|
Vùng Phú Bài của tỉnh Thừa Huế nhìn lại chính là
một vùng ký ức khó phai.
Địa danh Phú Bài gợi cho ta nhiều kỷ niệm đặc
biệt tùy theo góc cạnh nhìn :
_ Phú Bài như là một ga hàng không, một
phi cảng
_ Phú Bài như là một căn cứ quân sự của
Hoa kỳ trong thời chiến tranh VN
_ Phú Bài như là một vùng quê phụ cận
của cố đô Huế
Trong bài này trên tập san Nhớ Huế, tôi
chỉ ghi lại vài ký ức về Phi Cảng Phú Bài qua những thăng
trầm thế cuộc và nhắc lại chút kỷ niệm cá nhân.
Trước hết, Phú Bài là một ga hàng không hay nói
trịnh trọng là một phi cảng của đô thị Huế-Thừa Thiên như tấm
hình tôi lấy từ Internet với những chữ đúc xi-măng trên mặt tiền
của ngôi nhà hai tầng với đài kiểm sóat không-lưu
và ngọn cờ ngạo nghễ tung bay trên đỉnh cột. Hình chụp vào năm
1972.

Theo ký ức của tôi, vào ngày 30 tháng 6, năm
1953, lần đầu tiên tôi cùng vài người bạn đáp máy bay từ
Huế vào Saigon thi Tập dự Dược khoa thì ngôi nhà trên chưa
xây, mà chúng tôi chỉ đến một căn nhà lớn lợp mái tôn làm phòng
đợi và đón khách và một sân đáp máy bay ngắn. Vị trí của nó nằm
cách thị xã Huế 14 cây số về phía Nam, nằm gần sát Quốc Lộ I bên
trái nếu đi từ Huế xuống. Trong những năm cuối thập niên 40 và
đầu thập niên 50, dân Huế mỗi khi muốn ra Hànội hay vào Saigòn
phải di máy bay vì tầu hỏa không có, còn đường
xe hơi
thì tắc nghẽn và hiểm nghèo vì chạy qua vùng Việt Minh kiểm
sóat. Sân bay Phú Bài trở thành một cái cầu không vận hay một
cái lỗ mũi cho nền kinh tế địa phương hô hấp, những món “hàng
ngọai “ tân kỳ tiêu dùng đặc biệt của người dân như những vải
vóc kaki, gabardine, áo mưa nhựa, bút nguyên tử, bút máy Pilot,
những chiếc radio đèn Philips, những dàn và phụ tùng xe đạp,
cho đến những tờ báo Paris-Match, dầu thơm, bơ sữa v.v… đều đến
Huế qua ga hàng không Phú Bài để được bày bán tại những hiệu
Bazar ở đường Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu như An Phú, Mỹ Thắng…
và những tiệm buôn phụ tùng xe đạp như Lộc Lợi, Rồng Vàng, Năm
Châu ( Thời đó, trè em thường nghêu ngao câu hát ngộ nghĩnh sau:
Phanh Lộc Lợi, chuông Rồng vàng, dàn
Năm Châu ráp vô đi liền).
Hãng hàng không mà chúng tôi đi Saigon trong
thời gian này là hãng Cosara do ông Lê văn Hiệp làm đại lý bán
vé ở Huế, văn phòng đưa
đón khách nằm trên đường
Trân Hưng
Đạo, gần góc đường
Phan Bội Châu. Ngoài ra, ở Huế, còn có hãng Aigle d’Azur nằm
cùng đường, đối diện xê xế với sân banh “xép” của thành phố Huế
và trạm bán vé và xe buýt đưa đón khách đi Phú Bài của hãng Air
France nằm kế sau hãng Chaffangeon bên Phố Tây. Nghe nói giữa 3
hãng trên, có một sự cạnh tranh giành khách rất găng, và hãng
Cosara chỉ họat động bay những vùng Huế, Đà Nẵng, Nha Trang và
Saigòn. Lọai máy bay thời đó chỉ là loại Dakota 2 hay 4 cánh
quạt. (DC 3, DC4). Chúng tôi còn nhớ giá vé bay từ Huế vào
Saigon khoảng chừng 1 ngàn ba hay 1 ngàn tư, nhưng để nâng đỡ
học sinh từ Huế du học xa, nên xin tòa Thủ Hiến Trung Phần thời
Phan văn Giáo trả cho phân nửa thôi. Như vậy, người ta có thề
nói sân bay Phú Bài chỉ bắt đầu trở thành ga hàng không dân
sự vào khoảng những năm 48- 50 sau thời gian khởi sự chiến
tranh Việt Pháp trong những năm 46- 48.
Sân bay Phú Bài có từ bao lâu, chúng ta không
biết nhưng cũng đoán rằng nó đã được người Pháp xây cất nó cùng
một lượt với những sân bay Gia Lâm của Hà nội và Tân Sơn Nhất
của Sài gòn, chỉ dùng cho mục đích quân sự và công vụ hành chánh
cùng là đón đưa những quan khách của chính quyền trên những
máy bay cánh quạt. Dân sự di chuyển thường sử dụng đường hỏa xa
xuyên Đông Dương cho đến những năm Nhật chiếm đóng trong những
năm đầu thập niên 40 thì đường sắt bị máy bay Đồng Minh oanh tạc
khiến vài nơi cầu sắt như ở Ga Gôi ( Ninh Binh) bị gẫy, hành
khách phải lâm vào cảnh “tăng bo” (transbordement) – chuyển bờ
qua sông rất khổ sở.
Phi cơ vào thời Pháp là lọai gì?

Hình trên là hình “Vua Bảo Đại duyệt đội tầu bay
ở sân bay Phú Bài trước 1945”. Ta thấy dãy máy bay Morane mà
người dân Việt Nam quen gọi là “ máy bay bà già” vì vừa bay chậm
vừa phát ra những tiếng bành bạch của cánh quạt như một bà già
vậy. (Cũng kể như một kỷ niệm đặc biệt, vua Bảo Đại trước 1945
có một sân bay riêng tại khu Canh Nông ( trước nguyên là bãi
Trường Thi cho sĩ tử ) nằm bên ngòai cửa Hòa Bình của Nội
Thành, Huế. Lâu lâu người dân thành phố Huế thấy Ngài lái chiếc
máy bay hai chỗ ngồi nhào lượn dọc theo sông Hương.)
Tôi lại nhớ vào khoảng năm 1949, có văn hào
Georges Duhamel của viện Hàn Lâm Pháp tới Huế được nhân sĩ Huế
đón rước long trọng tại hội Quảng Tri và ông Thái văn Kiểm là
người đứng giới thiệu. Ngoài ra, trong thời Pháp trước , đất Huế
còn đón nhiều quan khách ngọai quốc hay tài tử điện ảnh, đương
nhiên chỉ trú ngụ tại khách sạn sang trọng duy nhất là Morin.
Vào năm 1952, Hòang đế Bào Đại hồi loan về Huế đương nhiên phải
đến bằng sân bay Phú Bài cổ lỗ này.
Dưới thời VNCH, dưới hình thức là một phi cảng,
Phú Bài được xây cất, chỉnh trang và phát triền cho nhu cầu hàng
không dân sự và quân sự. Nơi đây, đương nhiên chứng kiến nhiều
cảnh đón đưa nhộn nhịp, những giọt lệ chia ly, nhiều tâm tình
bịn rịn: “ lòng của người đi réo kẻ về” và “kẻ về
không nói bước vưong vương”( Tế Hanh- bài Vu vơ trong tậpNghẹn
ngào). Nơi đây cũng là nơi du khách hay giáo sư đến chấm thi
lần đầu tới thăm Cố Đô Huế mang những tâm tình háo hức và lúc về
mang lủ khủ những chiếc nón bài thơ hay gói nem chua, mè xửng và
biết đâu trong đáy lòng vẫn ấp ủ hình dáng một nữ sinh mới quen…
Trong thời tranh đấu Phật giáo và Phật xuống đường, bãi đáp quân
sự của Phú Bài từng đón những chuyến bay C130 chở hàng trăm Cảnh
Sát Dã Chiến… Và những ngày mùa xuân 75 tiền -thất thủ của cố
đô, khung cành phi càng Phú Bài lại càng hoang mang xao xác với
những người muốn đào thoát.
Hiện nay, trong vài năm trở lại, Phi Cảng Phú Bài
theo thông tin Internet đang bắt buộc phải nâng cấp với nhiều sự
chỉnh trang và cải tiến trong hạ tầng kiến tạo cho những dịp Huế
Festival như phi đạo với chiều dài 2700 thước với hệ thống đèn
rọi cực kỳ sáng, 3 bãi đậu cho phi cơ A 320, hệ thống không lưu
VOR/DME, trạm đáp ILS vào giữa năm 2002. Những trang bị trên đã
khiến phi cảng Phú Bài họat động ngày, dù là thời tiết mưa bão.
Nói thế là nói trên dự tính, vào năm 2002, một người bạn tôi về
VN đi máy bay từ SG ra Huế, nhưng không biết sân bay Phú Bài bị
chuyện gì mà tất cả hành khách phải xuống Đà Nẵng đi xe ca ra
Huế. Đúng là chuyện dài “XHCN”!
Từ hình thức một bãi đáp thô sơ cho những chiếc
phi cơ “bà già” lạc hậu cùng những máy bay cánh quạt Dakota, phi
trường Phú Bài nay đang muốn chuyển mình thành một phi cảng
quốc tế với những thiết kế và trang bị hiện đại. Thời gian diễn
ra ngoái nhìn lại cũng đã hơn nửa thế kỷ rồi. Người ta đang kỳ
vọng một giấc mộng là biến phi trường này thành phi cảng quốc tê
và toàn khu Phú Bài thành một đô thị-phi cảng như ở Âu Tây.
Nhưng liệu cái tài tổ chức và quản lý của chính quyền đương cuộc
lạc hậu và ngoan cố ở Việt Nam có đủ tài điều động để giấc mơ
trên thành tựu không? Đất nước Việt Nam dưới sự điều khiển của
những tài công Xã Hội Chủ Nghĩa hiện nay mong rằng không giống
như:
…………..… những chiếc tàu
Ngàn đời không đủ sức đi mau;
Có gì vương víu trong hơi máy,
Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau.
Tế Hanh ( Vu vơ
trong tập Nghẹn ngào)
Một tấm ảnh cũ thời 53
Tôi cũng mạo muội gửi quí bạn một chút riêng tư
của tôi qua một tấm ảnh chụp vào mùa hè 1953 trên đường Catinat
ở Saigon trước cửa Nhà Hát Lớn ( sau trở thành tòa nhà Quốc Hội
thời VNCH trước 1975). Vào năm 1953, chúng tôi là năm tên học
trò của trường Khải Định – Huế khóa 1945- 1952, lần đầu
tiên rời đất Huế bằng phi cơ tại phi trường Phú Bài để
vô Saigon thi cuối năm Tập sự Dược Khoa ( Stagiaires en
Pharmacie) tại Bệnh viện Grall Saigon. ( Hình người kể từ phía
trái là Lưu Sơn, Hùynh văn Chỉnh, Trần Ngọc Du hùng dũng đi hàng
đầu .Đi thụt lại một bước vào hàng sau là Lê văn Lân, và Võ Đăng
Đài . Quang cảnh của phố Catinat thời đó còn có bóng dáng những
chiếc xe Jeep nhà binh Pháp, xe hơi Reynault, chiếc xích lô máy…
Để ý kiểu mặc áo sơ mi sắn tay của dân Huế và chiếc nón cối
kiểu Huế ( còn gọi là “mũ cối Bảo Đại”) mà một mình Võ Đăng Đải
đội do nhà chế tạo Quốc Thuận Ngã giữa Huế một thời đã sản
xuất. Ảnh chụp vào thời này, trước cừa Nhà Hát Lớn là do những
người chụp ảnh dạo dùng máy hình Rolleiflex hình vuông, ảnh chụp
lấy liền.)
Kết quả kỳ thi Dược năm 1953 thì trong số 5 tên
học trò Huế vô thi 4 tên đã đậu, chỉ riêng rớt một người , đó là
Lê văn Lân tôi.
Dấu vết thời gian , chẳng xóa nhòa
Ngóai nhìn ảnh cũ thuở “năm ba”
Năm tên trò Huế, vô thi Dược
Bốn tên đều đậu, rớt mình ta.

Âu đây chính là một sự chuyển nghiệp, nhờ rớt Tập
sự Dược nên tôi kịp thời chuyển qua học PCB ( Physique- Chimie-
Biologie) mà thời đó dân Saigon thường gọi tếu là Phải Chơi Bời.
Nói là “chơi bời” chứ học vào những năm sau cũng trần ai gian
khổ mới ra ngành Y để làm một thứ “hàn lang”. Chung qui, chuyện
đời đều do nghiệp số quyết định mà thôi. Nhìn lại ảnh xưa, ta
thấy ba tên đi hàng đầu là Lưu Sơn ( quen gọi là “Lưu Soong “),
Hùynh văn Chỉnh và Trần đại Du vì cao lớn chân dài nên sải bước
đi trước, bỏ lại hàng sau là Lê văn Lân và Võ Đăng Đài ( còn gọi
là Đài loa) ốm ròm. Qua Mỹ, tôi thấy vóc người cao thì trông
mới đẹp. Nhìn lại quá trình, bốn Dược sĩ tốt nghiệp đều “khẳm
tiền” và danh vọng: Lưu Soong ( quá cố cách đây vài năm) trước
75 có tiệm thuốc tây lớn trên đường Trần Hưng Đạo Huế , Hùynh
văn Chỉnh cũng phát đạt với tiệm thuốc của mình ở Huế, lại một
thời còn làm Dân Biểu ngon lành, hiện vui sống tuổi già ở
Houston. Trần đại Du “đẹp giai” tóc chải Tango thì khỏi nói tiền
bạc nhiều phải mở ngân hàng cho thiên hạ vay và về già còn lấy
tiền đem “giặt “ cho sạch nữa, chỉ riêng Võ Đăng Đài, còn mở
Pharmacy ở Hoa Ký, đừng khinh hắn nhỏ con.. cũng nhiều đời vợ
lắm ( còn 4 tên kia tuy to con nhưng một vợ mà thôi, đừng coi
mặt mà bắt hình dung).
LÊ VĂN LÂN
Ý
Kiến, Phê bình xin gửi về:
bslevanlan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |