|
Muôn dặm không mây là một quyển sách dịch của nhà
xuất bản tổng hợp Saigon. Tác giả là một phụ nữ trẻ Trung quốc,
lớn lên trong thời kỳ cách mạng văn hóa , tốt nghiệp tại đại học
Bắc-kinh và sau đó du học tại đại học Oxford Anh quốc và làm
việc cho đài truyền hình Anh quốc.Có lẽ nhờ tiếp xúc với môi
trường du học nên ý tưởng của bà phóng khoáng thích hợp với
những người Á châu đã và đang sinh sống tại ngoại quốc.
Sách này có thể tóm tắt trong 4 chữ “ Theo gót
Huyền-Trang” vị sư đời Đường qua Ấn-độ thỉnh kinh. Khi qua Anh,
bà được một sinh viên Ấn-độ cùng lớp bảo, sư Huyền-Trang là một
vĩ nhân và dân chúng Ấn-độ hết sức khâm phục và biết ơn, vì đã
giúp họ vén lên bức màn đen che phủ lịch sử Ấn-độ và tìm được
những di tích cổ xưa đúng như mô tả trong sách “Đại Đường Tây
vực ký” của sư Huyền-Trang. Mặc dầu tác giả biết truyện Tây-du
ký của Ngô-Thừa-Ân và cứ tưởng Huyền-Trang là một nhà sư nhu
nhược không quyết đoán, mọi việc đều do Tôn-Ngộ-Không giải
quyết, nên bà hết sức ngỡ-ngàng và xấu hổ vì mang danh là người
Trung quốc mà không biết rõ vĩ nhân của đất nước. Do đó bà đã
vào thư viện đại học Oxford tìm đọc tất cả các sách liên quan
đến sư Huyền-Trang và cuộc thỉnh kinh dài 17 năm vô tiền khoáng
hậu này. Sau đó, bà đã thực hiện một cuộc du lịch bằng tàu hỏa
và xe hơi đến các nơi sư Huyền-Trang đã đi qua.
Sách kể xen lẫn giữa cảnh vật đời nhà Đường trong du
ký của sư Huyền-Trang và cảnh thực hiện tại với những mô tả, suy
nghĩ của tác giả. Cuộc du hành thực hiện năm 1999 tức là tương
đối còn mới, nên bà có cho biết không vào Afghanistan được do
chính sách khép kín của chính phủ Taliban thời bấy giờ. Tên các
địa danh gồm tên cũ thời nhà Đường,tên hiện tại và tên tiếng Anh
nên người đọc dễ định hướng hơn so với các sách khác về “Con
đường tơ lụa”.
Cuộc lữ hành bắt đầu từ thành phố Tây-an tức kinh đô
Trường-an thời nhà Đường, đến Turpan là ốc đảo lớn nhất tại
Tân-cương. Nơi đây,thời Đường tăng, có 2 thành phố lớn là
Lương-châu và Qua-châu, Qua châu hiện nay đã bị sa mạc hóa.
Turpan có nghĩa là vùng đất thấp và còn có tên là “Hoả châu” vì
gần sa mạc Taklimakan và có núi lửa. Chúng ta nhớ trong Tây du
ký Tôn ngộ không 3 lần mượn quạt ba tiêu để đối phó với gió lửa.
Tiếp theo là Kucha tên từ đời Đường là Qui-Tư với
thành phố Urumqi,những chuyến du lịch “Con đường tơ lụa đều qua
thành phố này. Điểm đặc biệt đây cũng là quê hương của
Cưu-ma-la-thập, người đầu tiên dịch kinh chữ Phạn ra chữ Hán.
Phụ nữ Qui-tư rất xinh đẹp, và phụ nữ Hán đời Đường bắt chước
cách ăn mặc của phụ nữ Qui-tư. Rất tiếc là tất cả những đồ cổ
vùng này đã bị người Đức lấy hết.
Tiếp theo nữa, ra khỏi Tân-cương là một số nước phía
nam Nga trước thuộc Liên bang sô viết như Kirgistan với ngọn
Thiên sơn là vùng của người Tây Đột quyết. Thành phố Peshawar,
kinh đô nước Kiện-đà-la ngày trước. Dầu không vào được
Afghanistan, tác giả cũng đề cập đến tượng Phật cao nhất thế
giới ở Bamiyan, đã bị quân Taliban dùng súng B-40 bắn không sập
nên dùng mìn phá đổ. Ngày xưa, có 2 người Afghanistan được đức
Phật truyền đạo và họ đã phổ biến đạo Phật tại Afghanistan, nên
đã có thời 17 vị tăng nước này từ Kabul đến Trung quốc phiên
dịch kinh điển. Nhưng cũng chính người Afghanistan sau đó tràn
xuống Ấn-độ xoá tan các vết tích Phật giáo tại Ấn-độ. Tác giả
cũng mô tả tượng Phật tại Peshawar tóc xoăn như người Âu châu
do người Hy-lạp tạc 500 năm sau khi Phật ra đời. Chúng ta nhớ
trong sử Âu châu Alexandre đại đế đã đem quân chinh phục vùng
Trung Đông nên có những văn hóa Hy lạp vùng này.Nhưng nội thương
nhân Âu châu qua lại con đường tơ lụa cũng có thể mang Phật giáo
về bên đó gây hứng khởi cho các nghệ sĩ tạc tượng tại Âu châu.
Khác với những sách “ Con đường tơ lụa” sách này còn
mô tả thêm những di tích Phật ở Ấn-độ như đại học Nalanda,nơi sư
Huyền-trang thọ giáo Giới-Hiền Pháp sư cùng nhiều thắng tích
khác.
Khi về, bà còn ghé thăm Vu-điền và Mạc-cao Đôn-hoàng
nơi chứa rất nhiều tranh và tượng về Phật giáo cũng như những
sinh hoạt trên “Con đường tơ lụa” ngày trước. Nơi đây họ chỉ bán
vé cho du khách xem 10 thạch động, sau đó muốn xem thêm mỗi
thạch động khác phải trả với giá rất đắt.Rất nhiều tranh và
tượng trong khu vực này đã bị những nhà khảo cổ Tây phương mua
rẻ đem về nước thật là một hành động kém văn hóa. Ngoài ra, do
thiếu hiểu biết, nhân viên bảo quản dùng nước lau chùi các bức
tranh khiến tranh bị hỏng.
Khi trở lại Tây-an, bà may mắn xuống được tầng hầm
trong viện bảo tàng Tây-an,do người Nhật giúp thiết kế và xây
cất,giữ ở độ lạnh 0o C tất cả tranh quý đời Đường. Họ
dùng nút bấm để đưa tranh ra xem. Đây là nơi du khách không bao
giờ biết, chỉ giành cho những người nghiên cứu với giấy phép đặc
biệt.
Chúng tôi học được một số điều đặc biệt trong sách
này:
- sách
của thiền sư Nhất-hạnh bảo người Việt-nam từ xưa gọi Buddha là
Bụt,như vậy sát nghĩa hơn từ Phật của Trung quốc. Nhưng sách này
giải thích chữ Phật gồm chữ nhân là người phía trái, và chữ phất
có nghĩa là không (emptyness) ở phía phải. Như vậy chữ Phật mô
tả người đã đạt đến tính “không” của Phật giáo. Dịch như vậy
cũng hết sức thâm thúy.
- tại
Ấn-độ có thờ thần khỉ là Hanoman, và có thể đây là ý tưởng khiến
Ngô-Thừa-Ân tạo ra nhân vật Tôn-ngộ-không trong Tây-Du ký phò
Đường tăng đi thỉnh kinh.
- thời
Tây Hán người Trung quốc gọi Ấn-độ là Thiên-trúc ( xem truyện
Kim-Dung), đến đời Đường là “Thân độc” và tên Ấn-độ có nghĩa là
mặt trăng.
Một ý tưởng rất mới trong sách là có người hỏi tác
giả tại sao Đường tăng nhận xét quá tỉ-mỉ những quốc gia trên
đường ngài đi học đạo, những sự kiện ghi trong “Đại Đường Tây
vực ký” mang tính tình báo quân sự vì có thể nguy hiểm cho những
nước này nếu triều đình Trung quốc muốn chinh phục. Sách này do
vua Đường-Thái-Tôn yêu cầu sư Huyền-Trang viết, và dĩ nhiên ý
kiến của người cầm đầu một nước mang nhiều ý nghĩa chính trị
quân sự chứ không phải thuần tôn giáo như chúng ta nghĩ.
Một ý tưởng thứ hai là thành Trường-an kinh đô đời
nhà Đường lớn nhất thế giới thời bấy giờ. Tại sao thời đó có nền
kinh tế thịnh trị như vậy? Đó là nhờ chính sách mở rộng đón nhận
các nền văn minh khác nên giao thương với các nước ở phương Tây
trở nên tấp nập.
Phần đầu của sách, tác giả có kể lại một số cảnh
tượng trong thời cách mạng văn hóa mà người ta gọi là thời
“Thiên hạ đại loạn”. Nhà nước hô hào “Phá tứ cựu” tức là phá 4
cái cũ gồm tư tưởng cũ, văn hóa cũ, phong tục cũ và tập quán cũ.
Chùa chiền bị phá hoại rất nhiều và các nhà sư cũng vô cùng gian
khổ.
Sau đây là câu chuyện ở chùa Từ-Ân,nơi sư
Huyền-Trang tu hành và giữ các bộ kinh mang từ Tây trúc về trong
một ngôi tháp 7 tầng mà những ai đã du lịch Tây-an ở Trung quốc
đều đến viếng là tháp Đại nhạn (The big Goose) nhưng sách này
gọi là tháp Đại Ưng. Khi tác giả đến chưa đầy 10 năm trước đây
thì chùa còn đổ nát nhiều chứ không phải như ngày nay.
Vị phương trượng tháp Đại Ưng bị đuổi về nhà, phải
đẩy xe than nhỏ bán qua ngày để kiếm sống. Ban quản lý không cho
những người giữ tháp cạo tóc, khóac pháp phục,tung kinh bái sám
trong tháp và trong đại điện. Tất cả các sư đều bị ép phải hoàn
tục, thậm chí họ nhốt sư và sải trong cùng một phòng cho đến lúc
hai người chịu lấy nhau. Chư tăng phải học chính trị và học luật
hôn nhân,có lẽ để chuẩn bị hoàn tục! Khi có khách ngoại quốc đến
thăm viếng, nhà nước điều động chư tăng các chùa ở Tây-an đến
tháp Đại Ưng cho đủ người. Chư tăng chỉ được trả lời những câu
hỏi đã được chuẩn bị trước.
Sư Huyền-Trang được an táng trong một ngôi tháp nhỏ
ngoài thành Tây-an. Nhưng trong chùa Từ-Ân có 2 ngôi tháp an
táng 2 vị sư đặc biệt mà du khách không chú ý:
- sư Lãng-Chiếu ở chùa Ngoạ-Long, nguyên là bí thư Hiệp
hội Phật giáo Tây-an, là người đã hết lòng tin tưởng Cách mạng,
đích thân ra tiền tuyến cổ vũ cho chí nguyện quân Trung quốc tại
mặt trận bắc Triều-Tiên chống Mỹ, nhưng sau khi Mao chủ tịch ngụ
ý cho phép hồng vệ binh dùng vũ lực, họ đã phá nát chùa, khiến
sư Lãng-chiếu uất ức quyên sinh.
- sư Phổ-từ là nhà sư duy nhất còn lại của tháp Đại ưng.
Hồng vệ binh đã đánh đập ông tàn nhẫn vì không chịu cổi bỏ tăng
bào,họ nhốt ông trong chùa, hôm sau vào thấy ông vẫn ngồi thiền
nên chán nản bảo mặc kệ ông không còn đếm xỉa đến nữa.Sau cách
mạng văn hóa, tự viện nào không có chư tăng sẽ bị trưng dụng,
nhờ có sư Phổ-từ nên tháp Đại ưng mới còn đến ngày nay. Khi vào
thăm chùa, chúng ta thấy những dãy tu viện phía sau thật đẹp với
tranh sư Huyền-Trang trên đường đi thỉnh kinh. Tất cả những dinh
thự đó đều mới xây sau này sau khi mở cửa, không biết vì tinh
thần tôn giáo sống lại hay vì tinh thần “business” để đón du
khách!
Tuy nhiên tác giả cũng cho biết là nhiều chùa chiền
đã được dân chúng xây dựng lại sau Cách mạng văn hóa.
Sách cũng có một số lỗi mà nhà xuất bản không thấy:
-
“phóng hỏa đài” ngoài Ngọc môn quan, đúng ra là Phong hỏa đài.
- trang
361 “bạo động nha phiến năm 1960” , có lẽ năm 1860 thì đúng hơn.
- trang
363 “cách cửa” đúng ra là cánh cửa.
- ngoài
ra còn một số nhỏ lỗi chính tả khác chúng tôi quên số trang.
Tóm lại, đây là một cuốn du ký nên đọc cho những ai
muốn du lịch “ Con đường tơ lụa” hay muốn du lịch Tây-an. Những
ai muốn biết thêm về Phật giáo thì sách này cũng cung cấp một số
tư liệu đáng quý.
Lê-Minh-Nguyên
Ghi
chú:
1/ Sách
này bán ở hiệu sách Phật Trí-Tuệ đường Nguyễn-đình-Chiểu Q3 TP
HCM
2/ Muốn
biết thêm chi tiết về nhà sư Trần-Huyền-Trang có thể đọc sách “Ý
chí sắt đá” của Nguyễn-Hiến-Lê.
3/ Muốn
biết thêm về con đường tơ lụa có thể đọc sách “Con đường tơ
lụa”. Hai sách này có bán ở những hiệu sách lớn như Xuân-Thu hay
FAHASA ở TP HCM.
Trở về Trang Chính
|