|
Trước hết, tôi cũng xin theo như thông
lệ mỗi khi nói hay về một nhân vật có tầm vóc, đặc biệt về văn
học, là xin trình bày về tiểu sử của cố thi sĩ Vũ hòang Chương
và các tác phẩm. Ông sinh năm 1916, đã theo học ở Trung học
Albert Sarraut Hà Nội, đậu Tú Tài Tây Triết, vào đại học Luật Hà
Nội (1937). Có một thời gian ngắn làm công chức hỏa xa (1939),
rồi trở lại đại học Hà Nội môn Tóan (1941), sau lại bỏ học, đi
dạy tư (1942). Ra vùng kháng chiến (1945) rồi lại trở về Hà Nội,
di cư vào Nam, đi dạy học các trường Trung học Sàigòn (1954)...
Thơ Say (1940), Mây (1943), kịch thơ
Vân Muội (1944), Thơ Lửa (1945), Tâm sự kẻ sang Tần (1951),
Rừng phong (1954), Hoa đăng (1959), Tâm tình người đẹp, (Les
28 etoiles) (1961), Trời một phương (1962), Lửa từ bi, Pòem
choisis, Nouveaux Pòemes (1963), Ánh trăng đạo lý (1966), Bút
nở hoa đàm (1967), cành mai trắng mộng (1968), Ta đợi em từ ba
mươi năm (1970). Lọan trung bút (tạp ghi 1970), Chúng ta mất
hết chỉ còn nhau (1973); Ta đã làm chi đời ta (hồi ký 1974)...
Để tả về thi sĩ Vũ hòang Chương , tôi
xin mượn lời của Đại Úy Thiết giáp Nguyễn đức Khoan - nguyên
là một cựu sinh viên Văn Khoa Saigòn, đã từng làm Chủ tịch Sinh
Viên Đoàn Văn Khoa niên khóa 1963- 64 – đã viết trong Hồi ký
„Rừng phong“ được đăng liên tục trên BNS Quán Văn:
„Hình ảnh ông Vũ Hoàng Chương in sâu trong lòng tôi hơn cả:
Vị thi-sĩ giáo-sư này thân gầy mảnh-khảnh, tầm vóc trung-bình,
lớp tóc mỏng trên đầu được hớt rất cao, hai con mắt màu thau.
Khi ông nói, ông nhìn thẳng người trước mặt, và cặp ngươi màu
thau ấy sáng lên long-lanh. Ông hay mặc bộ complet màu mỡ gà, áo
sơ-mi màu kem, thắt cái cravate màu vàng nhạt. Cử-chỉ của ông
khoảng-khoát, lanh lẹ, vội-vàng trong bước đi. Tôi chú ý vào ông
Vũ Hoàng Chương vì hai duyên-cớ. Một là bởi bốn chữ Tú-tài
Triết-học để sau tên ông trên bảng danh-sách giáo-sư của nhà
trừơng. Hai là bởi ông dạy nghị-luận luân-lý thay vì bình-giảng
văn-chương... (Tôi trích lời của Nguyễn đức Khoan cũng vì
một lý do đặc biệt mà tôi sẽ trình bày cho quý thân hữu rõ vào
cuối bài ) !
Trong khuôn khổ bài ( thuyết trình)
viết, tôi cố gắng trình bày ngắn gọn, nêu lên một số những đặc
điểm nổi bật về con người và thơ của cố thi sĩ Vũ hòang Chương.
Thơ của ông
hoài cổ, giàu chất nhạc
nhưng chưa hề được phổ nhạc, cho dù là thơ về tình yêu mang đầy
đủ các nét vui buồn thắm thiết, lời thơ hoa mỹ, trau chuốt, óng
ả, những chuyện tình tiếc nuối thiên thu, sầu cổ mộ.... Hầu hết
các thi sĩ tiền chiến cùng thời với ông đều có thơ được phổ
nhạc:
Lưu trọng Lư (Hoa rụng ven sông, Vần
thơ sầu rụng), Hồ Dzếnh (Chiều), Huy Cận (Ngậm ngùi), Thế Lữ
(Tiếng sáo thiên thai). Nhất là Nguyễn Bính, người bạn thơ thân
thiết nhất của ông (Cô lái đò, thời trước, chân quê). Và đến cả
những thi sĩ trong kháng chiến cùng thời với ông như Hòang Cầm
(Bên kia sông Đuống, Lá diêu bông), Quang Dũng (Đôi mắt người
Sơn Tây), Hữu Loan (Màu tím hoa sim)...
Thậm chí các thi sĩ trước thời của ông
như Tản Đà (Thề non nước), Nguyễn nhược Pháp (Đi chùa Hương) .
...Ngay cả như Hồ xuân hương cũng được lấy ý thơ để sáng tác
nhạc ( Đánh cờ người, Đèo Ba Dội).
Riêng nhạc sĩ Phạm Duy tuy đã phổ nhạc
rất nhiều thơ của các thi sĩ tiền chiến, và cũng có chút mối
giao tình, đồng cảnh ngộ với ông (cùng vào kháng chiến, bỏ về
thành, rồi di cư vào Nam, lấy thi ca làm lẽ sống...) cũng chưa
từng có một cố gắng hoặc lưu tâm nào đó để phổ nhạc thơ ông !
Vậy thì phải chăng thơ của ông tuy thật
hay nhưng mà khó phổ nhạc, hay các nhạc sĩ không đủ khả năng,
hoặc không có can đảm, không có gợi hứng để diễn tả ý thơ bằng
những nốt nhạc ? Đó là một câu hỏi mà đến giờ, chúng ta vẫn
chưa có được câu trả lời thỏa ý !
Một nét đặc biệt khác là rất khó sắp
xếp ông vào lọai nhà thơ theo thế hệ, khuynh hướng nào – Tây
học, nhưng rất giỏi và thích làm thơ chữ Hán (như nhà thơ hiện
thời Huyền Thanh Lữ Lê Hoà định cư Đức); Thơ viết theo thể thơ
mới, nhưng mang
nhiều sắc nét Đông Phương nên dù ông lớn lên giữa cao trào thơ
mới nhưng thơ của ông được đánh giá là tiếng thở dài của Phương
Đông trầm mặc vì
sử dụng hoặc dựa vào rất nhiều điển tích cũ; Nổi
tiếng về thơ tình, nhưng cũng làm rất nhiều thơ về lịch sử (Bài
ca Sát Đát, kể chuyện thời nhà Trần phá tan quân Mông Cổ; Bài ca
Bình Bắc, kể chuyện Xuân chiến thắng của vua Quang Trung... ),
thơ về các hiện tình thế sự, ưu tư với những thăng trầm của đất
nước (biến cố đất nước qua phân, ngọn lửa đấu tranh của Phật
giáo 1963, ...). Có thể nói ông là chứng nhân lịch sử. Trong thơ
ông đều có ghi lại những biến động lịch sử suốt từ 1945 cho đến
cuộc chiến tranh tương tàn giữa hai miền Nam Bắc, được chấm dứt
vào năm 1975.
Một nét đặc biệt khác về con người và
thi phẩm của Vũ Hòang Chương là có thể nói rằng, ông là thi sĩ
(người duy nhất của Văn bút VN thời ấy) có tác phẩm được chọn và
dịch sang ngọai ngữ - tiếng Anh, tiếng Pháp (từ 1960) rồi tiếng
Đức (1966); Và đã được nhiều bạn văn thi sĩ ngọai quốc đề cử vào
giải thưởng Nobel văn chương trong những năm giữa thập niên
1960.
Những bài thơ được ông tuyển chọn dịch
sang ngọai ngữ và xuất bản thường mang thể thơ thất ngôn tứ cú,
nghĩa là 4 câu 7 chữ, tổng cộng thành 28 chữ mà ông gọi là nhị
thập bát tú
( Les 28 etoiles, Die 28 Sterne); Đến
phần cuối, nếu còn chút thời gian, thì trong phần phụ lục tôi sẽ
đưa ra một vài bài thơ thể lọai nhị thập bát tú cho quý thân hữu
thưởng lãm.
Sau đây là một vài thí dụ nhỏ về các
điển tích, điển cố sử dụng trong thơ họ Vũ:
„...Chân đứng lại hồn trôi vào thuở trước,
Tưởng chừng nghe thánh thót lệ người xưa.
Hán Minh Phi muôn dặm đất Thuyền Vu,
Tiếc cung điện Trường An còn nức nở...“
(Bạc tình – thơ Say 1940)
Trong những câu thơ khiến người ta liên
tưởng đến thơ Bạch Cư Dị :
„...Thuyền buộc sông mưa,
Ngựa dừng trăng khuyết
Tình nhân thế chua cay người lịch
duyệt,
Niềm giang hồ tan tác lệ Giang Châu...“
(Dâng tình – Mây 1943)
Nguyên tác:
(...Lệ ai chan chứa hơn người.
Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh.!)
(Tỳ
bà hành – Bạch Cư Dị)
Hoặc trong bài Tình Liêu Trai:
„...Quê nàng xa lắm tận phương Đông,
mãi xứ bình minh dậy lửa hồng.
Vóc liễu y thường hoa phất phới
Trùng dương ngàn dặm nhớ mênh mông....“
(Tình Liêu trai – Mây 1943)
Nguyên tác:
(Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung,
Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng...) ,
(Thanh bình điệu – Bạch Cư
Dị)
Một vài thí dụ về nỗi ưu tư, u hòai
với những thăng trầm trong lịch sử của đất nước:
„...Tê rồi mạch máu giang biên,
Mười năm cốt nhục hai miền cắt ngang.
Vết thương khóet lở đá vàng,
Sông rôi, tiềm thức nghe vang mấy bờ...“
(Đêm hiển linh 1963 – Đất nước qua
phân)
„...Giờ đã điểm rồi hỡi tuổi xanh
Có nghe nét chữ réo tung hoành
Có nghe dòng mực sôi trang giấy
Nhịp bốn ngàn năm sử đấu tranh...“
Non nước thời chinh chiến, người người
khóac chiến y ra đi gìn giữ quê hương (lấy cảm hứng từ Chinh phụ
ngâm của bà Đòan thị Điểm):
„...Người đi ta cũng lên đường,
Trông ra khói lửa mà thương phong trần...
...Duyên may vừa ấm chiếu ,
Thôi chàng đã chinh phu hồn,
Cầu Vỵ gầy tơ liễu,
Roi ngựa ào gió thu,
Chẳng tu đành cũng như tu,
Buổi can qua mấy chinh phu lại về…”
(Duyên mùa lọan 1963)
Nguyên tác:
(…Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao
Giã nhà, đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vỵ, ào ào gió thu…)
(Chinh
phụ ngâm – Đòan thị Điểm)
Mậu Thân 1968, giữa ngày Tết lửa đạn ngút trời, quê hương chìm
ngập một màu tang tóc:
“…Ma sợ cung vôi chạy vọt lên
Người thơ giữa lúc mở bầu men,
Khai xuân chưa kịp vui cùng khách
Ðạn rót trời cao đã nổ rền…”
(Vỡ mộng Liêu trai)
Vũ Hoàng Chương đã làm một loạt tám bài đường luật theo thể liên
hoàn liên vận dưới đề tài: “loạn trung Huế cảm bệnh trung
nhân” (trên giường bệnh, cảm thương Huế loạn lạc):
Lăng miếu gần kề lưng chó sói
Thịt xương phó mặc vuốt diều hâu
Cuối năm 1972, hoà hội Paris bế tắc, chiến trường miền Nam ác
liệt và Mỹ dùng pháo đài bay B 52 oanh tạc Hà Nội suốt 12 ngày
đêm cuối năm.Vũ Hoàng Chương gửi tâm trạng qua bài " Ðón Xuân
Mười Chín - 1972"
“Bấm đốt từ di cư đến nay
Ðón xuân vừa vặn hết bàn tay,
Sang sông Ngựa đã hai lần hí
Vạch đất Trâu thêm một luống cày
Lửa ném tràn lan đầu gió Bắc
Vàng rung thăm thẳm đáy hồ Tây
Bút toan chạy ngược đau lòng chữ
Núi vẫn nằm ngang bạc tóc mây...”
Sau khi hiệp định Paris (27.01.1973)
được ký kết, chấm dứt chiến tranh Việt Nam trên giấy tờ, Vũ
hòang Chương là một trong số ít những người đã tỏ lòng hòai nghi
cái viễn tưởng ngày hòa bình sắp tới, đất nước thôi hết buổi qua
phân. Ngay ngày Tết Quý Sửu, Vũ Hoàng Chương đã làm thơ ghi dấu
lại nỗi niềm suy tư:
“…Ma là Người ... kiếp khác
Người là Trời ... đêm nay
Nghe chừng lửa đã tắt
Hai bờ Con-Sông này
ờ nhỉ ! đâu còn Vết Cắt
Sao lòng ai vẫn chưa hay ?
Nằm kia, người nín bặt
Vòng luân hồi đã ngược chiều quay
Ma thôi vất vưởng, trời thôi lưu đày…”
Bài thơ Tết cuối cùng của ông năm Bính Thìn 1976, đã vẽ ra cái
Tết đầu tiên ở miền Nam Cộng sản, tòan cảnh tranh tối tranh
sáng, tô đậm tâm trạng mọi người phập phòng lo âu:
Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành
Gà lợn, om sòm rối bức tranh
Rằng vách có tai, thơ có họa
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh
(Vịnh
tranh gà lợn )
Cũng trong năm đó nhà thơ đã bị bắt, giam ở ngục Chí Hòa, bị
bệnh nặng, đưa về nhà mấy hôm thì mất. Vũ hòang Chương mất ngày
6.9.1976 ( nhằm ngày 13.08 năm Bính Thìn lúc 23 giờ).
Đám tang được cử hàng trong lặng lẽ, nghèo nàn, hiu hắt.
„...Bao năm vị đắng mùi cay,
Lênh đênh thân thế cầm tay nghẹn ngào,
Nước cờ thua, giận mình cao,
Khói lên cuồng túy nhạc vào hàm ca...“
(Gặp lại cố nhân)
Nhân đây tôi cũng xin trình bày một nghi vấn văn chương mà cuối
cùng đã dẫn đến việc Vũ hòang Chương bị bắt. Bảo là nghi vấn
thôi, vì thực hư như thế nào, cho đến bây giờ người ta cũng chưa
được rõ:
Số là sau 1975 khi Sài Gòn bị đổi tên
thành thành phố HCM, Tố Hữu lúc bấy giờ là quan văn nghệ từ
trung ương ngoài Bắc vào Nam, đã được Thanh Nghị, 1 quan văn hóa
miền Nam lọai tập kết, tổ chức một cuộc họp mặt đón chào, qui tụ
nhiều văn thi sĩ tiền chiến tên tuổi, nào là Chế Lan Viên, Xuân
Diệu, Huy Cận...Thật ra mục đích chính của buổi họp này là để
"thẩm định" lại, làm cho sáng sủa, đúng đắn hai câu thơ của Tố
Hữu đã thường xuyên bị dân gian rỉ tai nhau phê bình một cách
xách mé châm chọc. Hai câu thơ ấy, tôi nghĩ rằng mọi người hiện
diện ở đây có lẽ đều biết:
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười.
Tất cả mọi thi nhân tiền chiến lão thành ngày hôm ấy đều theo
đúng sách vở, xúm lại ca tụng tính chất, nội dung lẫn hình thức
2 câu thơ lục bát 14 chữ ấy. Nào là đơn giản, bình dị mà lại
xuất thần, khẩu chiếm; Nào là cách dùng chữ tuy tầm thường, điệp
ngữ, láy đi láy lại, tổng cộng 7 lần dùng chữ „thương“ nhưng
chính như thế lại không sáo ngữ, mang đầy âm hưởng ca dao tình
tự, ăm ắp dân tộc tính.... Rồi mọi người thi nhau trích dẫn
những đọan thơ hay nhất của mình, hăm hở bình phẩm rồi tuyên bố
rằng mình rõ ràng còn thua xa, không đạt được như thơ của Tố
Hữu.
Rồi đến phiên ít nhất một thi nhân
miền Nam phải lên tiếng, mọi người mới đùn đẩy nhiệm vụ cho thi
sĩ Vũ hòang Chương, người cũng có mặt trong ngày hôm đó. Với
vóc dáng khiêm nhường, tính tình hiền lành, ăn nói ôn tồn hòa
nhã, sau mấy lần từ chối không được, ông đã cực chẳng đã phải
đứng lên cất lời thưa cùng cử tọa và ai đã biết Vũ Hoàng Chương,
ắt phải biết cái đanh thép bên trong tấm thân nhỏ bé ọp ẹp của
ông. Sau đây là lời của Vũ Hoàng Chương do người có bổn phận
điếu đóm đêm hôm ấy thuật lại:
"Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để
hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ
diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận
dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có
giá trị cao....
Nhưng thơ không phải chỉ có thế. xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm
vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì
thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt. Tức chưa phải là hay,
mà là gượng ép. Thơ hay vừa phải khéo như thế vừa phải đạt thật
sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời...
Tố Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ VN,
muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để tỏ lòng yêu cụ
Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật
của thi ca, nhưng trước hết phải biết bà mẹ VN đó có cùng tâm
cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?
Chắc chắn là không có một bà mẹ VN nào, kể cả bà Tố Hữu mà thốt
được những lời như vậy một cách chân thành. Một tình tự không
chân thực, dù được luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm
đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay mà chỉ là thơ khéo
làm, đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo
này người thơ thợ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công
phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi cho một tuyên truyền nào đó...
Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng
trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại tình tự hư hoang.
Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng, nói thơ là nói
đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa
sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ
không được láo, nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành
mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt
đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy! „
Và rồi vài tháng sau đó thi sĩ Vũ hòang Chương đã bị bắt vào tù.
Như đã nói ở trên, nguyên do bị bắt rồi dẫn đến cái chết của thi
sĩ, đến giờ vẫn còn là những giả thiết, nghi vấn đau buồn trong
lòng mọi người !
Mười năm sau, 1986 mộ Vũ Hoàng Chương được cải táng về chôn tại
nghĩa địa của chùa Giác Minh tại Gò Vấp. Suốt một đời lận đận vì
nỗi không nhà, giờ đây hai con người tài hoa kia đã có một chỗ ở
trang trọng, miên viễn đó là chỗ ngồi lâu bền trong văn học sử
và điều an ủi lớn nhất là họ còn sống mãi trong tâm hồn những
khách yêu thơ.
„Gối vải mộng công hầu,
Vàng son mờ gác xép,
Bừng tỉnh, mưa còn mau,
Chiều tàn trong ngõ hẹp!”
Và bây giờ, để kể cho quý (thân hữu) độc giả thấy, thơ của Vũ
hòang Chương, vượt qua thời gian, không gian, đã thấm sâu vào
lòng người như thế nào; Tôi, một lần nữa, xin mượn những lời kết
cuộc trong hồi ký „Rừng phong“ của Nguyễn đức Khoan, người
mà ngày xưa chỉ được học với thầy Vũ hòang Chương có vài tháng
bậc trung học, lớp đệ tứ (lúc đó vào mùa thu năm 1954).
Sau đó học Văn khoa, vào quân đội chiến đấu, trên khắp 4 vùng
chiến thuật, giờ sống tha phương nơi đất khách, tuổi vào thất
thập cổ lai hi, vẫn còn ưu tư, thắc mắc, hòai niệm về hai chữ
Rừng phong trong thi phẩm của họ Vũ:
…Ra về, lòng tôi muốn
buông hết cái muốn biết lòng người xưa. Lòng người nay, chính
bản-thân người nay còn mù-tịt, nói gì đến lòng người xưa. Gần
tới lối ngõ, không chủ-ý, trong đầu vừa hiện ra hai chữ “ chạnh
xót”, mắt vừa thấy ngọn phong, lòng tôi chợt nhoi-nhói đau:
“Khanh của Hoàng ơi!
Lửa bốn phương,
Khói lên ngùn ngụt chén tha-hương,
Nghe vang cốc rượu niềm ly-tán,
Chạnh xót nòi thơ buổi nhiễu-nhương.”
Tôi cho rằng bữa nay
tôi đã gặp lòng Vũ Hoàng Chương khi ông viết Rừng Phong. Tôi
không còn biết nói gì thêm nữa. „
Và bây giờ, lời cuối cùng
dành cho cố thi sĩ Vũ hòang Chương, tôi xin mượn lời trong bài
thơ điếu văn do chính ông đã viết để tiễn đưa thi hào người Ý
Lionelli Fiumi vào năm 1973; Từng lời, từng ý trong bài thơ điếu
này, tôi thiết tưởng cũng đã rất phù hợp với tâm trạng, nỗi niềm
của thi nhân !
Thi hào đã khuất
Người thơ nằm xuống đó
hiên ngang,
Như một câu thơ trắng
thẳng hàng.
Đẩy mãi bàn chân tìm
đất đứng,
Ngòai ba chiều cũ sắp
tan hoang.
(Kính điếu thi hào
Lionelli Fiumi (1894-1973))
Phụ lục:
Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu
Lênh đênh thương nhớ dạt trời Âu
Thôi rồi – tay nắm tay lần cuối
Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau
Trai lỡ phong vân gái lỡ tình
Này đêm tri ngộ xót điêu linh
Niềm quê sực thức lòng quan ải
Giây phút dừng chân cuộc viễn trình
Tóc xõa tơ vàng nệm gối nhung
Đây chiều hương ngát lả hoa dung
Sóng đôi kề ngọn đèn hư ảo
Mơ kiếp nào xưa đã vợ chồng
Quán rượu liền đêm chuốc đắng cay
Buồn mưa trăng lạnh nắng hoa gầy
Nắng mưa đã trải tình nhân thế
Lưu lạc sầu chung một hướng say
Gặp gỡ chừnh như chuyện Liêu Trai
Ra đi chẳng hứa một ngày mai
Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai ?
Phương Âu mờ mịt lối quê nàng
Trăng nước âm thầm vạn dặm tang
Ghé bến nào đây người hải ngọai
Chiều sương mặt bể có mơ màng
Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không
Mà đây lòng trắng một mùa đông
Tương tư nối đuốc thâu canh đợi
Thỏang gió trà mi đọng mấy bông.
(Đời vắng em rồi say với ai - Thơ Mây 1943)
Nhị thập bát tú
(Thơ Mới 1964 – 1967)
Gương treo nhật nguyệt
Sáu chục thành nghiêng đón Nữ Vương
Em theo chị…cũng gái phi thường !
Một phen bóng ngọc nhòa sông Cấm,
Nước Việt hai vầng đẹp mãi gương.
Làm chi cho phải ?
Bốn phương trên ngựa làm anh hào,
Trên gối mơ làm bướm được sao ?
Hỡi kẻ trên sông làm khói sóng,
Làm mây trên núi mới là cao !
Trời Phật hiểu chăng ?
Người giết người xong chạy tức thì
Mồi ngon chẳng gặm chẳng mang đi.
Rừng sâu cọp đói nhìn kinh ngạc…
Đảo mắt gầm lên chẳng hiểu chi !
Hình mất bóng còn
Quảng Đảo bom thiêu ngọc đá tàn
Bóng ai cầm súng vẫn chưa tan…
Thiếu Lâm chùa cổ, nghe trên vách
Bóng Đạt Ma ngồi, bật tiếng than.
Vô tình hơn bão
Phong ba vừa mới tạnh dư âm,
Vút cánh “hồng” bay, đạn réo ầm
Người cứu người, sao người nỡ hại ?
Vô tình cho đến bão còn “tâm” !
Nói và viết về thơ của cố thi sĩ Vũ Hoàng Chương rất dài, thời
gian không cho phép, xin hẹn lần khác trình bày tiếp ,Trân
trọng kính chào
(
Bài nói chuyện trong buổi giao lưu thi ca tại München 10.2007
BBT thay đổi một vài chữ từ bài thuyết trình cho phù hợp )
Trở về Trang Chính
|