|
Những
hạt sương ban mai như biểu trưng cho sự trong trắng, thanh
khiết, mong manh. Tiếc thay sự tồn tại của hạt sương thật ngắn
gũi.
Nhớ
thời còn cắp sách đến trường, bước chân chập chờn trên những con
đường đầy cây lá, mà không thể nhìn rõ những gì phía trước đoạn
đường chúng tôi đang cất bước, cho dù với khoảng cách chỉ vài
tầm tay với. Thuở đó xứ Huế sương phủ dày đặc, trắng xoá cả đất
trời, không thấy cả chiếc bóng chính mình. Trong các con đường
đó, có đường phượng bay (đường Đoàn Thị Điểm) đã gợi hứng cảm
cho nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết ca khúc “Mưa Hồng”:
Này
em đã khóc chiều mưa đỉnh cao
Còn
gì nữa đâu sương mù đã lâu
Em
đi về cầu mưa ướt áo
Đường phượng bay mù không lối vào
Hàng
cây lá xanh gần với nhau.
Cho đến
hôm này, trên những con đường quanh co trong nội thành, những
cành cây xanh vươn dài ra đan nhau, như những người bạn đang
choàng vai đồng hành giữa màn sương mịt mù giăng kín. Bây giờ
tôi vẫn rất thích bước vào cái thế giới mù mịt và hư ảo đó, bởi
với tôi, cái thế giới thực quá nhàm chán và phiền muộn.
Sương
xứ Huế thường xuất hiện vào cuối mùa thu và mùa đông, đặc biệt
là những ngày đang lạnh, chợt có ánh mặt trời xuất hiện. Buổi
sáng sớm, hễ nhìn thấy sương mù thì hôm đó trời sẽ có nắng và
tuỳ thuộc vào độ dày đặc của màn sương để biết được độ mạnh của
ánh mặt trời. Sương càng mịt mù thì nắng càng to. Mặc dù đang
mùa mưa lạnh, nhưng hôm nào thấy sương mù xuất hiện thì những
người bán hàng rong, những người kiếm gạo hàng ngày rất vui; vì
các mệ, các o, chú và các em thơ biết rằng những ngày nắng sắp
đến và sẽ thuận lợi cho họ trong việc đi lại để kiếm sống.
Có thể
nói Huế là một thành phố đặc biệt về mặt văn hóa, không gian và
địa lý, dòng sông Hương thơ mộng chia thành phố thành hai bờ nam
bắc, tạo thành một khoảng trống trải dài dọc theo giữa hai bờ.
Phía nam là hệ thống hành chính và các công trình hiện đại, còn
phía bắc là kinh thành, hệ thống các ao hồ, sông đào được giữ
khá nguyên vẹn. Những dãy phố lúp xúp, những hàng cây lớn bé bủa
vây quanh phố thị đã tạo nên những điểm nhấn trong một bức tranh
trang nhã. Những yếu tố kể trên đã góp phần cho sương mù xuất
hiện và tồn tại lâu hơn ở Cố đô khi có sự chênh lệch nhiệt độ rõ
rệt giữa mặt nước các dòng sông, ao hồ và lớp không khí ẩm lơ
lửng phía trên các sông, hồ.
Buổi
sáng thật sớm, thức dậy cùng tiếng chuông chùa, tiếng gà gáy,
tiếng chèo đánh nhịp trên những chiếc thuyền lá tre của ngư dân
để xua cá vào lưới,… hình ảnh cả kinh thành chìm trong màn sương
trắng trông như một thiếu phụ ngái ngủ, trên toàn thân được phủ
một tấm lụa mỏng mượt mà. Khi những tia nắng đầu tiên như một
ánh nhìn bị mê hoặc khiến những mảng sương tan dần, tia nắng
vàng như những ngón tay gầy đang chầm chậm kéo nhẹ tấm khăn lụa,
để lộ dần những vùng trắng hồng gợi cảm.
Nhớ một thời xa xưa, lang thang cùng bạn bè
cho đến gần sáng, vào những đêm trăng, từ bờ nam ngang qua cầu
trường tiền sẽ nhìn thấy trăng chênh chếch giữa màn sương mờ ảo
phía tây bắc kinh thành. Lúc này, màu trăng vàng nhợt nhạt như
người thiếu phụ đang bạo bệnh mà vẫn cố hiến dâng nét đẹp héo
hắt cho trần gian. Trong tâm thức tôi chợt hiện lên những câu
thơ trong bài “Phong kiều dạ bạc” của Trương Kế. Hôm đó,
tôi cảm tác bài thơ:
Triệu triệu hạt sương trăng
Dệt
khung trời ảo mộng
Đêm
kinh thành hoang vắng
Tiếng quạ buồn mênh mông
Hương giang trắng tóc mẹ
Oằn
vai gánh hai bờ
Mắt
thuyền nhòe ánh lửa
Chuông nguyện vàng cơn mơ.
Tiếc rằng chưa có bài thơ nào tả cảnh, tả
tình ở xứ Huế về ánh trăng tờ mờ trong màn sương buổi sớm, về
tiếng quạ kêu, tiếng chuông chùa Thiên Mụ lơ lửng giữa kinh
thành và ánh đèn hắt lên từ những chiếc thuyền của ngư dân đang
bủa cá vào lúc ba bốn giờ sáng một cách tuyệt hảo như bài “Phong
kiều dạ bạc”. Thôi đành mượn mấy câu của thi nhân Trương Kế
và xin đổi địa danh Cô Tô là Phú Xuân và Hàn Sơn là Thiên Mụ để
tả cảnh, tả tình một buổi sớm mù sương ở kinh thành Huế:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hoả đối sầu miên
Cô
Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ
bán chung thanh đáo khách thuyền
Khi
tiếng đại hồng chung đầu tiên phát ra từ khuông viên chùa Thiên
Mụ, lan tỏa theo khoảng trống giữa dòng sông, như để thức tỉnh
và phá tan sự u minh đang ám nặng vào tâm trí của con người, âm
thanh vang ra từ đại hồng chung tiếp nối nhau nhịp nhàng cho đến
tiếng chuông thứ 108. Lúc này màn sương trắng mờ vẫn chưa tan
trên bầu trời Cố đô. Còn nhớ một đêm cuối năm, mình tôi lang
thang quanh thành phố, phố đã vắng hoe chỉ còn những người canh
giữ chợ hoa ở các công viên. Từ Phu Văn Lâu, dưới những ánh đèn
đường vàng võ, hắt hiu tôi chợt phát hiện cuộc hành trình tuyệt
vời của vô vàn hạt sương hành quân qua cầu Phú Xuân, vượt sông,
lúc này trong tâm trí tôi gợi lên hình ảnh những đợt nam tiến
trong lịch sử nước Việt. Mầm móng nam tiến ở nước ta đã có từ
thời xa xưa, đặc biệt sang triều đại nhà Lê, do sự phân tranh
của hai chúa Trịnh - Nguyễn mà cuộc nam tiến của vị chúa Nguyễn
đã làm nên sứ mệnh lịch sử, để cuối cùng dải đất phương nam đã
có trong bản đồ nước Việt Nam, rồi những cuộc nam tiến tiếp nối
sau này đã làm cho màu sương thành màu huyết dụ.
Xứ Huế
vào những ngày mù sương, khi những tia nắng mặt trời bắt đầu
xuất hiện, mọi vật hiện rõ dần giữa không gian. Lúc này, trên
dòng Hương giang mờ ảo, trắng đục như một dòng sữa chảy dài ra
vô tận, bất chợt một chiếc thuyền nan sẩm màu ló dạng tạo nên
bức thuỷ mặc trữ tình. Rồi hình ảnh một dãy núi xa xăm dần lộ ra
giữa nền trời vòi vọi tạo nên cảnh sơn thủy hữu tình. Dọc theo
hai bờ sông Hương ống kính của các nghệ sỹ nhiếp ảnh bấm liên
tục. Sương mù không chỉ xuất hiện quanh quất ở thành phố Huế, mà
còn có ở những vùng ngoại ô như đồi Thiên An, chùa Thiên Mụ, Vỹ
Dạ, Thuỷ Thanh, tạo ra những bức tranh kỳ ảo của xứ Huế. Khi
chiều xuống, một màn sương mỏng manh lay lất trong không gian,
gây nên ảo giác về một nơi chốn mơ hồ của đời người. Tấm màn như
được gắn kết vô vàn hạt cườm nước li ti thay đổi sắc độ theo
thời gian, từ màu trắng mờ sang phớt hồng, rồi vàng mơ, tím nhạt
và sau cùng chìm vào đêm tối.
Sự hình
thành sương mù là một quy luật của tự nhiên, đã góp phần tăng
thêm nét cổ kính, lãng mạn và huyền ảo cho một vùng đất văn hóa,
có đầy đủ phẩm cách của một nghệ sỹ.
Huế, 2007
Trở về Trang Chính
|