|
Trong thời Quân chủ
triều Nguyễn thuộc Pháp thì ở Nam kỳ là thuộc địa Pháp người dân
đương nhiên chào lá cờ Tam sắc của Pháp thì ngoài Bắc và Trung,
người dân thường thấy Quốc kỳ có nền vàng. Cờ của vua ở Triều
đình Huế có thêu hình rồng năm móng ở góc trái thường cắm trên
xe hơi của nhà vua. Còn cờ vàng treo ở các công sở thường là cờ
nền vàng không thêu rồng nhưng có hình cờ Pháp ở góc.

Nhưng tôi đã đặc
biệt nhớ đến lá cờ Long tinh

Lá cờ này
được chính thức ban bố làm quốc kỳ có nền vàng ở giữa có
một vạch đỏ chạy dọc, vạch này dày khoảng 2/3 chiều ngang của lá
cờ. Sở dĩ tôi còn nhớ như vậy là vì lũ học sinh tiểu học chúng
tôi trong thập niên 30 thế kỷ 20 phải làm thủ công hay được phát
lá cờ này khi có lễ lạc đón tiếp hay được đi diễn hành trước cửa
Ngọ Môn chúc mừng lễ Vạn thọ của vua Bảo đại hằng năm. Nhà vua
sanh vào ngày 22 tháng 10 năm 1913 (Quí sửu). Mỗi khi phất cờ
thì chúng tôi phải đồng thanh hô lớn: “Hoàng đế vạn tuế” và hát
bài quốc ca là bài Đăng Đàn Cung.
Theo ông Quốc Duy
Nguyễn văn An, cờ Long tinh trên là do bốn vị đại thần Tứ trụ
của Cơ Mật viện triều đình Huế (thành lập từ 1834) bàn và ấn
định “lấy nền vàng và thêm một gạch son trên ấy để biến thành
lá cờ Long Tinh tiêu biểu cho uy quyền Triều dình Quốc
gia trên hai phần đất còn lại của Việt Nam (Bắc và Trung) trong
suốt thời Pháp thuộc”
Vào ngày 17 tháng 5,
1923, cờ Long Tinh này đã được treo vào dịp Tứ Tuần đại khánh
của vua Khải Định theo hình chụp như là một bằng chứng:

Dựa theo bài “ The
Đăng Đàn Cung Hymn “ của Cụ Nguyễn Khoa Toàn, cựu Đại sứ của
Quốc gia Việt Nam tại Thái Lan, viết ngày 15 tháng 11, năm 1952,
thì nhu cầu đặt cho Việt Nam một lá quốc kỳ cũng như quốc ca có
lẽ vào dịp vua Khải định qua Pháp vào ngày 15 tháng 5, năm 1922
để dự cuộc Đấu xảo Quốc tế ở Marseille, đồng thời mang Hoàng tử
Vĩnh Thụy mới 9 tuổi gửi gắm cho ông cựu Khâm sứ Charles để lưu
học tại Pháp. Nên do đó, chúng ta có thể đoán rằng cờ Long tinh
đã được manh nha dự định chế ra cho Việt nam nhân dịp này
chăng?
Về bài quốc ca
Đăng Đàn Cung vào triều Nguyễn, ta cũng không rõ đã làm vào
thời nào?
Ông Phạm Quỳnh -
chủ bút tờ Nam Phong- vào thời điểm nói trên cũng thăm Pháp có
ghi trong tập Pháp du Hành trình Nhật ký của ông về vài chi tiết
chính phủ Pháp đón tiếp vua Khải định ở vài địa điểm có cử Quốc
thiều Việt nam, nhưng ông lại không nói rõ là bài gì? Phải
chăng đó là điệu Đăng đàn cung cổ điển của Việt nam đã được ký
âm theo Tây phương đễ được cử bằng nhạc khí tây phương?
Do đó tông tích bài
Đăng đàn cung cũng ly kỳ lắm.
Những Ai là
người đặt nhạc và lời ca cho bài Đăng đàn cung?
Trong cuốn sách “Dạy
hát tiếng Nam” của Nguyễn trung Nghệ và Nguyễn trung Phán do nhà
in Tiếng dân ( Huế) thì Đăng Đàn Cung là một điệu nhạc cổ đã có
từ lâu. Nguyên thủy bài này chỉ cử lên khi vị chánh tế “đăng
đàn” (bước lên đàn bục) để hành lễ. Về sau, điệu này thường được
cử khi Hoàng đế – thay toàn dân làm vị chủ tế tối cao của quốc
gia- “ đăng đàn” tế lễ trời đất tại đàn Nam giao. Đăng đàn cung
ngày xưa cũng được cử khi tế thần trong các hội làng hay những
nghi lễ trọng thể trong triều đình khi nhà vua bước lên ngai để
thiết triều. Ý nghĩa của Đăng đàn cung là cầu thỉnh thần linh
giáng lâm hay tôn vinh nhà vua khi khai mạc những buổi tế lễ tôn
nghiêm hay khánh tiết của quốc gia. Đăng đàn cung vốn chỉ là
cung nhạc không lời, thường được phường bát âm – gọi nôm na là “
ban Nhạc thài” - cử tấu, nhưng trỗi nhất là tiếng kèn và
sáo trúc. Hơi nhạc ngũ cung của Đăng đàn cung khó mà chuyển tả
ra bằng ký âm pháp Tây phương, nhất là những nốt nhạc lưng chừng
hay những láy rung của cổ nhạc Việt nam. Trong cuốn sách “Dạy
hát tiếng Nam” của Nguyễn trung Nghệ và Nguyễn trung Phán có
ghi lại bài Đăng đàn cung bằng ký âm pháp cổ điển của ta.

Theo Đại sứ Nguyễn
Khoa Toàn trong bài thuyết trình dẫn trên ở Thái Lan năm 1952
trước một cử toạ ngoaị giao đoàn thì đã có nhiều nhạc sĩ cố
gắng dùng ký âm pháp Tây phương để ký âm điệu Đăng đàn cung
cổ điển nói trên cũng như ký âm nhiều khúc nhạc cổ bản VN khác
nhưng kết quả là nghe ra không còn hồn nhạc Việt nam thuần túy.
Vậy bài quốc ca Đăng
Đàn Cung được chính thức chọn làm quốc ca thời vua Bảo Đại trước
1945 là do những ai đã soạn? Theo cụ Đại sứ, thì bài này do Ông
Maurice Fournier - một nhạc trưởng người Pháp - và Ông
Nguyễn Tú – một nhạc sĩ Việt nam đã cùng cọng tác để chuyển
làn điệu Đăng đàn cung cổ điển ra nốt nhạc Âu châu với phần
phối trí (arrangement) để khai sinh ra bài nay. Theo cụ Nguyễn
khoa Toàn, bài nhạc Đăng đàn cung này được đặt lời Việt vào
năm 1932 bởi cụ Ưng Thiều cho học trò hát khi đón vua
Bảo đại du học ở Pháp về để đăng quang.
Do đó, tôi đã gia
công dọ hỏi tung tích về sự ra đời của bài trên. Qua giáo sư Lê
hữu Mục, tôi được cơ duyên tiếp xúc trên điện thoại với ông
Nguyễn hữu Nhuận ở Montréal Canada tuổi xấp xỉ 90, nguyên là
người Phú cam (Huế) làm cựu Thiếu tá Nhạc trưởng ban Quân nhạc
Hải quân VNCH trước 1975. Ông này trước đây vào khoảng 1951
thuộc ban Quân nhạc Ngự lâm quân ở Dalat nên nhiều lần đã đánh
bài Đăng đàn cung trong các nghi lễ.
Trong thời Pháp,
theo lời ông kể, ông thuộc ban Nhạc Lính Khố Xanh của Tòa Khâm
Huế ( Musique de la Garde Indochinoise de la Résidence
supérieure) dưới quyền Nhạc trưởng Raymond Clément. Dựa theo
ký ức của ông về hồ sơ lưu trữ của ban nhạc này, ông xác định
rằng vào khoảng năm 1929, nhạc trưởng Maurice Fournier thời đó
đã cấp một học bổng đặc biệt cho ông Trần như Tú ( không
phải là Nguyễn Tú như lời cụ Toàn) qua Nam triều để nghiên
cứu và ký âm nhạc của triều đình Huế để sáng tác ra một bản
quốc thiều Việt nam đánh bằng nhạc khí Tây phương cốt chuẩn bị
đón vua Bảo đại ở Pháp về năm 1932.
Vậy chúng ta có thể
kết luận rằng Đây là bản Đăng đàn cung đầu tiên được chính
thức ra đời ở Huế, phần nhạc do Fournier & Trần như Tú và phần
lời do Ưng Thiều. Và cũng theo lời yêu cầu của tôi, Thiếu tá
Quân nhạc Nguyễn hữu Nhuận đã vận dụng trí nhớ mà ký-âm lại bài
này cho tôi.

Ngày xưa còn niên
thiếu, tôi đã hát thuộc lòng bài này nhưng tôi thú thực không
thích vì cho là giọng nhạc đầy tính bảo hoàng hay tôn giáo, nhịp
điệu chậm rãi, ngân nga, cổ kính, thích hợp cho nghi thức tế lễ
hay thiết triều hơn là một bài quốc ca mà tôi nghĩ rằng phải
hùng dùng thét gọi thúc dục lòng người như bài La Marseillaise
của Pháp. Nhưng về sau, so với những bài quốc ca của Nhật hay
của Anh, đặc biệt là bài God save our Queen, tôi bèn thấy quốc
thiều Đăng đàn cung năm xưa của Việt nam mới thật là “
majestuoso” và đượm Việt tính! Hơi nhạc rõ ràng là ôn hòa, phong
nhã, quí phái, hoàn toàn không hung hãn sắt máu, nhưng khêu gợi
cái hồn thiêng sông núi từ đáy sâu tiềm thức của dân tộc. Còn
lời ca do cụ Ưng Thiều đặt ra quả đã gửi gắm nhiều lời tâm huyết
nhắn nhủ con dân quyết tâm xây dựng tiền đồ cho tổ quốc, kêu gọi
đồng bào đoàn kết thương yêu đùm bọc trong tình Việt tộc mặc dù
vào thời đó Việt nam đang ẩn nhẫn chịu ách thống trị của Pháp:
Kìa núi vàng bể bạc
Có sách trời...sách
trời định phần!
Một giòng ta – gầy
non sông vững chặt
Đã ba ngàn mấy trăm
năm!
Bắc Nam cùng một
nhà con Hồng cháu
Lạc.
Văn minh đào tạo
màu gấm hoa càng
đượm
rạngvẻ giòng giống
Tiên Long.
Ấy công gầy dựng
từ xưa đà khó nhọc,
Nhớ ơn dầy nặng
Lòng trung quân đã
sẵn
Cố thương nhau...
thương nhau một niềm.
Nguyện nhà Việt muôn
đời thạnh trị.
Chúng ta thấy Cụ Ưng
Thiều đã kín đáo nhắc nhở cái niềm kiêu hãnh ngoan cường
của dân Việt với ý thơ kiêu hùng của Lý Thường Kiệt :
Nam quốc sơn hà Nam
đế cư
Tiẹt nhiên định mạng
tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai
xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan
thủ bại hư
tạm dịch do Lê văn
Lân là:
Giang sơn Việt Nam,
vua Nam ở!
Định mạng sách Trời
sử đã ghi
Giặc nghịch chúng
bay mà xâm phạm
Mở mắt rồi xem bại
một khi!
Bài Đăng đàn cung
trên được chính thức hát tại Huế và các tỉnh miền Trung trong
những năm thập niên 30. Tôi còn nhớ trong khoảng những năm đệ
nhị thế chiến 39-45 , Đông dương dưới quyền của Toàn quyền Pháp
Decoux theo chính phủ Vichy của Thống chế Pétain, thì chúng tôi
thường phải hát những bài tiếng Pháp như “ Maréchal! Nous
voilà...” hay bài “ Debout! Belle Jeunesse” mà chúng tôi thường
nhại là “Rờ bụ belle jeunesse - của phong trào thể thao Ducoroy
lúc đó đang rầm rộ toàn quốc với thâm ý của thực dân làm khỏa
lấp tinh thần quật cường mưu đồ độc lập âm ỉ của người dân bảo
hộ khi Thực dân Pháp đang yếu thế phải chiều theo phe Trục của
Phát xít Đức và Nhật... Trong thời gian này có tổ chức phong
trào Đua Xe Đạp Vòng Đông dương (Tour de l’ Indochine ), Tranh
Giải Bóng tròn của ba kỳ Nam Trung Bắc với những đội bóng
Cochinchine, Annam, Tonkin. Qua phong trào thể thao, thực dân
Pháp cố ý khuyến khích khí thế tranh tài hay khích bác lẫn nhau
của dân ba kỳ nhưng với ý đồ chia rẽ để trị bằng cách đề cao
tinh thần địa phương! Chính trong thời kỳ này, học sinh tiểu
học các trường được phát cho không những tờ tranh vẽ nói về
Thống chế Pétain người hùng của trận Verdun, về Quan ba phi công
Đỗ Hữu Vị lái máy bay đánh giặc Đức cho Pháp bị bắn rớt...
Chính trong thời kỳ này, nếu tôi nhớ không lầm thì cụ Nguyễn
Khoa Toàn làm chức Tá lý của bộ Học coi về giáo dục và văn hóa
của Nam Triều. Cụ nắm được ý đồ trên của Pháp nhưng lại khôn
khéo, kín đáo, uyển chuyển lợi dụng phong trào thể thao Ducoroy
thành lập Quốc Anh đoàn với mục đích huấn luyện thanh thiếu niên
Việt về mặt thể dục và hướng dẫn về mặt tinh thần, tạo ý thức
sâu đậm hơn về quốc gia dân tộc. Là Học sinh đoàn viên Quốc Anh
đoàn , tôi còn nhớ mang máng là mặc sơ mi mầu nâu đồng phục hay
quấn phu la màu nâu gì đó, chào nhau bằng cách đưa bàn tay phải
chúm lại thành hình búp sen để trên trán, tượng trưng cho đạo
đức tinh khiết của người quân tử. Học sinh khi chào cờ hát rầm
rộ bài Đăng đàn cung, ngoài ra còn được tập hát những bài ca yêu
nước của Hoàng quý và Lưu hữu Phước như Bạch đằng giang, Ải Chi
lăng, Gò Đống đa... và đặc biệt nhất là bài Nước non Lam sơn:
“ Nước non Lam sơn ... Nước non Lam sơn ! bóng cờ bay phất phới!
Khắp nơi cờ vàng ... muôn hồn quân Nam...”. Bên cạnh số ít
tranh của Pétain, Đỗ hữu Vị, học sinh được phát cho không nhiều
tranh về lịch sử Việt nam bằng màu về các anh hùng dân tộc như
Trần Bình Trọng, Lê Lai, Nguyễn Huệ ...
Những biến
thể hòa âm trên những dị bản khác của bài Đăng đàn cung
Trở lại bài quốc ca
Đăng đàn cung, tôi thấy có một điều rất lạ cần chú ý là về sau
ngoài Bắc người lại thấy xuất hiện hai bài Đăng đàn cung khác
với nhạc điệu lơ lớ tương tự có lẽ vì nghệ thuật ký âm và phối
trí có đôi phần khác biệt, lời ca cũng khác hẳn ít nhiều: một
của Carpentier, một của Lê hữu Mục.
Bài Đăng đàn cung là
do Carpentier ký âm năm 1944(?) mà Bác sĩ Nguyễn đương
Tịnh đã chép lại lời ca theo trí nhớ như sau:
Kìa núi vàng bể
bạc...Hóa công...Hóa công đã định, phân nước Đại Việt, gây non
sông vững chãi...đã bốn nghìn tám trăm năm, Xây nền dựng cột nhà
con Hồng cháu Lạc, Văn minh đào tạo ...mầu gấm hoa rườm rà.
Cháu con đem công gìn giữ cho nòi giống Việt muôn đời thịnh trị.
Trong tháng tư năm
2001, tôi lại được nhạc trưởng Lê Như Khôi ( bào huynh của giáo
sư Lê Hữu Mục) cho biết sau những bài Đăng đàn cung đầu tiên do
những ông Fournier, Carpentier ký âm lại còn có bản do nhạc
trưởng Cordier hòa âm lại. Chính ông Lê như Khôi đã từng đánh
nhiều lần khi có lễ lạc vào thời còn vua Bảo Đại và qui chế
Hoàng triều cương thổ cho vùng Đalat. Sau khi cử bài quốc ca”
Tiếng gọi Công dân” thì cử bài Đăng đàn cung này để chào đón nhà
vua ở Đalat .
Nhận định về hơi
nhạc của bài Đăng đàn cung được ký âm theo Tây phương thì cụ
Nguyễn khoa Toàn viết rằng : Thật là rủi thay cho bài Đăng
đàn cung, do những rắc rối về mô thức bản chất, lại giống bao
nhiêu điệu nhạc cổ được Tây phương hóa, đã mất hầu như phần lớn
những đặc tính của một điệu nhạc cổ truyền nguyên thủy. Trong
thời kỳ Pháp bảo hộ, khi nghe bản quốc ca cũ được chuyển theo ký
âm Tây phương, một vài người Việt nam chưa thông hiểu đã đề
quyết cho là một bản quốc ca hoàn toàn mới do người Pháp áp đặt
cho.
Trong một thời
gian, vì sự hiểu lầm này, nhiều người đã thất bại trong sự
thưởng thức giá trị lịch sử và nội tại của hơi nhạc Đăng đàn
cung. Thành thử ra một vài nhạc sĩ đã gia công tái-phối trí
(re-arrange) với phần phụ họa (accompaniment) ngõ hầu phục hồi
lại cho bản quốc ca cũ cái vẻ hoa mỹ của nó. Do đó, những sản
phẩm đều hoàn toàn thay đổi vì mỗi nhạc sĩ đã có khuynh hướng
gửi gắm vào phần phối trí (arrangement) mới cái dấu ấn cá nhân
của mình. ...
( trích dịch The
Đăng-Đàn Cung hymn by H.E. Nguyễn khoa Toàn 1952)
Sự nhận định của cụ
Nguyễn khoa Toàn đã giảng nghĩa rõ ràng tại sao những bản ký âm
Đăng đàn cung khác nhau về nét nhạc nào là của Fournier & Trần
như Tú, nào là của Carpentier. Lời của cụ Nguyễn khoa Toàn cũng
khíến ta hiểu về cái tâm tình hưởng ứng không mấy thiện cảm của
người dân Việt nam bảo hộ đối với các bài Đăng đàn Cung do
Fournier & Trần như Tú và Carpentier ký âm và tái phối trí – vì
dính với những tên tác giả Pháp nên nghĩ rằng do chính quyền
Pháp cố tình áp đặt cho Việt nam. Nhưng là người Việt hậu sinh,
khi ngược giòng thời gian nhìn vào quá khứ thì chúng ta phải
công tâm mà nói rằng “tất cả những bản Quốc ca Đăng đàn cung cũ
“– dù là trong hoàn cảnh xã hội chính trị cũ nào và với những kỹ
thuật sáng tác khác nhau ra sao - đều đã mang một giá trị lịch
sử quí giá vì ghi lại phần nào hơi nhạc trang nghiêm và cổ kính
của nhạc cổ và nhất là gói ghém nhiều tình cảm nồng nàn yêu nước
qua những lời ca đầy tâm huyết mặc dù dưới ách thống trị của
Pháp thực dân.
Về những bài Đăng
đàn cung triều Nguyễn nói trên thì chúng ta có thể nói là đã
điều tra kỹ lưỡng về gốc gác và thời đỉêm ra đời của chúng,
nhưng tôi rất ngạc nhiên khi đọc tài liệu của ông Nguyễn đắc
Xuân trong cuốn Hỏi Đáp về Triều Nguyễn và Huế xưa ( Nhà XB Trẻ)
nêu một ý kiến cho rằng bài Đăng đàn cung là do J.B Chaigneau
người Pháp đã giúp vua Gia Long “ dựa vào hình thức bản “
Marche Militaire” ( Khúc quân hành) của Tây để dựng nên bản Đăng
đàn cung “ quốc thiều triều Nguyễn”( sic!) [ Đôi điều về “
Đăng Đàn Cung” quốc thiều của triều Nguyễn – Thiện Mộc Lan , Tạp
chí Thông tin KH & CNsố 1- 27- 2000, tr. 129]. Tuy ông Xuân đã
nghi ngờ ý kiến vô sở cứ này về J.B Chaigneau, nhưng ông lại
chấp nhận là:” Lời bài Đăng đàn cung, đúng như Thiện MộcLan
viết là của hai ông Nguyễn trung Phán và Nguyễn trung Nghệ. Bà
Huyền con gái của cụ Nguyễn trung Phán đã xác nhận với chung tôi
như thế. “
Nói như vậy cũng là
sai vì dựa vào bài viết của cụ Nguyễn khoa Toàn nói trên thì rõ
ràng lời ca của bài Đăng đàn cung là do cụ Ưng Thiều, chứ
không thể ai khác !
Kết luận
Thay lời kết, ta thấy một Bài Đăng đàn cung tuy đã có nhiều dị
bản dưới nhiều dạng ký âm và hòa âm do nhiều tác giả khác nhau
tùy theo địa phương, ngoài Bắc khác, trong Huế khác chung qui
vẫn là bài Đăng đàn cung chính thức được chính quyền đương thời
sử dụng như bài quốc ca. Phải chăng đúng như lời cụ
Nguyễn Khoa Toàn nhận định: Những sản phẩm đều thay đổi vì
mỗi nhạc sĩ đã có khuynh hướng gửi gắm vào phần phối trí
(arrangement) mới cai dấu ấn cá nhân của mình ( The
Đăng-Đàn Cung hymn by H.E. Nguyễn khoa Toàn 1952). Theo tôi, bản
Đăng Đàn Cung gốc ở Cố Đô Huế ( nhạc do Maurice Fournier – Trần
như Tú và lời do Ưng Thiều) có thể xem như là bản Đăng Đàn Cung
chính thức vì nó trên danh nghĩa đã được cử cho chính nhà vua
nghe trong không khí long trọng của cung đình ở đất Thần Kinh
và sau này ở vùng Hoàng Triều Cương Thổ ( Đà Lạt.). Tuy nhiên,
dù có những bài Đăng Đàn Cung được cử ở đâu thì những bản đó
cũng đã ít nhiều thể hiện được tính cách một bài quốc thiều với
nét nhạc trang nghiêm và bình dị cổ kính .
LÊ VĂN LÂN

Để cung ứng cho quí
bạn đọc đầy đũ hơn, tôi xin in lại ra đây bản Đăng Đàn Cung
chính thức ở với phần phối trí hòa âm thật kỹ từ cuốn Hymmes
et Pavillions d’Indochine dưới tựa đề Hymme Annamite Officiel (
1941)

Ý
Kiến, Phê bình xin gửi về:
bslevanlan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |