Ta đã làm chi đời ta ?

VŨ HÒANG CHƯƠNG    

(05.5.1916 – 06.9.1976)


 

Lê Quang Thành

08 tháng 11 năm 2007

 Trước hết, tôi cũng xin theo như thông lệ mỗi khi nói hay về một nhân vật có tầm vóc, đặc biệt về văn học, là xin trình bày về tiểu sử của cố thi sĩ Vũ hòang Chương và các tác phẩm.  Ông sinh năm 1916, đã theo học ở Trung học Albert Sarraut Hà Nội, đậu Tú Tài Tây Triết, vào đại học Luật Hà Nội (1937). Có một thời gian ngắn làm công chức hỏa xa (1939), rồi trở lại đại học Hà Nội môn Tóan (1941), sau lại bỏ học, đi dạy tư (1942). Ra vùng kháng chiến (1945) rồi lại trở về Hà Nội, di cư vào Nam, đi dạy học các trường Trung học Sàigòn (1954)...

 

Thơ Say (1940),  Mây (1943),  kịch thơ Vân Muội (1944), Thơ Lửa (1945),  Tâm sự kẻ sang Tần (1951),  Rừng phong (1954),  Hoa đăng (1959),  Tâm tình người đẹp, (Les 28 etoiles) (1961),  Trời một phương (1962),  Lửa từ bi, Pòem choisis, Nouveaux Pòemes (1963), Ánh trăng đạo lý (1966),  Bút nở hoa đàm (1967),  cành mai trắng mộng (1968), Ta đợi em từ ba mươi năm (1970).  Lọan trung bút (tạp ghi 1970), Chúng ta mất hết chỉ còn nhau (1973);  Ta đã làm chi đời ta (hồi ký 1974)...

 

Để tả về  thi sĩ Vũ hòang Chương , tôi xin mượn lời của Đại Úy Thiết giáp Nguyễn đức Khoan - nguyên là một cựu sinh viên Văn Khoa Saigòn, đã từng làm Chủ tịch Sinh Viên Đoàn Văn Khoa niên khóa 1963- 64 – đã viết trong Hồi ký „Rừng phong“ được đăng liên tục trên BNS Quán Văn:

Hình ảnh ông Vũ Hoàng Chương in sâu trong lòng tôi hơn cả: Vị thi-sĩ giáo-sư này thân gầy mảnh-khảnh, tầm vóc trung-bình, lớp tóc mỏng trên đầu được hớt rất cao, hai con mắt màu thau. Khi ông nói, ông nhìn thẳng người trước mặt, và cặp ngươi màu thau ấy sáng lên long-lanh. Ông hay mặc bộ complet màu mỡ gà, áo sơ-mi màu kem, thắt cái cravate màu vàng nhạt. Cử-chỉ của ông khoảng-khoát, lanh lẹ, vội-vàng trong bước đi. Tôi chú ý vào ông Vũ Hoàng Chương vì hai duyên-cớ. Một là bởi bốn chữ Tú-tài Triết-học để sau tên ông trên bảng danh-sách giáo-sư của nhà trừơng. Hai là bởi ông dạy nghị-luận luân-lý thay vì bình-giảng văn-chương... (Tôi trích lời của Nguyễn đức Khoan cũng vì một lý do đặc biệt mà tôi sẽ trình bày cho quý thân hữu rõ vào cuối bài ) !

Trong khuôn khổ bài ( thuyết trình) viết, tôi cố gắng trình bày ngắn gọn, nêu lên một số những đặc điểm nổi bật về con người và thơ của cố thi sĩ Vũ hòang Chương.

