|
Nhìn con nước trôi lạnh lùng qua mọi ngõ
ngách, màu nước buồn gợi lên trong ký ức tôi hình ảnh con hẻm
dẫn vào xóm nhỏ ngoằn nghèo cạnh dòng sông Hương thơ mộng. Những
mái nhà lúp xúp, căn gác gỗ, những khuôn mặt ngơ ngác, xác xơ.
Xóm nhỏ vào những ngày hạ, cơ hồ gió từ sông lùa vào, ba tôi gọi
đó là gió nồm, gió nồm mang hơi nước của sông tưới mát cho giấc
ngủ tuổi thơ, ngọn gió nồm đã tung đôi cánh ước mơ của những đứa
trẻ xóm tôi. Hàng năm vào khoảng cuối mùa thu và đầu mùa đông,
xóm nhỏ biến thành một thế giới tách biệt với phố, tha hồ mà đón
lũ lụt, mỗi năm chừng mười trận lụt lớn nhỏ. Dù chỉ cách phố vài
ba cây số nhưng do bị lũ lụt cô lập, xóm nhỏ đã biến thành một
ốc đảo. Mùa lụt, những ngư dân nép vào xóm để tránh gió và dòng
nước chảy xiết, những năm của thập niên tám mươi, những người
ngư dân còn chở củi, cá, tôm để bán cho người dân trên đất liền,
hoặc đổi lấy gạo trong những ngày lụt bão. Dạo này, đời sống văn
minh nhập cư ồ ạt đã khiến không ít người mất nghề truyền thống
của cha ông để lại. Nhắc lại những trận lụt đã để lại dấu ấn
trong người dân Cố đô và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác: như bão năm Thìn, tức vào năm 1904, nghe truyền lại rằng,
cơn bão năm đó đã làm gãy cột cờ ở Đại nội, gãy cả cầu Trường
Tiền ( hồi đó vật liệu để làm cột cờ, cầu Trường Tiền có thể là
bằng gỗ ), rồi lụt năm 1953 cũng rất lớn để lại dư âm đến ngày
nay, trận lụt năm 1975 dìm xứ Huế trong biển nước, rồi bão lụt
năm 1985 đã biến Huế thành một bãi chiến trường và trận lụt thế
kỷ năm 1999 đã gây ra bao tang thương cho người dân xứ Huế. Học
sinh thời nào cũng vậy, mỗi lần nghe lụt là rất mừng, vì được
nghĩ học và còn thú vui đi lội lụt, trong những lúc vui chơi như
vậy đã có nhiều điều thương tâm xảy ra. Với lũ trẻ xóm bờ sông
thì ê chề khi bị ngập lụt, vì không đi đâu được cả, phải ngồi co
ro trong những căn gác nhỏ, nhìn mưa mịt mù. Còn nhớ trận bão
năm 1985, hôm đó bão đến ban đêm, tiếng gió rít, tiếng mái tôn
bị gió giựt rầm rầm. Điện cúp, cả nhà hơn 10 người, mỗi người
ngồi một góc trên căn gác gỗ dưới ánh đèn dầu hắt hiu. Qua ánh
sáng mờ mờ, ánh mắt mọi người đều ánh lên một nỗi lo âu. Vì nước
lụt chỉ cách căn gác gỗ hơn nửa mét, còn mái nhà như chực để bay
khỏi bốn bức tường, ngoài trời thì mưa gió thét gào. Hôm đó, có
người bạn anh rễ tôi bất đắc dĩ bị kẹt lụt nên ở lại. May nhờ
anh bạn đó, mà trong đêm mưa gió tôi và anh ta đã đưa những đồ
dùng như: lò đất nấu củi rất nặng, khung giường sắt, bàn ghế,…
để dằn mái nhà. Rồi vào trong nhà mỗi người một góc để rị mái
nhà xuống. Gió từng cơn giật một phần mái nhà bay lên rồi rơi
xuống ầm ầm. Nỗi khiếp sợ hiện rõ trên gương mặt mọi người. Tôi
thắp ba cây hương ở bàn thờ Phật để mọi người lấy lại tinh thần,
lúc này đức tinh rất cần thiết. Mọi người hướng ánh mắt lên bàn
thờ Phật Bà, ngoài trời gió vẫn lồng lộn, mưa thét gào và từng
đợt sóng vỗ vào những cánh cửa tạo ra những âm thanh kinh hoàng.
Chừng 3 giờ sáng, gió lặng. Mọi người mệt lã vì sợ hãi và mất
ngủ.
Khi ánh sáng ban ngày soi tỏ mọi vật, tôi mở
cửa căn gác và trèo lên trên mái nhà để nhìn mọi vật. Cảnh vật
của một buổi sáng điêu tàn, hầu như mọi nhà quanh xóm đều bay
mái, nhà tôi thật may mắn, nhưng nhìn trên mái nhà chỉ toàn là
đồ dùng trong nhà, nào bàn ghế, lò đất, khung giường sắt và cả
những cái thùng đựng đầy nước. Cả xóm không có người nào bị
thương tích, nhưng theo thống kê sơ bộ cả tỉnh có hơn 500 người
thiệt mạng.
Cả thành phố như vừa trải qua cuộc đại chiến,
những vết chém trên thân thể cây cối, mọi thứ ngổn ngang, giây
điện, điện thoại giăng khắp đường. Sau cơn bão mấy tháng thì có
một cuộc đổi tiền để lại bao thiệt hại cho người dân. Mọi thứ
rồi sẽ qua, dân ta chịu khổ nhiều rồi, khổ thêm cũng không sao
cả! Từ khi xuất hiện cơn bão năm 1985 thì trong ngôn ngữ xả giao
của người dân Huế, có thêm cụm từ “cấp tám”, bão cấp tám, ăn cấp
tám, chơi cấp tám,…
Sau cơn bão 1985, tiếp tục là những trận lụt
hàng năm, nhưng trận lụt lịch sử năm 1999 đã để lại nỗi kinh
hoàng trong tâm thức người dân Cố đô. Một đêm mùa đông, tôi lang
thang khuya nên ở lại nhà người bạn trong thành nội, sáng sớm
hai đứa thức dậy uống cà phê, trời không mưa, không gió, cảnh
vật thật yên bình. Đài phát thanh vẫn đọc bản tin như mọi khi,
dù biết rằng không ai chú ý lắm. Không có thông tin nào về dự
báo thời tiết. Các em vẫn đi đến trường, mọi người vẫn đến công
sở. Từng giọt cà phê rơi trong tiết nhịp điềm tĩnh, tiếng nhạc
uể oải phục vụ cho hai người khách. Ly cà phê chưa uống hết thì
nước đã xuất hiện ngoài sân, rồi chỉ mười lắm phút sau là tràn
vào sân, rồi dâng lên hiên nhà trong chốc lát. Tôi hoảng quá,
gói mọi thứ lại trong chiếc áo mưa, chỉ một cái quần ngắn, cột
áo mưa qua trước cổ và bắt đầu rời quán cà phê, ra đường Đinh
Tiên Hoàng thì phải bơi rồi, nước ngoài cửa Thượng Tứ ùa vô rất
mạnh, không tài nào ra được. Tôi nhớ nhà người bạn tên Lép ở
trên thượng thành, bơi đến và được đón tiếp nồng nhiệt. Việc đầu
tiên là mượn điện thoại cố định để gọi về nhà, ba tôi dặn không
được đi đâu hết, cả thành phố ngập nước rồi, ở yên đó. Lúc này
nước đã dâng lên rất cao, lâu lâu tôi liên lạc về nhà hỏi tình
hình, cho đến chiều toàn bộ thông tin liên lạc bị cắt đứt, đứng
ngồi không yên, nửa đêm, cứ cách 10, 15 phút tôi cùng Lép đi ra
ngoài, hai đứa đem theo máy lửa đi ra đường để xem nước, sờ tay
xuống con hẽm lên thượng thành, thấy khô là mừng, có lần hai đứa
cùng nhìn nhau sau khi sờ tay xuống mặt đường mà chạm vào nước,
Lép nói “chết hết rồi”, tôi bước xuống vài bước nữa, bật lửa lập
loè trong mưa, nước đã lên nữa con dốc rồi, tôi lo quá chạy vào
nhà Lép nói không ra tiếng, cổ họng nghẹn đắng, tôi niệm Phật
trong thâm tâm. Như một phản xạ, lúc nào cũng vậy, hễ lo ấu,
thấy cảnh thảm thương, nghe tin dữ là tự nhiên niệm Phật, có
những lúc vui tột cùng hay quá sợ hãi tôi cũng niệm Phật thay vì
chửi tục. Nghe hai đứa xì xào, ba của Lép thức dậy, ông đi ra
ngoài xem và nói “nước mưa chảy không kịp, làm chi mà nước lên
tới đây”. Hai đứa thở phào nhẹ nhõm, nhưng tôi vẫn cứ lo. Sáng
thật sớm, tôi đứng trên thượng thành, nhìn màu nước đục buồn
lòng bồn chồn không biết gia đình như thế nào, trong đầu tôi
hiện ra bao cảnh tượng, tôi muốn nhảy xuống bơi về nhà xem sao,
nhưng Lép và ba của nó can ngăn. Sau đó, hai đứa đi dọc trên bờ
thành để tìm thuê đò. Đến cửa Chánh tây, hai đứa mua một ít
bánh, mì tôm, thịt hộp thuê một chiếc ghe chở đi, ghe ghé nhà
người bạn gái của Lép, người yêu của tôi cùng trên đường gửi ít
bánh và mì tôm, rồi người chèo ghe đưa chúng tôi về Chi Lăng,
nước vẫn ngập cả đường Chi Lăng, tôi gặp người em trai, hỏi thăm
tình hình gia đình, gửi thức ăn cho gia đình, tất cả mọi người
trong xóm tôi phải di tản lên trường Mai Khôi cũ. Hôm sau, nước
rút, mọi người vẫn chưa hoàng hồn, tôi đưa hai đứa cháu tôi lên
vùng cao, cả nhà tôi mặt ai cũng xác xơ như hồi chạy giặc năm
1975.
Theo thống kê của tỉnh nhà, thì lần này tổn
thất rất nặng nề, số người chết và mất tích tăng từng ngày, hệ
thống giao thông, y tế, giáo dục hư hỏng nặng. Theo thông tin
trên báo thì ở trại tâm thần Kim Long những bệnh nhân đã bị chìm
ngập trong nước. Người dân ở một phường cho tin rằng, nhà của
một vị lãnh đạo tỉnh đã không mở cửa khi có người đến xin tá túc
trốn lụt, sau này nghe đâu người xấu số đó bị cuốn trôi theo
dòng nước.
Một tuần sau, hậu quả của lụt vẫn còn, thỉnh
thoảng dọc trên những con đường, người ta vẫn để vài thi thể đợi
thân nhân, những người không có thân nhân thì nhà chùa làm đám.
Nghe đâu, trong những người xấu số đó có ông bạn già tôi tên
Trần Văn Tập có bút danh Hoa Tưởng Dung, Vương Thánh Tử đã bị
ngập nước khi ở trong trại tâm thần, nguyên nhân ông vào trại là
do ông không có nơi cư ngụ và theo lời ông kể lại, khi bước vào
trại thì một cán bộ hỏi ông thích ở đâu? Một dãy phòng là của
những người tâm thần, một dãy khác là của những người nghiện
ngập. Ông phân vân một hồi và chọn dãy tâm thần. Hình như thi
thể ông được nhà chùa làm đám. Thông tin không rõ có chính xác
không, vì chỉ nghe mọi người nói lại, nhưng dạo này trên các nẻo
đường ở Huế, không thấy ông xuất hiện trên chiếc xe đạp móc rất
nhiều bao ni lông, bên trong mỗi bao ni lông là những tác phẩm
của ông. Hoa Tưởng Dung là bút danh hồi trước 1975, ông dịch một
số truyện ngắn của Pháp, theo một tờ báo của Úc thì ông là một
người rất giỏi về môn hình hoạ, làm nhanh hơn cả thầy giáo, sau
này ông lang thang làm rất nhiều thơ và thi hoá một số kinh
sách.
Ở Huế, ngoài hai mùa mưa, nắng còn có thêm
mùa bão lụt xuất hiện chủ yếu trong tháng 9, tháng 10 âm lịch,
nhưng đã làm cho bao nhiêu người dân cơ khổ. Ở nội đô nước đã
hoành hành khiến bao gia đình điêu đứng, vậy người dân sống ở
làng xã vùng trũng ven sông, ven biển sẽ tan cửa nát nhà. Không
biết xứ Huế có nợ nần chi với trời đất không, mà sao lại có câu
“trời hành cơn lụt mỗi năm”. Lụt lội đến liên tục khiến người
dân thấy được quy luật, cứ hết ngày 23 tháng 10 âm lịch thì xem
như chấm dứt mùa lụt, và trong dân gian có câu “ông tha mà bà
chẳng tha / bà cho cái lụt hai ba tháng mười”. Năm nay, thật kỳ
lạ, chỉ trong tháng 9 lại có 4 trận lụt lớn liên tiếp, hễ mưa là
dòng sông Hương đang trong xanh bỗng đục ngầu và cả thành phố
như ngập trong màu nước hiu quạnh. Đó là lời cảnh báo cho những
nhà quản lý, nhà khoa học về hiện tượng biến đổi môi trường,
tình trạng chặt phá núi rừng và thực hiện những công trình không
thuận theo trời đất.
Huế, 11/2007
Trở về Trang Chính
|