tim lẫn tâm hồn của con người đương thời. (3) Nhật Bản
cũng thế, Thần Đạo trở thành quốc giáo –cổ võ và cấu kết quyền
lực với thế lực quân phiệt gây hấn- cuối cùng đã không còn ai
tin tưởng nữa. Chủ nghĩa quân phiệt, sau những thắng lợi quân sự
trong suốt nửa thế kỷ đã cáo chung bằng hai trái bom nguyên tử
rơi xuống Hiroshima và Nagasaki. Giấc mộng Đại Đông Á cuối cùng
đã tan thành mây khói khi Nhật Hoàng chính thức tuyên bố đầu
hàng Đồng Minh vô điều kiện vào ngày 15 tháng Tám năm 1945. Dân
Nhật thoát khỏi cơn ác mộng chiến tranh nhưng rồi rơi vào cảnh
nghèo đói, khoảng mười lăm triệu người đã lâm vào cảnh màn trời
chiếu đất, không có lấy một mái nhà để trú thân. Tuy nhiên điều
quan trọng hơn cả là sự mất mát, thiếu vắng niềm tin. Từ lâu
dân Nhật đã được bộ máy tuyên truyền của chính quyền quân sự
nhồi nhét vào đầu cho rằng mình thuộc về một giống dân siêu
đẳng, có sứ mệnh chinh phục thế giới; nhưng bây giờ thì thực tế
ngược lại, lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, quốc gia của họ
đã bị chiếm đóng bởi một lực lượng quân sự ngoại quốc. Đây có
thể là một yếu tố góp phần tạo nên sự thành công của Soka
Gakkai trong kỷ nguyên hậu chiến. Giữa cơn tuyệt vọng, thui
chột niềm tin, và tan vỡ ảo tưởng, cái cộng đồng nhỏ bé này –Soka
Gakkai- bắt tay ngay vào việc xây dựng lại niềm tin, khẳng
định rõ mục tiêu của mình và tin tưởng rằng mình có thể đi đến
đích. Đó chính là điều mà không làm ai ngạc nhiên chỉ trong vòng
ba thập niên sau, Soka Gakkai đã đạt đến vị trí hiện nay.
Sự phát khởi của phong trào Soka Gakkai
trong thời hậu chiến ngay tự khởi thủy không hẵn hoàn toàn là
mối quan tâm riêng dành cho Nhật Bản. Soka Gakkai là một
phong trào mang tầm vóc quốc tế. Đây là một tổ chức Phật giáo,
và Phật giáo là một tổ chức truyền giáo đầu tiên trên thế giới
đã gởi thông điệp của mình đến toàn thể nhân loại. Ngài Nhật
Liên, cũng như những tín đồ của Nhật Liên Tông hiện nay yêu đất
nước Nhật Bản, dĩ nhiên, nhưng chân trời và mối quan tâm của họ
không hề hạn hẹp lại trong phạm vi bờ biển Nhật Bản. Ngài Nhật
Liên tin tưởng vững chắc rằng Phật giáo là một đại phương tiện
để cứu độ chúng sanh ở khắp mọi nơi, mọi thời đại và Soka
Gakkai như thế, đang gánh vác trọng trách mà ngài Nhật Liên
đề xướng trước đây: vận động, thúc đẩy cho một cuộc cách mạng
tâm linh trong mỗi con người. Đây chính là thông điệp của
Phật giáo thời đại trong đó có Phật Giáo Việt Nam. Thực hiện
trọn vẹn tinh thần của thông điệp này cũng có nghĩa là không
ngừng tưới tẩm cho những cây Vô Ưu nở những đoá hoa mới trong
lòng mỗi người Phật tử Việt Nam và cho tất cả mọi chúng sanh
trên trái đất này. Lịch sử của Phật Giáo là không ngừng đi tới,
là con đường đưa nhân loại về chân trời tự do và giác ngộ.
Tâm
Hà
CHÚ THÍCH:
1. Shingyo Hikkei. A Handbook for Members of The
Nichiren Order. Pp. 65-66.
2. Shingyo Hikkei. A Handbook for Members of The
Nichiren Order. P. 68.
3. Daisaku Ikeda. The Human Revolution. Foreword
xi. John Weatherhill, Inc. 1976.
Trở về Trang Chính
|