 

Thơ của ông hoài cổ, giàu chất nhạc nhưng chưa hề được phổ nhạc, cho dù là thơ về tình yêu mang đầy đủ các nét vui buồn thắm thiết, lời thơ hoa mỹ, trau chuốt, óng ả, những chuyện tình tiếc nuối thiên thu, sầu cổ mộ.... Hầu hết các thi sĩ tiền chiến cùng thời với ông đều có thơ được phổ nhạc:

 

Lưu trọng Lư (Hoa rụng ven sông, Vần thơ sầu rụng),  Hồ Dzếnh (Chiều),  Huy Cận (Ngậm ngùi), Thế Lữ (Tiếng sáo thiên thai). Nhất là Nguyễn Bính, người bạn thơ thân thiết nhất của ông (Cô lái đò, thời trước, chân quê). Và đến cả những thi sĩ trong kháng chiến cùng thời với ông như Hòang Cầm (Bên kia sông Đuống, Lá diêu bông), Quang Dũng (Đôi mắt người Sơn Tây), Hữu Loan (Màu tím hoa sim)...

 

Thậm chí các thi sĩ trước thời của ông như Tản Đà (Thề non nước), Nguyễn nhược Pháp (Đi chùa Hương) . ...Ngay cả như Hồ xuân hương cũng được lấy ý thơ để sáng tác nhạc ( Đánh cờ người, Đèo Ba Dội).

 

Riêng nhạc sĩ Phạm Duy tuy đã phổ nhạc rất nhiều thơ của các thi sĩ tiền chiến, và cũng có chút mối giao tình, đồng cảnh ngộ với ông (cùng vào kháng chiến, bỏ về thành, rồi di cư vào Nam, lấy thi ca làm lẽ sống...) cũng chưa từng có một cố gắng hoặc lưu tâm nào đó để phổ nhạc thơ ông ! 

 

Vậy thì phải chăng thơ của ông tuy thật hay nhưng mà khó phổ nhạc, hay các nhạc sĩ không đủ khả năng, hoặc không có can đảm, không có gợi hứng để diễn tả ý thơ bằng những nốt nhạc ?  Đó là một câu hỏi mà đến giờ, chúng ta vẫn chưa có được câu trả lời thỏa ý !

 

Một nét đặc biệt khác là rất khó sắp xếp ông vào lọai nhà thơ theo thế hệ, khuynh hướng nào – Tây học, nhưng rất giỏi và thích làm thơ chữ Hán (như nhà thơ hiện thời Huyền Thanh Lữ Lê Hoà  định cư Đức); Thơ viết theo thể thơ mới, nhưng mang nhiều sắc nét Đông Phương nên dù ông lớn lên giữa cao trào thơ mới nhưng thơ của ông được đánh giá là tiếng thở dài của Phương Đông trầm mặc vì sử dụng hoặc dựa vào rất nhiều điển tích cũ; Nổi tiếng về thơ tình, nhưng cũng làm rất nhiều thơ về lịch sử (Bài ca Sát Đát, kể chuyện thời nhà Trần phá tan quân Mông Cổ; Bài ca Bình Bắc, kể chuyện Xuân chiến thắng của vua Quang Trung... ), thơ về các hiện tình thế sự, ưu tư với những thăng trầm của đất nước (biến cố đất nước qua phân, ngọn lửa đấu tranh của Phật giáo 1963, ...). Có thể nói ông là chứng nhân lịch sử. Trong thơ ông đều có ghi lại những biến động lịch sử suốt từ 1945 cho đến cuộc chiến tranh tương tàn giữa hai miền Nam Bắc, được chấm dứt vào năm 1975.

 

Một nét đặc biệt khác về con người và thi phẩm của Vũ Hòang Chương là có thể nói rằng, ông là thi sĩ (người duy nhất của Văn bút VN thời ấy) có tác phẩm được chọn và dịch sang ngọai ngữ - tiếng Anh, tiếng Pháp (từ 1960) rồi tiếng Đức (1966); Và đã được nhiều bạn văn thi sĩ ngọai quốc đề cử vào giải thưởng Nobel văn chương trong những năm giữa thập niên 1960.

 

Những bài thơ được ông tuyển chọn dịch sang ngọai ngữ và xuất bản thường mang thể thơ thất ngôn tứ cú, nghĩa là 4 câu 7 chữ, tổng cộng thành 28 chữ mà ông gọi là nhị thập bát tú

( Les 28 etoiles, Die 28 Sterne); Đến phần cuối, nếu còn chút thời gian, thì trong phần phụ lục tôi sẽ đưa ra một vài bài thơ thể lọai nhị thập bát tú cho quý thân hữu thưởng lãm. 

 

Sau đây là một vài thí dụ nhỏ về các điển tích, điển cố sử dụng trong thơ họ Vũ:

„...Chân đứng lại hồn trôi vào thuở trước,

Tưởng chừng nghe thánh thót lệ người xưa.

Hán Minh Phi muôn dặm đất Thuyền Vu,

Tiếc cung điện Trường An còn nức nở...“ 

  (Bạc tình – thơ Say 1940)

 

Trong những câu thơ khiến người ta liên tưởng đến thơ Bạch Cư Dị :

„...Thuyền buộc sông mưa,                                      

Ngựa dừng trăng khuyết                                          

                                        Tình nhân thế chua cay người lịch duyệt,                                                       

Niềm giang hồ tan tác lệ Giang Châu...“    

(Dâng tình – Mây 1943)

 

Nguyên tác:

(...Lệ ai chan chứa hơn người.

Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh.!) 

 (Tỳ bà hành – Bạch Cư Dị)                    

 

Hoặc trong bài Tình Liêu Trai:

„...Quê nàng xa lắm tận phương Đông,  

mãi xứ bình minh dậy lửa hồng. 

Vóc liễu y thường hoa phất phới

Trùng dương ngàn dặm nhớ mênh mông....“

  (Tình Liêu trai – Mây 1943)

                                

Nguyên tác:

(Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung,

Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng...)   ,

        (Thanh bình điệu – Bạch Cư Dị)   

 

 Một vài thí dụ về nỗi ưu tư, u hòai với những thăng trầm trong lịch sử của đất nước:

 

„...Tê rồi mạch máu giang biên,

Mười năm cốt nhục hai miền cắt ngang.

Vết thương khóet lở đá vàng,

Sông rôi, tiềm thức nghe vang mấy bờ...“ 

 (Đêm hiển linh  1963 – Đất nước qua phân)

 

„...Giờ đã điểm rồi hỡi tuổi xanh

Có nghe nét chữ réo tung hoành

Có nghe dòng mực sôi trang giấy

Nhịp bốn ngàn năm sử đấu tranh...“

 

Non nước thời chinh chiến, người người khóac chiến y ra đi gìn giữ quê hương (lấy cảm hứng từ Chinh phụ ngâm của bà Đòan thị Điểm):

„...Người đi ta cũng lên đường,

Trông ra khói lửa mà thương phong trần...

...Duyên may vừa ấm chiếu ,                               

Thôi chàng đã chinh phu hồn,                                   

Cầu Vỵ gầy tơ liễu,                                              

Roi ngựa ào gió thu,                                           

Chẳng tu đành cũng như tu,                                                        

Buổi can qua mấy chinh phu lại về…”

  (Duyên mùa lọan  1963)

 

Nguyên tác:

(…Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,

Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao

Giã nhà, đeo bức chiến bào,

Thét roi cầu Vỵ, ào ào gió thu…)    

   (Chinh phụ ngâm – Đòan thị Điểm)

 

Mậu Thân 1968, giữa ngày Tết lửa đạn ngút trời, quê hương chìm ngập một màu tang tóc:

 

“…Ma sợ cung vôi chạy vọt lên

Người thơ giữa lúc mở bầu men,

Khai xuân chưa kịp vui cùng khách

Ðạn rót trời cao đã nổ rền…” 

 (Vỡ mộng Liêu trai)

 

Vũ Hoàng Chương đã làm một loạt tám bài đường luật theo thể liên hoàn liên vận dưới đề tài: “loạn trung Huế cảm bệnh trung nhân” (trên giường bệnh, cảm thương Huế loạn lạc):

Lăng miếu gần kề lưng chó sói

Thịt xương phó mặc vuốt diều hâu

 

Cuối năm 1972, hoà hội Paris bế tắc, chiến trường miền Nam ác liệt và Mỹ dùng pháo đài bay B 52 oanh tạc Hà Nội suốt 12 ngày đêm cuối năm.Vũ Hoàng Chương gửi tâm trạng qua bài " Ðón Xuân Mười Chín - 1972"
 

“Bấm đốt từ di cư đến nay

Ðón xuân vừa vặn hết bàn tay,

Sang sông Ngựa đã hai lần hí

Vạch đất Trâu thêm một luống cày

Lửa ném tràn lan đầu gió Bắc

Vàng rung thăm thẳm đáy hồ Tây

Bút toan chạy ngược đau lòng chữ

Núi vẫn nằm ngang bạc tóc mây...”     

 

Sau khi hiệp định Paris (27.01.1973) được ký kết, chấm dứt chiến tranh Việt Nam trên giấy tờ, Vũ hòang Chương là một trong số ít những người đã tỏ lòng hòai nghi cái viễn tưởng ngày hòa bình sắp tới, đất nước thôi hết buổi qua phân. Ngay ngày Tết Quý Sửu, Vũ Hoàng Chương đã làm thơ ghi dấu lại nỗi niềm suy tư:

“…Ma là Người ... kiếp khác

Người là Trời ... đêm nay

Nghe chừng lửa đã tắt

Hai bờ Con-Sông này

ờ nhỉ ! đâu còn Vết Cắt

Sao lòng ai vẫn chưa hay ?

Nằm kia, người nín bặt

Vòng luân hồi đã ngược chiều quay

Ma thôi vất vưởng, trời thôi lưu đày…”   

 

Bài thơ Tết cuối cùng của ông năm Bính Thìn 1976, đã vẽ ra cái Tết đầu tiên ở miền Nam  Cộng sản, tòan cảnh tranh tối tranh sáng, tô đậm tâm trạng mọi người phập phòng lo âu:

Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành

Gà lợn, om sòm rối bức tranh

Rằng vách có tai, thơ có họa

Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh

Mắt gà huynh đệ bao lần quáng

Lòng lợn âm dương một tấc thành

Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn

Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh

    (Vịnh tranh gà lợn )

 

Cũng trong năm đó nhà thơ đã bị bắt, giam ở ngục Chí Hòa, bị bệnh nặng, đưa về nhà mấy hôm thì mất. Vũ hòang Chương mất ngày 6.9.1976 ( nhằm ngày 13.08 năm Bính Thìn lúc 23 giờ). Đám tang được cử hàng trong lặng lẽ, nghèo nàn, hiu hắt.

„...Bao năm vị đắng mùi cay,

Lênh đênh thân thế cầm tay nghẹn ngào,

Nước cờ thua, giận mình cao,

Khói lên cuồng túy nhạc vào hàm ca...“

  (Gặp lại cố nhân)

 

Nhân đây tôi cũng xin trình bày một nghi vấn văn chương mà cuối cùng đã dẫn đến việc Vũ hòang Chương bị bắt. Bảo là nghi vấn thôi, vì thực hư như thế nào, cho đến bây giờ người ta cũng chưa được rõ:

Số là sau 1975 khi Sài Gòn bị đổi tên thành thành phố HCM, Tố Hữu lúc bấy giờ là quan văn nghệ từ trung ương ngoài Bắc vào Nam, đã được Thanh Nghị, 1 quan văn hóa miền Nam lọai tập kết, tổ chức một cuộc họp mặt đón chào, qui tụ nhiều văn thi sĩ tiền chiến tên tuổi, nào là Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận...Thật ra mục đích chính của buổi họp này là  để "thẩm định" lại, làm cho sáng sủa, đúng đắn hai câu thơ của Tố Hữu đã thường xuyên bị dân gian rỉ tai nhau phê bình một cách xách mé châm chọc. Hai câu thơ ấy, tôi nghĩ rằng mọi người hiện diện ở đây có lẽ đều biết:

Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười.


Tất cả mọi thi nhân tiền chiến lão thành ngày hôm ấy đều theo đúng sách vở, xúm lại ca tụng tính chất, nội dung lẫn hình thức 2 câu thơ lục bát 14 chữ ấy. Nào là đơn giản, bình dị mà lại xuất thần, khẩu chiếm; Nào là cách dùng chữ tuy tầm thường, điệp ngữ, láy đi láy lại, tổng cộng 7 lần dùng chữ „thương“ nhưng chính như thế lại không sáo ngữ, mang đầy âm hưởng ca dao tình tự, ăm ắp dân tộc tính.... Rồi mọi người thi nhau trích dẫn những đọan thơ hay nhất của mình, hăm hở bình phẩm rồi tuyên bố rằng mình rõ ràng còn thua xa, không đạt được như thơ của Tố Hữu.

 

Rồi đến phiên ít nhất một thi nhân miền Nam phải lên tiếng, mọi người mới đùn đẩy nhiệm vụ cho thi sĩ Vũ hòang Chương, người cũng có mặt trong ngày hôm đó.  Với vóc dáng khiêm nhường, tính tình hiền lành, ăn nói  ôn tồn hòa nhã, sau mấy lần từ chối không được, ông đã cực chẳng đã phải đứng lên cất lời thưa cùng cử tọa và ai đã biết Vũ Hoàng Chương, ắt phải biết cái đanh thép bên trong tấm thân nhỏ bé ọp ẹp của ông. Sau đây là lời của Vũ Hoàng Chương do người có bổn phận điếu đóm đêm hôm ấy thuật lại:

 

"Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao....

Nhưng thơ không phải chỉ có thế. xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt. Tức chưa phải là hay, mà là gượng ép. Thơ hay vừa phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời...


Tố Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ VN, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để tỏ lòng  yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca, nhưng trước hết phải biết bà mẹ VN đó có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?

Chắc chắn là không có một bà mẹ VN nào, kể cả bà Tố Hữu mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Một tình tự không chân thực, dù được luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay mà chỉ là thơ khéo làm, đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thơ thợ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi cho một tuyên truyền nào đó...


Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại tình tự hư hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng, nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo, nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy! „


Và rồi vài tháng sau đó thi sĩ Vũ hòang Chương đã bị bắt vào tù. Như đã nói ở trên, nguyên do bị bắt rồi dẫn đến cái chết của thi sĩ, đến giờ vẫn còn là những giả thiết, nghi vấn đau buồn trong lòng mọi người !

 

Mười năm sau, 1986 mộ Vũ Hoàng Chương được cải táng về chôn tại nghĩa địa của chùa Giác Minh tại Gò Vấp. Suốt một đời lận đận vì nỗi không nhà, giờ đây hai con người tài hoa kia đã có một chỗ ở trang trọng, miên viễn đó là chỗ ngồi lâu bền trong văn học sử và điều an ủi lớn nhất là họ còn sống mãi trong tâm hồn những khách yêu thơ.

„Gối vải mộng công hầu,

Vàng son mờ gác xép,

Bừng tỉnh, mưa còn mau,

Chiều tàn trong ngõ hẹp!”

 

Và bây giờ, để kể cho quý (thân hữu) độc giả thấy, thơ của Vũ hòang Chương, vượt qua thời gian, không gian, đã thấm sâu vào lòng người như thế nào; Tôi, một lần nữa, xin mượn những lời kết cuộc trong hồi ký „Rừng phong“ của Nguyễn đức Khoan, người mà ngày xưa chỉ được học với thầy Vũ hòang Chương có vài tháng bậc trung học, lớp đệ tứ (lúc đó vào mùa thu năm 1954). Sau đó học Văn khoa, vào quân đội chiến đấu, trên khắp 4 vùng chiến thuật, giờ sống tha phương nơi đất khách, tuổi vào thất thập cổ lai hi, vẫn còn ưu tư, thắc mắc, hòai niệm về hai chữ Rừng phong trong thi phẩm của họ Vũ:

…Ra về, lòng tôi muốn buông hết cái muốn biết lòng người xưa. Lòng người nay, chính bản-thân người nay còn mù-tịt, nói gì đến lòng người xưa. Gần tới lối ngõ, không chủ-ý, trong đầu vừa hiện ra hai chữ “ chạnh xót”, mắt vừa thấy ngọn phong, lòng tôi chợt nhoi-nhói đau:

“Khanh của Hoàng ơi! Lửa bốn phương,

Khói lên ngùn ngụt chén tha-hương,

Nghe vang cốc rượu niềm ly-tán,

Chạnh xót nòi thơ buổi nhiễu-nhương.”

 

Tôi cho rằng bữa nay tôi đã gặp lòng Vũ Hoàng Chương khi ông viết Rừng Phong. Tôi không còn biết nói gì thêm nữa. „

Và bây giờ, lời cuối cùng dành cho cố thi sĩ Vũ hòang Chương, tôi xin mượn lời trong bài thơ điếu văn do chính ông đã viết để tiễn đưa thi hào người Ý Lionelli Fiumi vào năm 1973; Từng lời, từng ý trong bài thơ điếu này, tôi thiết tưởng cũng đã rất phù hợp với tâm trạng, nỗi niềm của thi nhân !

Thi hào đã khuất

Người thơ nằm xuống đó hiên ngang,

Như một câu thơ trắng thẳng hàng.

Đẩy mãi bàn chân tìm đất đứng,

Ngòai ba chiều cũ sắp tan hoang.

(Kính điếu thi hào Lionelli Fiumi (1894-1973))

 

Phụ lục:

 

Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu

Lênh đênh thương nhớ dạt trời Âu

Thôi rồi – tay nắm tay lần cuối

Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau

 

Trai lỡ phong vân  gái lỡ tình

Này đêm tri ngộ xót điêu linh

Niềm quê sực thức lòng quan ải

Giây phút dừng chân cuộc viễn trình

 

Tóc xõa tơ vàng nệm gối nhung

Đây chiều hương ngát lả hoa dung

Sóng đôi kề ngọn đèn hư ảo

Mơ kiếp nào xưa đã vợ chồng

 

Quán rượu liền đêm chuốc đắng cay

Buồn mưa trăng lạnh nắng hoa gầy

Nắng mưa đã trải tình nhân thế

Lưu lạc sầu chung một hướng say

 

Gặp gỡ chừnh như chuyện Liêu Trai

Ra đi chẳng hứa một ngày mai

Em ơi lửa tắt bình khô rượu

Đời vắng em rồi say với ai ?

 

Phương Âu mờ mịt lối quê nàng

Trăng nước âm thầm vạn dặm tang

Ghé bến nào đây người hải ngọai

Chiều sương mặt bể có mơ màng

 

Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không

Mà đây lòng trắng một mùa đông

Tương tư nối đuốc thâu canh đợi

Thỏang gió trà mi đọng mấy bông.

  (Đời vắng em rồi say với ai  - Thơ Mây 1943)

 

Nhị thập bát tú

 (Thơ Mới  1964 – 1967)

 

Gương treo nhật nguyệt

Sáu chục thành nghiêng đón Nữ Vương

Em theo chị…cũng gái phi thường !

Một phen bóng ngọc nhòa sông Cấm,

Nước Việt hai vầng đẹp mãi gương.

 

Làm chi cho phải ?

Bốn phương trên ngựa làm anh hào,

Trên gối mơ làm bướm được sao ?

Hỡi kẻ trên sông làm khói sóng,

Làm mây trên núi mới là cao !

 

Trời Phật hiểu chăng ?

Người giết người xong chạy tức thì

Mồi ngon chẳng gặm chẳng mang đi.

Rừng sâu cọp đói nhìn kinh ngạc…

Đảo mắt gầm lên chẳng hiểu chi !

 

Hình mất bóng còn

Quảng Đảo bom thiêu ngọc đá tàn

Bóng ai cầm súng vẫn chưa tan…

Thiếu Lâm chùa cổ, nghe trên vách

Bóng Đạt Ma ngồi, bật tiếng than.

 

Vô tình hơn bão

Phong ba vừa mới tạnh dư âm,

Vút cánh “hồng” bay, đạn réo ầm

Người cứu người, sao người nỡ hại ?

Vô tình cho đến bão còn “tâm”  !

 

Nói và viết về thơ của cố thi sĩ Vũ Hoàng Chương rất dài, thời gian không cho phép,  xin hẹn lần khác trình bày tiếp ,Trân trọng kính chào

( Bài nói chuyện trong buổi giao lưu thi ca tại München 10.2007  BBT thay đổi một vài chữ từ bài thuyết trình cho phù hợp )

 

Trở về Trang Chính