|
Năm nay ngày 1
tháng 10 , 2007 dương lịch là ngày kỷ niệm Lê Lai liều mình cứu
chúa. Chúa là vua Lê Lợi. Vì tính chất đặc biệt của hai nhân
vật lịch sữ này qua câu tục ngữ “ Hăm mốt Lê Lai, Hăm hai Lê
Lợi.
Vậy trước hết
tôi xin ôn lại vài nét về lịch sử về hai người này và mối liên
hệ ra sao?
Người Việt
chúng ta ai mà không biết người anh hùng áo vải đất Lam Sơn,
tỉnh Thanh hoá đã tự xưng là Bình Định Vương dựng cờ khởi nghĩa
chống nhà Minh sang đô hộ nước ta vào đầu thế kỷ 15 ( thời gian
17 năm từ 1414 đến 1427). Cuộc kháng chiến gian khổ của Bình
Định Vương Lê Lợi kéo dài 10 năm đễ kết thúc vẻ vang bằng sự
đuổi quân nhà Minh về Tầu rồi ngài lên ngôi vua tức là vua Lê
Thái Tổ đặt quốc hiệu là Đại Việt, niên hiệu là Thuận Thiên
(1428- 1433).
Trong vòng 10 năm mà người anh hùng Lê Lợi đã cầm đầu cuộc kháng
chiến rồi thành công như vậy thì chứng tỏ quân Tầu nhà Minh đã
áp dụng một chế độ cai trị vô cùng hà khắc và bạo ngược để đến
nỗi những con dân Việt nam không thể chịu đựng nổi mới một lòng
đoàn kết nổi lê giúp cho vua Lê Lợi thành công. Ta muốn hiểu rõ thêm về
tính chất độc ác của người Tầu như thế nào?
Tôi xin dựa
vào cuốn VN Sử lươc của sữ gia Trần Trọng Kim mà kể lại những
nét chính nhé:
Trong các cuộc
người Tầu sang đô hộ VN thời trước thì cuộc đô hộ của nhà Minh
vô cùng hiểm ác:
Sau khi hai tướng Trương
Phụ và Mộc Thạnh đánh dẹp xong tàn quân của nhà Trần thì thiết
lập ngay một nền cai trị rất chặt chẽ với sự lập sổ kiểm tra
những dân đinh VN. Khi họ về Tầu thì bắt đàn bà, con gái theo
rất nhiều. Bọn Tầu Hoàng Phúc ở lại thì lại càng siết chặt hơn
với chủ trương đồng hoá người Việt với người Tầu. Lập ra đền
miếu, bắt người mình cúng tế theo tục bên Tàu; rồi từ cách ăn
mặc cho chí sự học hành, việc gì cũng bắt theo người Tàu cả. Còn
cái gì là di tích của nước mình như là sách vở, thì thu nhặt đem
về Tàu hết sạch. Lại đặt ra thuế lệ, bổ thêm sưu sịch để lấy
tiền của, làm cho dân ta bấy giời phải nhiều điều khổ nhục.
Chính trong
cảnh người dân VN sống dưới gông ách của lũ giặc Minh, ông Lê
Lợi vốn dòng dõi hào trưởng đã nuôi một chí khí quật
cường,thường giao du với những kẻ hào kiệt và nghiên cứu về binh
thư trận pháp. Quan nhà Minh nghe tiếng ông bèn dụ dỗ ông với
chức trọng quyền cao, nhưng ông từ chối. Ông vẫn thường nói:
Làm trai sinh ở trên đời, nên giúp nạn lớn, lập công to, lưu
tiếng thơm lại muôn đời cho hậu thế, chớ sao lại chịu làm tôi tớ
cho kẻ ngoại bang!
Nhiều anh hùng
khắp nơi đã kéo tơí giúp ông theo lời kêu gọi rồi cùng nhau kéo
vào đất Lam sơn - trong đó nổi danh nhất có quân sư Nguyễn Trãi.
Vào năm 1417, khi binh lương đã đầy đủ và mọi sự hoàn tất thì
cuộc khởi nghĩa bắt đầu đễ chống lại quân Minh dưới ngọn cờ vàng
của Bình Định Vương Lê Lợi.
Kễ tới đây,
tôi còn nhớ thuộc lòng điệp khúc của bài hùng ca Nước Non
Lam Sơn của nhạc sĩ Hoàng Quí như sau: Nước non Lam sơn,
Nước non Lam sơn. Bóng cờ bay phất phới! Khắp nơi cờ vàng, Khắp
nơi cờ vàng, Muôn hồn quân Nam.
Việc Bình định
vuơng Lê Lợi khởi nghĩa tuy là thuận với lòng người và lẽ công
bằng, nhưng mà thế lực của đám nghĩa quân chỉ độ vài ngàn người
lúc bấy giờ còn yếu so với quân Minh đông đến chục vạn binh
tướng đóng khắp nơi. Do đó, nghĩa quân của Bình định vương sau
mấy trận giao tranh với tướng nhà Minh ở Tây đô (Thanh Hoá), có
trận thắng, có trận thua, có lần Lê Lợi phải bỏ vợ con cho giặc
bắt rồi rút vào cố thủ ở Chí Linh. Sau nhờ hồng phúc của nước
Việt, Bình Định Vương mới đánh lấy tỉnh Nghệ Anh, rồi từ đó nới
rộng tầm hoạt động đánh ra mặt Bắc, lấy lại toàn thể giang sơn.
Vai trò của
nhân vật Lê Lai đã xuất hiện trong giai đoạn nào của cuộc
khởi nghĩa chống nhà Minh?
Đất Chí Linh
là cứ điểm quan trọng đối với nghĩa binh Bình Định Vương. Năm
Kỷ hợi 1419, sau khi đánh quân Minh ở Nga Lạc (huyện Nga sơn,
Thanh hoá) giết được một tướng Minh, thì lực lượng nghĩa binh đã
còn ít, đánh lâu không được thì phải rút về Chí Linh. Quan nhà
Minh biết rằng Chí Linh là nơi yếu địa của Bình Định Vương nên
đem nhiều quân vây khổn nơi này với ý đồ tiêu diệt tận ổ cuộc
nổi dậy. Chính vào thời điểm này đã xuất hiện vai trò của nhân
vật lịch sử tên là Lê Lai.
Tên thật Lê
Lai là Nguyễn Thân, vốn là tùy tướng của BĐV Lê Lợi quê ở đất
Lam sơn, từ lúc mới khởi nghĩa nên được chúa công của mình tin
yêu và đổi tên họ là Lê Lai.
Trước tình thế
yếu địa Chí Linh bị vây kín nguy ngập, BĐV hỏi các tướng:
Việc lớn cứu nước chưa thành, nay sắp vỡ tan nếu ta bị bắt và
bị giết! Trong các tướng theo ta, có ai dám làm như ngươi Kỷ Tín
ngày trước chịu chết thay cho vua Hán Cao tổ không? Lê Lai
chính là một nhân vật Kỷ Tín trứ danh của Việt Nam đó! Lê Lai
nghe vậy bèn tình nguyện mặc áo ngự bào của BĐV rồi lĩnh binh ra
trận để cho quân Minh ào tới đánh rồi giết đi, trong khi đó thì
BĐV lẽn trốn thoát để sau đó gầy dựng lại binh mã quân lương
chiến đấu cho đến thành công. Lê Lai không những cứu mạng sống
cho ông Lê Lợi mà còn cứu vận mệnh nước Việt qua hành động liều
chết hy sinh của mình. Không có Lê Lai, sẽ không có vua Lê Thái
Tổ sau này. Cãm kích về sự liều mình hy sinh của Lê Lai, BĐV đã
thề rằng khi dựng cơ nghiệp nhà Lê thành công thì truy tặng ân
thưởng cho Lê Lai và con cháu và khi người sau giỗ cúng nhà vua
thì phải giỗ cúng Lê Lai trước. Do đó, ngày kỷ niệm giỗ Lê Lợi
vào ngày 22 thì ngày 21 tháng 8 phải kỷ niệm giỗ Lê Lai truớc;
bởi thế mới có câu tục ngữ: Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi.
Nếu các bạn
thích nghe truyện điển tích.Tàu ! Xin hãy cùng tôi ngược dòng
lịch sữ Tầu để nói rõ điển tích Kỷ Tín là ai và đã làm gì?
Kỷ Tín là một
bầy tôi trung thành của ông Lưu Bang còn gọi là Bái công (sau
này là Hán Cao tổ lập ra nhà Hán). Khi Bái công bị Hạng Võ vây
khổn trong thành Huỳnh Dương không đường chạy thoát. Kỷ Tín già
làm Bái công để cho quân giặc bắt để Bái công trốn thoát an
toàn. Cũng như Lê Lai đã giả làm Bình Định Vương để cho quân
Minh bắt để Bình Định Vương trốn thoát an toàn rồi tiếp tục
kháng chiến.
Câu chuyện kể
nghe thì vắn tắt như vậy, nhưng tình tiết của Kỷ Tín trong
truyện Hán Sỡ tranh hùng nghe ra nhiều chi tiết dai dẳng lâm ly
và lý thú. Tinh thần truyện Tầu thì luôn luôn hấp dẫn người
nghe.
Nguyên là Hạng
Võ cử đại binh vây khổn thành Huỳnh Dương có Lưu Bang ở trong
đó. Quân Hạng Võ sức như vũ bão mà quân tiếp viện của tướng Hàn
Tín của Lưu Bang chưa về cứu kịp. Lại có tin rằng Hạng Võ sẽ
ngăn nước sông Vinh để cho nước tràn vào thành Hùynh Dương cho
mọi người chết đuối. Lưu Bang rất hoang mang sợ hãi, mấy dũng
tướng tùy tùng bèn đề nghị xông ra liều chết một mất một còn.
Nhưng quân sư Trần Bình bèn nói: Đó là chuyện hạ sách đối cùng.
Rồi ông kề tai nói nhỏ cho Lưu Bang nghe, thì một hồi Lưu Bang
tủm tỉm cười: Kế đó hay, cố gắng mà làm nhé!
Hôm sau,
Trương Lương tuân lệnh mở tiệc rượu mời các tướng lãnh đến dự.
Trong quân trướng, có treo một bức tranh lớn mà không ai hiểu
tranh muốn nói lên điều gì. Tranh vẽ một chiếc xe lẻ loi ở bìa
rừng trong đó có một người ngồi, kế đó là một bụi cây có một
bóng người lấp ló núp. Trong bối cảnh xa xa của tranh vẽ hàng hà
sa số quân lính hăm hở đuổi theo. Trương Lương bấy giờ mới chỉ
bức tranh mà giải thích:
_Ngày xưa,
vua Tề Cảnh Công đánh với quân Tấn. Cảnh công thua to, quân sĩ
chạy trốn hết, bỏ ông trơ trọi trong một chiếc xe. May sao có
một nông phu tình cờ đẩy xe đến một cánh rừng, nhưng quân Tấn
đuổi theo rất ngặt. Cuối cùng người nông phu mới bảo Cảnh Công
thay áo quần của mình còn mình thì mặc lấy y phục của Cảnh Công.
Cảnh công đối cùng phãi nghe lời. Người nông phu bị bắt để Cảnh
công chạy thoát. Quân sĩ đưa người nông phu đến trước mặt vua
Tấn. Vua Tấn ra lệnh đem giết. Người nông phu bèn nói: Phận
tôi hèn hạ, hy sinh cho vua Cảnh công thì chết đâu có gì đáng
nói. Còn nếu như sau này, chính nhà vua gặp cảnh bị như Tề Cảnh
công thì có ai dám đứng ra làm như tôi để bị giết sao? Vua
Tấn nghe cho là có nghĩa bèn tha nên nguời nông phu thoát chết.
Sau khi giải
thích bức tranh, Trương Lương mới nói thêm: Đó là nhờ người
nông phu mà Tể Cảnh Công thành công với nghiệp bá và người
nông phú thì danh tiếng lưu truyền mãi. Nay chúa thượng của
chúng ta bị nạn như vậy. các tướng lãnh ai là người làm như
người nông phu?
Nghe
thế, tất cả các tướng lãnh đều hăm hở dơ tay lên tình nguyện.
Nhưng Trương Lương bèn nói: Xin ngợi khen tấm lòng dũng cãm
của chư vị, chúng ta chỉ muốn chọn ông Kỷ Tín vì ông trông giống
Chúa thượng nhất thì mưu kế mới thành công!
Đòn tâm lý của
Trương Lương vô cùng tuyệt diệu để mọi người hăm hở tình ngguyện
và Kỷ tín được chọn hy sinh cảm thấy vô cùng vinh dự trước những
tướng lãnh. Khiển tướng không bằng khích tướng!
Khi Trương
Lương đưa Kỷ Tín ra mắt Lưu Bang thì Lưu Bang xua tay từ chối
nói: Lưu Bang này không dám nhận vì bản thân chưa làm gì để
xứng đáng để tướng quân phải hy sinh, Kỷ Tín nghe vậy bèn
quì xuống và rút dao ra kề cổ mình mà nói: Việc gấp rút quá!
Nếu chúa thượng không nghe tôi thì tôi xin chết trước mặt để
chứng tỏ lòng tận trung của tôi.
Bái công bèn
cúi xuống mà vừa nói vùa khóc: Lòng tướng quân quá cao cả.
Chẳng hay tướng quân còn cha mẹ không? Kỷ tín đáp còn mẹ
già, Bái công nói đó là người thân mẫu mà mình sẽ thờ đến chết.
Bái công hỏi
Kỷ tín có vợ chưa? Kỷ tín đáp có, Bái công nói: Vợ Kỷ Tín là chị
dâu của mình.
Bái công hỏi
Kỷ tín có con chưa? Kỷ tín đáp có một con trai, Bái công nói đó
là con của mình sẽ nuôi dậy suốt đời. Cả ba người me, vợ, con
của Kỷ tín đều được Bái Công thề phụng dưởng và săn sóc cả. Kỷ
Tín nghe vậy khóc rống lên mà nói: Kỷ tín này chết đáng lắm! Thế
là Lưu Bang và Kỷ tín ôm nhau khóc ròng.
Đòn tâm lý của
Lưu Bang còn cao hơn cả Trương Lương nữa. Chuyện Tàu này nghe
tuyệt quá, phải không , các bạn!
Sau khi thu
xếp mưu kế như vậy, Trần Bình và Trương Lương bèn thảo một bức
thư cho Lưu Bang gửi cho Hạng Võ ngỏ ý qui hàng và xin được tha
chết rút ra đi khỏi thành an toàn.
Thư đến tay
Hạng Võ, Hạng Võ hỏi sứ giả bao giờ thì Lưu Bang ra thành đầu
hàng thì sứ giả nói : Ngay đêm nay!
Khi sứ giả về
rồi, Hạng Võ dặn các tướng lãnh của mình: Khi nào thấy xe của
Luu Bang kéo ra thì nhất tề phải xông lại bằm nát thây nó ra cho
ta hả giận nhé!
Vào ngày hôm
ấy, lúc xẩm tối, cổng phía Đông của thành Huỳnh Dương mở ra rồi
binh tướng của Hạng Võ giàn ra chờ đón, bỗng thấy một đoàn mỹ nữ
khoan thai ung dung tiến ra. Hạng Võ thấy thế cả cười: Từ lâu
ta nghe Lưu Bang là một tên háo sắc, quả đúng không sai; như thế
làm sao mà đánh giặc được!
Đoàn mỹ nữ
đông cả ngàn người sắp hàng hai cứ thong thả diễn hành, áo quần
lả lướt, son phấn thơm tho khiến đám binh tướng của Hạng Võ trố
mắt nhìn rồi xầm xì bàn tán rồi binh sĩ ỡ khắp cửa thành khác
kéo lại cửa thành phía Đông mà xem dù rằng những tướng chỉ huy
không ngăn cản nổi. Trong lúc đó, thừa cơ lộn xộn, dưới ánh đuốc
bập bùng nhá nhem, Lưu Bang cùng các tùy tướng cải trang ngồi
trên những con tuấn mã lẻn ra từ cửa thành phía Tây mà trốn
thoát.
Đoàn mỹ nữ
diễn hành lâu đến một hai canh giờ thì mới tới chiếc long xa chở
Luu Bang giả ra, chung quanh có cờ quạt che kín mít. Lúc bấy
giờ, quân lính Sở mới uà tới kéo xe này đến trước mặt Hạng Võ.
Kỷ Tín hay Lưu Bang giả ngồi li trong xe không chịu bước ra để
quì bái chào Hạng Võ, trái lại còn chửi bới om xòm. Mọi người
khám phá ra là bị lừa. Tuy nhiên, Hạng Võ cũng cảm phục tinh
thần của Kỷ tín mà muốn thu phục, nhưng Kỷ tín lại càng chửi
thêm. Cuối cùng, Hạng Võ ra lệnh cho binh sĩ ném hàng trăm bó
đuốc vào xe của Kỷ Tín để thiêu sống cả xe và người. Trong khi
đó, Lưu Bang và đoàn tùy tướng đã cao chạy xa bay.
Chuyện Kỷ tín
giả trang để cứu Hán Cao tổ Lưu Bang là một điển tích Tàu với
nhiều tình tiết nghĩa khí để có thể dựng thành một vở tuồng
hay.
Chuyện Lê Lai
liều mình cứu Bình Định Vương Lê Lợi cũng là một điển tích trứ
danh trong sử VN. BĐV Lê Lợi quả là một nhà lãnh đạo quân sự và
chính trị biết áp dụng những yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân
hoà để đạt đến sự thành công. Câu tục ngữ : Hăm mốt Lê Lai,
hăm hai Lê Lợi chứng tỏ một tinh thần ghi khắc tri ân vô
cùng sâu sắc.
Ý
Kiến, Phê bình xin gửi về:
bslevanlan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |