Phần
Phụ Lục, để biết rõ hơn về con người đa cảm và bình dị Bác
Sỹ LÊ VĂN LÂN
Uyên Hạnh: -
“Thưa Bác sỹ, chúng tôi có ý định viết một bài về Bác sỹ...”
BS Lê Văn Lân rất
ngần ngại, nhưng ông đã đáp ứng bằng cách gửi cho Uyên Hạnh
tiểu sử và họat động của ông dưới đây. Đây là bản viết ông
đã sọan và gửi cho một đài truyền thanh ở Hoa Thịnh Đốn nước
Mỹ thời gian họ viết chương trình và phỏng vấn ông. Có sẵn
tài liệu nầy, ông gửi cho Uyên Hạnh “kèm” theo câu nói:
“Uyên Hạnh! Đọc cho biết, nhưng đừng viết nhiều về tôi”.
Thưa: - Vâng!
Xin mời độc gỉa
đọc cho biết về ông.
TIỂU SỬ
và HOẠT ĐỘNG CỦA LÊ VĂN LÂN
Tiểu sử:
Sinh năm 1931 tại
Phố Bát tỉnh Nam định nhưng Tổ quán là làng Bát tràng tỉnh
Bắc Ninh.
Được cha mẹ cho
vào Huế lúc mới 3 tháng nên sinh sống học hành ở đây cho đến
lớn.
Vợ người Nam quê
ở Cái Nhum ( Vĩnh Long)
[ Xin coi Bài thơ
số 1: Quê Tôi 3 giòng sông tuôn chảy]
Học Trung học ở
trường Quốc học Huế và tốt nghiệp Y khoa tiến sĩ Saigon
(1960)
Phục vụ Quân Y (
1960 – 1975).
[ Xin Coi bài thơ
số 2: Ngơ Ngác Nai Tơ ]
Chuyên môn: Bác sĩ
Sản Phụ Khoa & Kế Hoạch Gia Đình tai Bệnh Viện Trưng Vương
Lao tù tập trung (
1975 – 1979)
Vượt biển qua Mỹ
Làm việc cho Bộ
Y Tế Tiểu bang New Jersey ( 1980 – 1998) trong chức vụ New
Jersey State Coordinator of the Refugee & Immgriant Health.
Hồi hưu tại
Austin Texas từ 1998 đến nay.
Sách đã xuất
bản:
1-
Bút khảo về Ăn
(1986)
2-
Chiếc bảo ấn
cuối cùng của Hoàng đế Việt Nam (1998) Tái bản lần hai.
3-
Bút khảo về Xuân
(1999)
4-
Les Principes de
Déontologie Médicale d’après l’ouvrage “ Ngư Tiều Vấn đáp “
par Đồ Chiểu ( viết chung với Giáo sư Nguyễn đình Cát năm
1962 – xuất bản năm 1998)
Chuyên biên
khảo về đất lề quê thói ở Việt nam, viết hằng trăm bài bút
khảo về ẩm thực, thuốc cổ truyền, phong thủy, bùa chú đăng
trên phần lớn báo Việt ngữ cũng như trên những tập san của
y giới Việt nam tại hải ngoại.
Đang tập họp
những bài viết để in thành ba cuốn:
Đặc khảo về Bùa
Chú,
Huế trong góc
tim tôi
Bút khảo về Ăn
Hoạt động văn
hóa:
1-
Thành viên của
Ủy ban Quốc gia Soạn thảo và Dịch thuật Danh từ Chuyên Môn
và Ủy ban Điển chế Văn tự của Phủ Quốc vụ khanh, đặc trách
Văn hóa và Giáo dục ( 1971 – 1975).
2-
Trưởng
nhóm “ Duyên Văn” tại New Jersey& Philadelphia đã bảo trợ và
tổ chức 15 buổi ra mắt sách và triển lãm tranh và hoa thủy
tiên trong 10 năm.
PHẦN PHỤ LỤC
Bài thơ số 1
QUÊ TÔI: BA
GIÒNG SÔNG TUÔN CHẢY
Tổ quán tôi, đất tân bồi Sông nhị
Làng Bát
tràng lém lỉnh tiếng ca dao:
Chuyên đúc gạch
để xây hồ bán nguyệt
Lát sân rồng
cung điện chốn kinh đô.
Cha mẹ tôi ẵm
tôi vô xứ Huế
Khi tôi còn ẵm
ngửa khóc oa oa!
Giòng Hương
Giang và đồi thông đỉnh Ngự
Mớm hồn tôi với
trăng gió tinh hoa!.
Rồi khôn lớn, vô
Saigon học thuốc
Gái Cái Nhum mắt
liếc ... lá răm cay!
Không sẵn gạch
...tôi dùng thơ thay gạch
...Để xây hồ mời
vợ rửa chân tay!
Trong người tôi, ba
giòng sông tuôn chẩy
Máu Nhị hà
- thắm đỏ chảy miên man
Hồn ấu thơ -
đượm xanh giòng Hương thủy
Còn tim yêu -
nhẩy nhịp Cửu long Giang.
LÊ VĂN LÂN
Bài thơ số 2:
NGƠ
NGÁC NAI TƠ của LÊ VĂN LÂN
Thơ viết mến tặng những chàng sinh viên y
khoa trẻ ngơ ngác nai tơ giống tôi cách đây 50 năm! Thuở ấy
cuộc đời đẹp như trăng mới lên, như hoa mới nở nên coi việc
đời cái gì cũng dễ dàng, suôn sẻ cả bèn tự cho ta là nhất.
Buồn cười nhớ lại quãng năm qua
Tuổi đời non
choẹt nhập Y khoa!
“Dự bị”(1) ôn
toàn Sinh – Lý – Hóa
Vênh váo nhất
đời... cái mặt ta!
Năm sau thực sự
kể năm đầu
Hăm tám (28)
ngôi trưồng cũ Testard.(2)
“ Cours” nhiều:
Cơ thể và Sinh lý(3)
Học gạo thân
hình... ốm tựa ma.
Kỷ niệm năm này
cũng ngộ thay:
Giáo đầu “ Cốt
học” khúc xương tay, (4)
Đi dâu nhét túi
xương cùng xẩu
Khoe mẽ rằng
ta... cũng mặt thầy!
Cơ-thể học đường
lui tới luôn (5)
Nức mũi cay nồng
chất Formol
Xác chết khô đen
luôn réo gọi
Về nhà nhai
thịt... nhớ buồn nôn!
Chợ Rẫy, Bình
Dân thực tập đi
Khoác mầu “
blouse” trắng, đội “bonnet”
Tuy ngực ít “
sao” mà le lói
Bộ tịch làm
le...chán não nề! (6)
Lủng lẳng ống
nghe đeo trước ngực
Khám bịnh thật
lâu, mặt rất nghiêm.
Tiếng tim: Ngựa
sải phi rùm rụp,
Trống trận rung
dòn? Gió thổi êm? (7)
“ Từ Dũ bảo
sanh” năm thứ tư
Đỡ đẻ “cas” đầu
khéo lắm ru.(8)
Nước ối vỡ òa
văng ướt mặt
Mặn môi liếm thử
...kể như ngu!
Học hành thi cử
bận liên miên (9)
Clinique! Patho!
tới tấp liền
Lại nhét Chimie
cùng Physique
Hè nào thi
rớt...gạo như điên!
Năm cuối lên
đường khoác chiến y
Hoa mai Trung Úy
sáng uy nghi. (10)
Dẫu gì tốt nghiệp
làm quan “ đốc”
Trong bụng xem
ra... chẳng biết gì!
Từ đó...giòng đời
luôn mãi trôi
Học đời...học sách
mãi quên thôi!
Càng học bao nhiêu
càng thấy dốt
Nghĩ lại năm
xưa...cũng nực cười!
CHÚ THÍCH:
1. Chương
trình học Y khoa tại Việt Nam thời còn ảnh hưởng Pháp gồm
bẩy năm là năm Dự bị còn gọi là năm PCB ( để ôn tập lại
những môn khoa học căn bản là Vật lý – Physique, Hóa học –
Chimie, Vạn vật – Biologie) quen gọi là năm Sinh Lý Hóa.
[Năm PCB học tại trường Đại học Khoa Học (Faculté des
Sciences) tọa lại cạnh trường Pétrus Ký.] Năm dự bị này chỉ
ôn tập nên sinh viên rảnh rỗi nên họ gọi năm PCB là năm “
Phải Chơi Bời”!
2. Sau năm Dự
bị, sinh viên học thêm sáu năm thực sự từ năm thứ
nhất đến năm thứ sáu tại Trường Đại học hỗn hợp Y và Dược
khoa (Faculté mixte de Médecine et Pharmacie) toạ lạc tại số
28 đường Testard (sau là Trần Qúi Cáp) Saigon. Mãi sau này
thì mới tách trường Y và Dược riêng ra; Trường Y thì dời vào
Chợ lớn ở địa điểm hiện nay. Vào Năm thứ nhất Y thì học rất
nặng về lý thuyết với những “cua” (cours) về Cơ thể học (
Anatomie) và Sinh lý học (Physiologie)
3. Vào năm
Nhất Y thì mới khai giảng sinh viên khởi sự học khoa Cốt học
(Ostéologie) với khúc xương tay (humérus), nên họ thường lén
mang xương về nhà ôn tập.
4. Hai năm
đầu, sinh viên học mổ xác người ướp formol tại Cơ thể học
viện (Institut anatomique) tọa lạc tại đường Trần Hoàng Quân
( Armand Rousseau) gần hãng làm la-de Chợ lớn.
5. Sinh viên
Y thuở đó đi học thực tập tại hai nhà thương Chợ Rẫy và Bình
dân. Họ mặc áo bờ lu (blouse) trắng, đội nón vải gọi là bon-
nê (bonnet). Trên ngực áo họ có thêu những ngôi sao bằng
chỉ đỏ, một sao là năm đầu...sáu sao là năm 6!
6. Đi thực
tập thì phải học nghe tim nghe phổi và phân biêt nào là
tiếng tim đập như ngựa phi nước kiệu ( gallop), tiếng khua
ròn như trống( roulement) hay tiếng thổi ( souffle) v.v...
7. Năm thứ tư
Y thì học đỡ đẻ. Sinh viên nai tơ “ phái nam” lần đầu tiên
mới tiếp xúc với cơ phận nữ nên còn lúng túng chưa biết
thông tiểu và phá đầu ối cho sản phụ thế nào.
8. Cũng vào
năm thứ tư, sinh viên Y học kỹ về Bệnh lý học ( Pathologie)
và Lâm sàng học ( Clinique) cùng học về Vật lý và Hóa học Y
khoa ( Physique & Chimie médicale), Trị liệu học (
Thérapeutique)...
9. Vào thời
gian chiến tranh Việt Nam khởi sự thì sinh viên Y không học
năm thứ sáu mà cuối năm thứ năm phải động viên phục vụ chiến
trường với chức Y-Sĩ Trung Úy. Thời gian này trong quân ngũ
gíup cho sinh viên thâu thập học hỏi những kinh nghiệm thực
tế, để rồi ít lâu sau đó thì trở về Saigon để trình luận án
tốt nghiệp Y khoa tiến sĩ.
Trở về Trang Chính |