CÁCH MỘT GIÒNG SÔNG…



 

         Bài này viết để đóng góp ý kiến của tôi về bài thơ của Nguyễn Du: VỌNG THIÊN THAI TỰ mà bác sĩ thân hữu Hồ Đắc Duy  đã viết thành bài CON ĐƯỜNG NÀO MÀ NGUYỄN DU ĐÃ ĐI…đăng trên Khoahoc.net tháng 2, 2008.

      Phải lấy chân tình mà nói, bài viết của bạn đã đưa ra một cái nhìn mới rất  thú vị về con  đường lên núi Thiên Thai nơi có ngôi cổ tự là chùa Thuyền Tông (hay chùa Thiên Thai)  ở phía tây bắc huyện Hương Thủy. Cái mới của bạn là dựa vào sự khảo sát trên thực địa và tái tạo vùng địa lý với các dữ kiện cách đây hơn 200 năm trên máy tính.

 

Nhưng về phần tôi, bài viết của bạn đã kích thích óc tò mò của tôi nhưng lại gợi cho tôi một cái nhìn khác với bạn qua một cái nhìn rất cổ điển: đó là dựa vào những tư liệu thư tịch mà tôi hiện có

 

A-    Cái nhìn của Hồ Đắc Duy  tóm lược như sau:

Nguyên văn của bạn viết nghiêng trong phần kết luận là:

Để đến chùa Thiên Thai chỉ có 2 lối đi:

1- Theo con đường Thiên Lý thì chỉ cần rẽ trái đi men theo chân núi Thần Phù (Giạ Lê) lên hướng bắc hoặc từ ngã ba Ngự Bình – Núi Bân về hướng Nam cũng vài Km là có thể vào chùa Thiên Thai

2-  Theo hướng từ Long Thọ qua Trúc Lâm Thiên An tức là đi theo hướng Tây – Đông thì sẽ gặp sông mà Nguyễn Du gọi Điều Giang.

 

Như vậy thì

·                            lần thứ nhất nhà đại thi hào đi chùa Thiên Thai bằng đường Thiên Lý

·                            và lần thứ hai theo phỏng đoán thì Nguyễn Du đã đi theo hướng Tây Đông tức là đi từ Thiên An về nên không thể sang sông.

 

            Do đó, bạn HĐD mới dùng cái nhìn này để giải thích bài thơ chữ Hán VỌNG THIÊN THAI TỰ của Nguyễn Du, đặc biệt nhắm vào câu thứ hai:  Cách nhất điều giang tự bất thông.

 

            Nguyên văn toàn bài thơ  “Vọng Thiên Thai Tự”  trên như sau:

 

Vọng Thiên Thai Tự

Thiên Thai sơn tại đế thành đông

Cách nhất điều giang tự bất thông.

Cổ tự thu mai hoàng diệp lý

Tiên triều tăng lão bạch vân trung

Khả liên bạch phát cung khu dịch

Bất dữ thanh sơn tương thủy chung.

Ký đắc niên tiền tằng nhất đáo

Cảnh Hưng do quải cựu thời trung

 

Thi sĩ Tô Kiều Ngân đã dịch ra thơ Việt như sau:

Nhớ chùa Thiên Thai:

Thiên Thai chùa dựng phía thành Đông

Khó đến vì chưng cách bức sông

Thu mới lá vàng che cổ tự

Triều xưa mấy trắng lão sư ông

Thương ta đầu bạc còn đeo nợ

Chẳng được cùng non vẹn thủy chung

Nhớ lại một lần ta đến đó

Cảnh Hưng còn thấy quả chuông đồng.

 

            Theo bạn Hồ Đắc Duy, thì con sông ngăn cách không cho Nguyễn Du qua chùa Thiên Thai lần thứ hai là con sông Điều Giang( viết hoa)

 

B-     Cái nhìn của Lê văn Lân:

      Cái nhìn của tôi rất cũ kỹ chỉ dựa vào ngữ cành chữ nghĩa của bài thơ chữ Hán để cuối cùng phối kiểm bằng sự dựa vào một cái bản đồ.

            Theo tôi thì sau khi đọc kỷ từng chữ của bài Vọng Thiên Thai Tự của Nguyễn Du, thì đi đến kết luận là:

_   Nguyển Du chỉ đi viếng cành chùa Thiên Thai này duy nhất một lần thôi.

_   Sông “Điều Giang” mà bạn Hồ Đắc Duy nhắc đến trước sau như một vẫn là con sông Hương dù là đi đến chùa bằng lối nào.

 

            Sau đây là những đề mục xin trình bầy với bạn:

 

            a ) Mổ xẻ chữ VỌNG của tựa đề Vọng Thiên Thai Tự:

            Anh Tô Kiều Ngân dịch đầu đề này là Nhớ Chùa Thiên Thai chứng tỏ Nguyễn Du không đến chùa này một lần thứ hai nào cả sau lần thăm thứ nhất trước đó vài năm qua câu:

Ký đắc niên tiền tằng nhất đáo ( Nhớ hồi năm trước đã lên chơi).

            Nếu Nguyển Du lại lên viếng cảnh chùa lần nữa thì chắc không dùng chữ VỌNG mà chữ Tái Đáo Thiên Thai Tự.

            Vọng ( viết với bộ Nguyệt) có nghĩa là trông ngắm từ xa, trông vời, trông ngóng, trông nhớ như trong nhiều từ ngữ quen thuộc như vọng viển kính, vọng phu, vọng bái, vọng lâu v.v…

            Câu thơ Lý Bạch: Sàng đầu vọng minh nguyêt, Đê đầu tư cố hương … thì Vọng là ngắm từ xa. Chữ Vọng vân là ngắm mây mà nhớ đến quê nhà, đến cha mẹ.

            Trong cuốn Thơ Chữ Hán Nguyễn Du do học giả  Đào Duy Anh dịch nghĩa và chú thích ( Nhà Xuất bản Văn học Hà Nội – 1988) thì Nguyễn Du làm bài này lúc đã trở lại Huế làm quan chức Tham Tri và câu  Ký đắc niên tiền tằng nhất đáo, Cảnh Hưng do quải cựu thời trung khiến người ta đoán rằng bài này Nguyễn Du làm trong thời gian làm quan ở Huế sau khi đi sứ về và nhớ lại năm xưa có đi thăm chùa Thiên Thai trước khi làm Cai Bạ ở Quảng Bình,

            Trong cuốn sách nói trên, ở phần Phàm Lệ, ông Đào Duy Anh nói rõ hơn với chi tiết :

“Tập Nam Trung tạp ngâm …gồm 40 bài là nhũng bài thuộc hai giai đoạn:

_ giai đoạn thứ nhất 5 năm là thời gian Nguyễn Du làm quan ở Huế từ đầu 1805 đến 1809

_ và giai đoạn thứ hai 4 năm là thời gian Nguyễn Du làm Cai bạ Quảng Binh từ 1809 đến 1812 trước khi đi sứ năm 1813.

            Về giai đoạn Nguyển Du làm quan ở Huế từ đầu năm 1814 sau khi đi sứ về đến khi mất là năm 1820 thì chúng tôi thấy hình như chỉ  có một bài Vọng Thiên Thai tự mà thôi. Phần này chắc là còn thiếu nhiều bài”

            Tính theo tuồi thì năm 1815 thì Nguyễn Du trở lại Kinh đô được đặc cách thăng Hữu Tham Tri bộ Lể vào lúc 51 tuổi cho đến tháng 9 năm 1820 thì nhuốm bệnh từ trần lúc 56 tuổi. 

Vấn đề nêu ra với hai giả thuyết:

1-                            Giả thuyết thứ nhất là Nguyễn Du trong 6 năm cuối đời ( 1814- 18200 đã tạo dịp nào để làm một cuộc du ngoạn thứ hai thăm Chùa Thiên Thai như lời của bác sĩ Hồ Đắc Duy bằng cách đi  ngược giòng Hương giang là  “theo hướng từ Long Thọ qua Trúc Lâm Thiên An tức là đi theo hướng Tây – Đông thì sẽ gặp sông mà Nguyễn Du gọi Điều Giang” nên “không thể sang sông!  Lần thứ hai này không biết là đi ngựa hay đi cáng, với đường đất xa hơn và diệu vợi và chắc là ít người đi để đến nỗi khi đến nơi thì ở vùng sông “Điều Giang” không một chiếc đò ngang để qua sông, nên đành đứng ở bờ sông để nhìn ngóng về bờ bên kia có chùa Thiên Thai.

2-                            Hay giả thuyết thứ hai theo tôi là cụ Tham Tri Nguyễn Du tuổi già trên 50 “ đường đi lại, tuổi già thêm nhác” không đi chơi xa đâu cả nên đành nằm ở  nhà mà nhớ vọng về chuyến thăm Chùa Thiên Thai vào vài năm trước mà than tiếc dĩ vãng

               

            Tôi đưa ra giả thuyết thứ hai là Nguyễn Du “ nhớ dĩ vãng ‘ mà không đi thăm chùa lần nữa vì hình ảnh chùa còn in sâu vào ký ức nhưng không thực hiện nổi.

            Đọc lại bài thơ thì ta thấy trước hết phần nhập đề khai thừa là một lời than bất lực trước hiện tình hòan cảnh : Cảnh chủa nằm ở phía đông của Huế chỉ cách một giòng sông tại sao con đường hầu như  không thông thương vậy?

            Có nhiều lý do có thể cản trở không cho Nguyễn Du thực hiện nổi, không phải duy nhất  là do cách trở địa lý sông nước khách quan mà có thể là những nguyên nhân chủ quan như sức khỏe, tài chánh và bận bịu công việc gì đó. Giọng thơ hoài vọng của cụ Tham Tri u uẩn với sắc mầu dĩ vãng nhắc đến  cảnh chùa vùi trong lớp lá thu vàng và hình ảnh một lão tăng triều Lê thuở trước trong môt khung cảnh cổ tự đầy mây trắng. Lá thu vàng và màu mây trắng bay là dấu ấn của trí tưởng nhớ nhung man mác như Nguyễn Du từng sử dụng rất sở trường trong thơ tứ của truyện Kiều, để cuối cùng kết luận với hình ảnh của quả chuông đúc vào triều vua cũ để hạ màn cho giòng tâm tưởng.

            Nói về hòan cảnh sống thanh bần của Nguyễn Du trong thời gian ở Huế vào những năm cuối đời thì tra cứu vài bài thơ chữ Hán khác ta bèn thấy hé lộ như sau: Ngòai mái đầu sớm bạc thì luôn luôn có vẻ không khả quan vì đêm nằm trong người cảm thấy ớn lạnh vì thiếu chăn ấm chống cái rét xuân, suy tư mất ngũ nhớ về quê hương Hà Tịnh với đàn con 10 người mà lương tiền Tham Tri bộ Lễ thanh liêm không đủ dư dã mà tiêu dùng cho nhu cầu bản thân,

            Thậm chí ngòai đường gặp bạn quen cũ ngòai Thăng Long vô Huế, ăn mặc lam lũ ngại không dám chào đồng hương nên Nguyễn Du cũng sót xa thương cảm… Hoàn cảnh sống như vậy thì Nguyễn Du vốn ít giao du bạn hữu  lấy đâu ra tiền mướn cáng, mướn ngựa mà du ngọan xa  bằng cách ngược giòng Hương giang viếng cảnh chùa như thuở thiếu niên thích bay nhẫy nghêu ngao vui thú sơn hà.

 

            Câu thơ than cái lạnh và trăn trở về đêm là:

            Mãn địa phiền thanh văn dạ vũ

            Nhất sang cô muộn địch xuân hàn

             Khắp đất mưa đêm nghe tiếng nhặt,

            Một giường gối muộn chống hơi hàn

            ( Đọan  số 2 của Ngẫu thư Công quán bích – dịch bởi Đào Duy Anh)

 

            Câu thơ nhắc đến 10 đứa con còn ở lại Hà Tịnh bị đói vì hạn hán, da xanh như tầu lá:

            Cố hương kháng hạn đại phường nông

            Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng

            Quê nhà hạn hán hại hoa mầu,

            Mười đứa con thơ xanh tựa rau

            ( Đọan số 2 của bài Ngẫu hứng – dịch bởi Phạm Khắc Khoan – Lê Thước)

 

            Đọan thơ lánh mặt người quen ngoài đường là:

            Hữu nhất nhân yên lương khả ai,

            Phá y tàn lạp sắc như khôi

            Tỵ nhân đản mịch đạo bang tẩu

            Tri thị Thăng long thành lý lai

            Có một người kia thực đáng thương,

            Nón xơ áo rách sắc xanh vàng

            Tránh người cố né bên đường lủi

            Biết khách từ Thăng Long mới sang

            ( Bài Ngẫu hứng số 5. Đào Duy Anh dịch)

 

            Câu thơ than tuổi già chỉ lo sinh kế với nhu cầu ăn mặc mà không còn cái cái ngông vui chơi như lúc trẻ:

            Bạch đầu sở kế duy y thực

            Hà đắc cuồng oa tự thiếu niên

            Bạc đầu luẩn quẩn ăn cùng mặc,

            Sao được nghêu ngao tựa thiếu niên

            ( Bài Dạ tọa – PKKhoan và Lê Thước dịch)

 

b) Mổ xẻ  bốn chữ : Cách nhất điều giang 

“Cách nhất điều giang” theo nghĩa sát từng chữ theo ngữ pháp Hán tự là : cách một con sông! Trong phần sau, tôi sẽ trình bày rõ hơn về chữ “ điều ” với chức năng là một tiếng loại tự hay mạo tự (article) ở truớc chữ “giang”ra sao để hiểu “ nhất điều giang“ là một con sông

            Bây giờ xin hãy nhìn vào Sơ đồ Di tích Thắng Cảnh Huế mà định vị ngôi chùa Thiên Thai so với Sông Hương ra sao?

            Chùa Thuyền Tông (hay chùa Thiên Thai) nằm ở chân núi Thiên Thai , sau lưng núi Ngự Bình, núi Bân và Đàn Nam Giao ( hay phía tây bắc của huyện Hương Thủy) tức là nằm bên hữu ngạn của giòng Hương giang, đối với Kinh Thành Huế nằm bên tả ngạn của sông này

 

PHỤ BẢN 1: SƠ ĐỒ THẮNG CẢNH KINH ĐÔ HUẾ về những lối đường lên Thiên Thai tư ở Huế

 

1) Đường theo Mũi tên số 1:

Hướng đi bằng đường bộ của  mọi người ở phía hữu ngạn Sông Hưong vào thế kỷ 20  để lên Thiên Thai tự  ( không qua sông) mà  L. Sogny và của Hồ Đắc Duy đã dùng

 

2) Đường theo Mũi tên số 2:

Hướng đi vòng xa bằng đường bộ  từ Kinh Thành Huế  ngược giòng Sông Hương          qua chùa Thiên Mụ , Văn Thánh ở phía tả  ngạn để rồi đành đứng ở bờ sông mà ngó vọng qua Thiên Thai Tự

 

3) Đường theo Mũi tên số 3: Lấy đò ngang từ tả ngạn qua hữu ngạn

Còn nhà của Nguyển Du  trong thời gian ở Kinh Đô Huế vào hai lần trước sau là vẫn bên “tả ngạn” nên luôn luôn cách Chùa Thiên Thai bên “hữu ngạn” bằng một con sông duy nhất là Sông Hương suốt từ địa điễm Ngã Ba Bằng Lãng là hai nguồn Tả Hữu nhập lại rồi chảy uốn éo như hình chữ Chi ( Chi huyền thùy) lên phía Bắc chảy qua Kinh Thành Huế …

Thành ra nói : Cách nhất điều giang là một chuyện đương nhiên nếu đi từ tả ngạn qua hữu ngạn

            Vào thời Nhà Nguyễn trước thời vua Thành Thái không có cây cầu nào bắc qua Sông Hương như vẽ trên bản Sơ Đồ mà người dân hai bờ sông  đi lại bằng những bến đò ngang.

Sông Hương lòng rộng nước thường sâu,

Thành Thái năm xưa mới có cầu

( thơ Thảo Am Nguyễn Khoa Vy)

 

            Theo Đại Nam Nhất Thống chí, trên Sông Hương  chảy ở trước Kinh Thành Huế có hai bến đò là bến cửa Chinh Nam (bến Trương Sung )  và bến Cửa Đông Nam (bến Thương Bạc) để sang sông.

            Dựa vào thư tịch liên quan đến Nguyễn Du thì ta có thể phỏng đoán nhà ở Huế của ông ở đâu:

 

_ lần đầu ở nhà Công quán qua bài thơ Ngẫu thư công quán bích số 2 với 2 câu khai thừa:

Xương hạp môn tiền xuân sắc lan    

Cách giang dao đối Ngự Bình sơn

Trước cửa nhà vua xuân đã tàn

Cách sông xa ngắm Ngự Bình san

(Đào Duy Anh dịch)

           

_ nhưng lần sau cùng thì không rõ ở đâu nhưng chắc là quanh quẩn đâu đó bên tả ngạn ( có thể là vùng Kim Long) để tiện đi làm việc hằng ngày ra vô Thành Nội , nhưng một điều xác quyết là nấm mồ sơ táng của Nguyễn Du là ở cánh đồng Bầu Đá, xã An Ninh ( nay là An Hòa ) tỉnh Thửa Thiên.

 

            Theo sự tra cứu của bạn Võ Hương An, vào thời vua Gia Long và Minh Mạng, khi đạo Ngự lên tế đàn Nam Giao phải qua một cái cầu phao bắc qua sông.  Nhưng đến thời Minh Mạng, vì có lần qua sông bằng cầu phao đã gặp hiểm nghèo sóng gió sao đó nên nhà vua ra lệnh đạo Ngự phải qua sông bằng thuyền ghép hay bằng từ tả ngạn rồi theo sông An Cựu đi vô rồi lên bờ ở địa điểm mà bây giờ dân Huế gọi là Bến Ngự rồi đổ bộ để theo con  đường gọi là Nam Giao cựu lộ để đi tới đàn Nam Giao. ( Sông An cựu vào năm Minh Mạng thứ 2 đổi tên là Sông Lợi Nông. Con đường nhựa thẳng gọi là đường dốc Nam Giao hiện nay thì mới làm về sau gọi là Nam Giao tân lộ.)

 

            Chùa Thuyền tông nằm tại núi Thiên Thai nằm sau vùng Núi Ngự, Núi Bân và đàn Nam Giao, thành ra vào thời đầu triều Nguyển, người dân ở phía tả ngạn trước Kinh Thành muốn đi tới viếng chùa chắc là trước hết phải qua một chuyến đò ngang rổi tấp vào sông An cựu để kiếm bến mà  lên bờ rồi mới leo dốc Nam Giao để đi như trên để đến chùa. Con đường này kể ra đi cũng vất vả mà thuê ngựa hay ngồi kiệu cáng cũng tốn kém, nhưng là con đường tương đối gần và thẳng so với con đường đất  ngược giòng sông Hương qua chùa Linh Mụ, Văn Miếu và điện Hòn Chén ( Xin dò theo Sơ đồ Huế)

 

             Về con đường bộ mà bác sĩ Hồ Đắc Duy nêu lên là : Theo con đường Thiên Lý thì chỉ cần rẽ trái đi men theo chân núi Thần Phù (Giạ Lê) lên hướng bắc hoặc từ ngã ba Ngự Bình – Núi Bân về hướng Nam cũng vài Km là có thể vào chùa Thiên Thai hay con đường tương tự  mà ông L. Sogny dùng để thăm chùa  ( chemin forestier qui conduit à la route Giạ Lê Gia Long à 3 kilomètres environ au Sud de l’Esplanade des Sacrifices (Nam Giao) thì đó là theo con mắt nhìn bản đồ đường sá Huế của người thời hiện đại . Vả lại nói chuyện đường sá cách đây 200 năm với những sự phóng đường hay  lát nhựa về sau qua nhiều biến đổi triều đại hay thời cuộc thì  chỉ là sự suy diễn của những kẻ hậu thế gán ghép cho rằng tiền nhân Nguyễn Du đã đi.

            Nhưng một điều mà chúng ta có thể xác quyết là Nguyển Du vốn ở bên tả ngạn của sông Hương, muốn thăm chùa Thiên Thai ở hữu ngạn  dù ở đầu giòng hay hạ giòng luôn phải qua một chuyến đò ngang tức là cảnh chùa vẫn cách một giòng sông!

 

            c) Bảo tháp của ngài Liễu Quán

            Bạn Hồ Đắc Duy trong bài  CON ĐƯỜNG NÀO MÀ NGUYỄN DU ĐÃ ĐI ...có viết rằng

            Trước bảo tháp của ngài Liễu Quán về hướng tây, ngày xưa có một con sông nhỏ và con sông này đã được khắc trên câu đối hiện nay còn lại dấu tích trên cổng tam quan “Tiếng linh báu ngân dài cùng dòng nước lục trước cửa chảy hoài không dứt; Pháp thân lộng y nhiên bất động ngắm núi xanh và đã được Nguyễn tiên sinh gọi là Điều Giang.

            Truớc hết, bạn HĐD viết quá sơ sài và mù mờ về câu đối ở hai bên cửa vào bảo tháp của thiền sư Liễu Quán vì không có chua Hán tự nên tôi không nắm được trọn vẹn ý nghĩa thâm thúy của nguyên văn câu đối.

            Tra cứu bài viết của ông L. Sogny dưới nhan đề Le Premier Annamite Consacré Supérieur De Bonzerie Par Les Nguyen – Son Tombeau trong Bulletin des Amis du Vieux Huê (BAVH số 3 Juillet – Septembre 1928) thì thấy miêu tả rất rõ như sau về ngôi bảo tháp:

 

PHỤ BẢN 2:CỔNG TRƯỚC ĐI VÀO BẢO THÁP CỦA NGÀI LIỄU QUÁN

 

           

Ngay trước cổng để vào tháp, ở giửa có câu chữ Hán là

Đàm hoa lạc khứ hữu dư hương 

曇花落去有餘香

(Hoa đàm dù rụng vẫn còn thơm)

            Hai bên cổng có hai vế của một câu đối:

Bảo đạc trường minh bất đoạn môn tiền lưu lục thủy

Pháp thân độc lộ y nhiên tọa lý khán thanh sơn

寶鐸長鳴不斷門 前流綠水

法身獨露依然坐裏看青山

[Bảo đạc: chuông quí của vị sư dùng để rung khi làm lể ( hình thức như cái lục lạc hay linh lạc, như cái chuông treo gọi là phong linh); Pháp thân: xác thân thanh thoát theo Phât pháp, trái với nhục thân hay phàm thân của người thường tục. ; Tọa: Nhà Phật thường chôn xác các sư trong tư thế ngồi Y nhiên: như cũ]

 

Nghĩa đen của câu đối xin tạm dịch ra Việt ngữ  là:

Tiếng linh báu rung hòai không dứt /  hòa    với      giòng  nước lam   trôi phía tiền môn

Tấm Pháp thân ngồi trơ  tựa   cũ /      ngắm cùng    dẫy     thanh sơn   nằm   tít  tận   xa

(Lê văn Lân)

 

             Bạn Hồ Đắc Duy dựa vào câu đối này mà suy diễn như sau:

            Trước bảo tháp của ngài Liễu Quán về hướng tây, ngày xưa có một con sông nhỏ và con sông này đã được khắc trên câu đối hiện nay còn lại dấu tích trên cổng tam quan “Tiếng linh báu ngân dài cùng dòng nước lục trước cửa chảy hoài không dứt; Pháp thân lộng y nhiên bất động ngắm núi xanh và đã được Nguyễn tiên sinh gọi là Điều Giang.

 

            Còn tôi thì hiểu là đứng trước tiền môn của bảo tháp  nhìn về phía tây  thì :

giòng nước lam  trôi    phía     tiền  môn  đó  là giòng sông Hương  và  

dẫy   thanh sơn  nằm   hướng  tận   xa        đó  là dãy núi Trường sơn!

 

            Hiểu như vậy thì khúc sông Hương này mới có nước lam trôi hòai bất tận như tiếng bảo linh tồn tại với thời gian, chứ ngày xưa là một con sông nhỏ thì nay nước đã cạn khô. Còn dãy Trường sơn là thanh sơn là quá đúng và về phương diện văn chương thì đối rất chỉnh với giòng lục thủy của Hương giang.

            Riêng về chữ “nhất điều giang” ( viết thường) theo tôi nghĩ theo nghĩa đen chỉ là “ một con sông”nào đó ! (xin coi phụ bản: Những lọai tự trong chữ Hán ở cuối bài).

  Còn nếu viết hoa hai chữ “Điều Giang” tức là như bạn Hồ Đắc Duy đã vô tình coi đó là một danh từ riêng để chỉ một con sông nhỏ đặc biệt mới khám phá từ sự suy diễn từ câu đối ở cổng trước bảo tháp ngài Liễu Quán ( ngày xưa có một con sông nhỏ và con sông này đã được khắc trên câu đối hiện nay còn lại dấu tích trên cổng tam quan ). 

            Sông “Điều Giang” này nhỏ hay chỉ là một cái khe nước ngày xưa nay có còn không, nhưng tôi cố tìm trên máy Computer vào bản đồ không-ảnh (geomap) huyện Hương Thủy ở vùng núi Thiên Thai hình như không có thể thấy vì không được phép phóng đại ra để chụp lại. Mong bạn HĐD  ỡ bên nhà đi thực địa hay tìm vào bản đồ xưa trong địa phương chí thì rất hay. Riêng tôi thì vẫn tin là “ Cách nhất điều giang” chỉ có nghĩa đen là “ cách một giòng sông” và giòng sông này chỉ là con sông Hương chia kinh đô Huế thành hai bờ: Hữu ngạn và Tả ngạn.

            Tôi xin kết thúc bài viết khá dài ở đây.  Chung cuộc thì anh em mình cùng là những kẻ hậu sinh, vì mê mải thi văn di sản của tiền nhân nên cũng bắt chước như bao nhiêu người từng nhiễu sự thích chẻ sợi tóc làm tư khi bàn chuyện ngày xưa mà giải thích này nọ với bài thơ Hàn San Tự của Trung Hoa. Tôi không nghĩ rằng chuyện phiếm luận của chúng ta có thể đem lại một phát kiến mới để soi rọi một điều nghi đề cho văn học sử. Dù sao, thì lấy thi văn cũa cổ nhân mà bàn luận đúng hay sai thì ta chưa biết, nhưng có một điều là nó là một trò chơi lý thú cho trí óc kích thích chúng ta lấy con mắt hiển vi mà soi mói những chi tiết của cố sự, của tiền nhân để hiểu sâu sắc hơn lên.

Mong rằng chúng ta cùng có thái độ hoan hỉ khoan dung cho nhau nhé.

 

Bạn của anh

LÊ VĂN LÂN

 

PHỤ BẢN 3: CỔNG TAM QUAN CHÙA THIÊN THAI NỘI HIỆN NAY

 

 

 

 Ý Kiến, Phê bình xin gửi về: bslevanlan@khoahoc.net

 

 Trở về Trang Chính