|
Đôi lời đưa đẩy nhập đề
“Còn tình đâu nữa …là thù đấy
thôi!” Nguyển Du đã đặt câu này vào miệng Thúy Kiều khi nàng
muốn khuyên Kim Trọng đừng nài nỉ chăn gối trong đêm động phòng
đoàn tụ sau 15 năm lưu lạc làm kỹ nữ cốt để giữ cho mối tình của
hai người còn cao thượng. Vì theo nàng thì:
Người yêu ta xấu với người,
Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau.
Nhưng trong bài này, tôi chỉ muốn
lấy câu này mà nhập cho một câu chuyện văn hóa và khoa học
thuốc men như kiểu nói theo thể tỉ và thể hứng của ca dao. Tỉ là
so sánh, hứng là lấy cái cớ, cái đà để mà đưa đẩy ! Ví dụ như:
Sông dài cá lội biệt tăm,
Phải duyên chồng vợ, mấy năm cũng chờ
Hay:
Tò vò mà nuôi con nhện,
Sau này nó lớn, nó quến nhau đi.
Nhân chuyện trái “Bưởi chùm” thời sự
Vừa rồi, có tin thời sự về trái buởi
Mỹ (grapefruit) ăn nhiều gây ra ung thư nhũ hoa, và đặc biệt
nước ép của lọai bưởi này có thể tương tác với những thuốc men
khác sinh ra những phản ứng tai hại.
Trái bưởi Mỹ (còn gọi là Bưởi đắng
hay Bưởi chùm) theo lẽ thường thì có hai điều lợi hại tùy theo
lúc.
Vế lợi ích, bưởi này có nhiều điểm
tốt như:
_làm giảm cân với khả năng tiêu mỡ,
_làm giảm cholesterol vì chứa nhiều chất pectin,
_ ngừa ung thư do chất chống oxyt-hóa và chất
kích thích sự sàn xuất những diếu tố (enzymes) ngừa ung thư .
Tuy nhiên, người ta khám phá ra rằng
trái buởi grapefruit có tác dụng phụ sau tức là gây một sự kiện
tương tác bất lợi khi dùng chung với những dươc liệu khác .
Theo sự nghiên cứu thì nước grapefruit chứa những phức-chất
flavonoids và furanocoumarin là những chất ngăn chận những diếu
tố trong đường ruột người ta trong sự biến hóa của nhiều lọai
dược liệu khác, hậu quả là gây ra những tai hai bất ngờ không
lường được vì nồng độ của thuốc rất cao trong máu. Những dược
liệu đó đại khái có thể kể là:
-
Thuốc làm giảm cholesterol như
lipitor, zocor
-
Thuốc chống histamine như ebastine
-
Thuốc chữa huyết áp như nimodipine
-
Thuốc trị tâm thần như Valium
-
Thuộc chống đau như methadone
-
Thuốc chống lọan cương như Viagra
Rồi từ “Con gà tục tác “ đến Vợ chồng “kẻo kẹt
dưới sông”
Như vậy, luân lý của câu chuyện thời
sự trên là nói chung một vật liệu nào trong trời đất dùng để ăn
hay để trị bịnh đều có lợi cùng có hại cả tùy theo cách dùng và
đặc biệt tùy theo sự tương tác phối hợp nó với vật liệu khác.
Một giai thọai về thuốc bắc được nhắc qua câu:
Vận đáo hòai sơn năng
sát tử,
Thời lai đạm thủy khả thôi sinh.
(Vận rủi, hoài sơn gây toi mạng, Thời may, nước
lạnh khiến mau sinh)
Nguyên câu chuyện là một thiếu phụ mang
tội đầu độc chồng vì cho chồng ăn chè củ khoai mài ( hoài sơn)
vốn là thuốc bổ vô hại, còn một sản phụ thuyền chài sanh khó
nhờ uống nước lã tát ở lòng đò mà mẹ tròn con vuông.
Nói chuyện đầu độc thì chén chè “sát tử” là
chuyện rủi ro do chén chè hòai sơn vô ý không đậy điệm bị con
rít ở trần nhà nhễu chất độc vào!
Ở cõi đời này, chung qui có một điều
hầu như là qui luật, ấy là chuyện Nhân Duyên: Hai vật thể hợp
nhau và khắc nhau là tùy theo sợi nhân duyên tương tác nghĩa là
tương hợp và tương khắc. Tương hợp thì kể như là hợp duyên phối
ngẫu “ Phải duyên chồng vợ mấy năm cũng chờ”. Tương khắc
thì hóa ra là hữu duyên nhưng vô phận “còn tình đâu nữa là thù
đấy thôi”! Một cây ai cũng thường nghe là:
Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, Vô duyên đối
diện bất tương phùng.
(Có duyên ngàn dặm thì lưu luyến, Vô duyên đốp
mặt đếch nhìn nhau!)
Bây giờ thì tôi có cái duyên cớ trợ
hứng mà xin mời quí bạn cùng tôi đào bới sâu xa vào vấn đề văn
hóa tổng quát là“ Sự Tương hợp và Tương khắc trong chuyện ẩm
thực và trong chuyện y khoa”. Đối với người Á Đông trong đó có
dân Việt Nam, thức ăn là thuốc, thuốc là thức ăn và mỗi người
dân trong sự sống hằng ngày có thể là thầy lang cho chính mình
đối với những bịnh phổ thông. Ví dụ như bị cảm mạo nhẹ thì ăn
bát cháo hành giải cảm, buồn ói và đau bụng thì nhai gừng.
Đứng về sự phối ngẫu hài hòa về ẩm
thực giữa hai vật thực, thì người Việt Nam qua kinh nghiệm ngàn
đời đã truyền tụng câu hát phong dao sau về khẩu vị:
Con gà tục tác lá chanh,
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi.
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng
riềng.
Ngoài ra, còn kể ra hàng trăm hàng
ngàn sự phối hợp khác để có những món ngon lành như: tiết canh
ăn với húng quế, rươi xào cho vỏ quit, ốc nhồi gói lá gừng, bún
thang thêm cà cuống v.v…
Cái ý niệm hài hòa trong chuyện ăn
uống như duyên chồng vợ qua bài phong dao “kẽo kẹt” sau:
Cô thỉ, cô thi…
Cô đang đương thì, cô kẹo với ai?
Cô tú kẽo kẹt cậu cai.
Vợ chồng thuyền chài kẽo kẹt dưới sông.
Mâm cốm kẽo kẹ mâm hồng,
Bát bịt, mâm đồng kẽo kẹt một nơi.
Mâm thịt kẽo với mâm xôi,
Thịt bùi, xôi dẻo kẽo nơi bà già,
Cùi dừa kẽo kẹt bánh đa,
Cái đĩa thịt gà kẽo kẹt lá chanh.
Nồi cơm kẽo với nồi canh,
Quả bí trên cành kẽo với tôm he.
Bánh rán kẽo với nước chè
Cô khi cò kè kẽo với anh đây
Bà cốt kẽo với ông thầy,
Con chim loan phượng kẽo cây ngô đồng.
Những bài thơ chú-quyết của thầy lang nhập môn
Bây giờ thì tôi xin nói về chuyện
tương xung, tương khắc: Chúng ta đôi khi trong bữa ăn ai cũng
có vài kinh nghiệm sau: ví dụ măng tre xào nấu có bỏ chút ớt thì
cay xé lưỡi, chén nước mắm mặn quá thì phải vắt chanh hay pha
dấm, chấm xòai tượng chua lè ăn với muối. Và người Việt nam
cũng giống như người Tầu rất cẩn thận tuân thủ theo nhiều điều
kiêng cữ linh tinh khi uống thuốc bắc. Và thầy lang khi mới nhập
môn học thuốc phải học thuộc những bài thơ ngắn kể ra những thứ
thuốc khắc kỵ hay phản úy:, hai vị chống nhau thì gọi là phản,
hai vị sợ nhau không phù hợp nhau gọi là úy. Những bài thơ này
gọi là ca-quyết để thầy thuốc nhẫm đọc như thầy pháp đọc chú vậy
để mà giúp trí nhớ mà các học sinh đi thi nhớ bài thiệu ( Ví dụ
ngày xưa đi thi thời Pháp thuộc có câu thiệu sau: Mạ hề, con
hề, bồng con cho chị sang sông gọi đò để nhớ 5 thành phố
nhượng địa cho Pháp ở Ấn Độ là Mahé, Yannon, Karikal, Pondichéry
và Chandernagor.
Về Đông y, sách Bổn thảo có kê ra 18
vị phản nhau gọi là Chư dược tương phản lệ
gồm trong bài ca- quyết như sau:
Bán hạ, Qua lâu, Bối mẫu, Bạch liễm, Bạch cập đều
nghịch phản với
Ô đầu
Hải tảo, Đại kích, Cam toại, Nguyên hoa
đều trái với
Cam thảo
Các thứ sâm ( nhân sâm, huyền sâm, đan sâm, khổ
sâm) tế tân, xích thược, bạch thược
đều phản với Lê
Lô.
Về 19 vị thuốc úy ố hay sợ nhau thì
có bài ca quyết: Thập Cửu Úy mà tôi xin
miễn kể ra vì dài dòng và làm rối trí người không biết thuốc.
Duy có đọan thơ nói về quan niệm cấm kỵ có thể hữu ích cho chúng
ta hiểu thêm Đông Y một cách thực tiễn thì tôi xin kể ra đây.
Đọan thơ này trích từ cuốn sách dạy Đông Y cho người nhập môn
gọi là Ngư Tiều Vấn Đáp Y Thuật do nhà nho y Nguyễn Đình Chiểu
viết bằng thơ nôm. Đọan thơ này dạy người bịnh phãi kiêng cữ ăn
uống những vị mặn ngọt chua cay đắng tùy theo những lọai bệnh
nào như thuộc về máu, khí, xương, gân, thịt:
Cấm kỵ về vị giác
Lại gìn năm cấm chớ quên
Răn người uống thuốc cho bền cữ ăn:
Mặn
thời máu chạy lăng nhăng
Hỡi ôi! Bệnh máu
chớ ăn mặn mòi.
Cay
thời hơi chạy chẳng thôi
Hỡi ôi! Bệnh khí
chớ giồi ăn cay
Đắng
thời hay chạy
xương ngay
Hỡi ôi, cốt bệnh
đắng rày chẳng ăn
Chua
thời hay chạy gân săn
Hỡi ôi! Cân bệnh
chớ ăn chua nhiều.
Ngọt
thời thịt chạy có chiều,
Hỡi ôi! Thịt bệnh
chớ điều ngọt ăn.
Và đọan thơ sau thì nói về sự kiêng ăn thức ăn
khi dùng thuốc bắc:
Cấm kỵ về vật thực
Vật ăn nhiều món khắt khe,
Miệng thèm chẳng nhịn, thời e hại mình.
Giả như thuốc có
truật, linh
Thấy mùi tỏi dấm,
thật tình chẳng ưa.
Uống trà thời
chớ ăn dưa,
Hòang liên, cát cánh
phải chừa thịt heo.
Thường sơn,
hành sống
phải theo,
Địa hòang,
củ cải
lại chèo nhau ra
Thịt trâu,
ngưu tất, tránh xa
Xương bồ, bán hạ,
chẳng hòa thịt dê.
Một bản đồ-giải về sự trúng độc do tương khắc
Ở trên là nói về sự tương khắc giữa
các thứ dược vật mà người thầy lang cần biết khi trị bệnh,
nhưng trong sự sống hằng ngày, trong sự ăn uống thức ăn vật
uống, người thường cũng phải lưu ý sự tương khắc giữ những vật
thực. Sau đây , tôi tra cứu ra một tài liệu đặc biệt liên quan
vấn đề này là một bản đồ giải
Bức đồ giải này mang tên đề mục là Thực Vật
Tương Khắc Trúng Độc Đồ Giải mà tôi chụp từ bìa sau của cuốn
lịch sách năm 1989 Kỷ Tỵ Niên Thông Lịch ( do Ngô Tuyên
Đức tạo lịch quán- Thượng Hải).
( XIN
COI HÌNH phóng lớn IN Ở CUỐI BÀI)
Vì bản đồ-giải này, in chữ nho rất
nhỏ và vì khuôn khổ hạn chế nên không cung cấp những chi tiết tỉ
mỉ ví dụ chỉ ghi tổng quát với một chữ là “Độc” ở phần hậu
quả, chứ không kê khai ra những chứng trạng và phần thuốc giải
độc chỉ ghi tên vắn tắt một hai chữ về thuốc giải nhưng không
nói chế biến ra sao như đậu xanh, nước tương, cứt gà, nước bí
đao. Để cho quí bạn dễ tham cứu bản đồ-giải, tôi biến nó ra
thành một đồ bản đề mục chia từng những cột dọc và những hàng
ngang
|
VẬT THỰC |
TƯƠNG KHẮC
VỚI |
HẬU QUẢ |
DÙNG VẬT GIẢI ĐỘC |
|
TRỨNG VỊT |
TRÁI MẬN |
ĐỘC |
ĐỊA TƯƠNG THÙY |
|
ỐC |
MÌ SỢI |
ĐAUBỤNG ;ÓI MỬA |
KÊ THĨ BẠCH |
|
LƯƠN |
GAN TRÂU |
ĐỘC |
ĐẬU ĐEN + CAMTHẢO |
|
BÍ RỢ |
CUA LÔNG |
ĐỘC |
ĐỊA TƯƠNG THỦY |
|
QUÍT |
CUA LÔNG |
KHỐI U BỤNG MỀM |
NƯỚC TỎI ÉP RA |
|
TRÁI MẬN |
THỊT CHIM SẺ |
ĐỘC |
KÊ THỈ BẠCH |
|
ỐC |
BẮP NGÔ |
ĐỘC |
ĐỊA TƯƠNG THÙY |
|
MỰC |
TRÁI HỒNG |
ĐỘC |
ĐỊA TƯƠNG THÙY |
|
KEM |
CUA LÔNG |
ĐỘC |
NGÓ SEN |
|
TRÁI MẬN |
CÁ CHÉP |
ĐỘC |
NƯỚC BÍ ĐAO |
|
CHIM SẺ |
GAN SÚC VẬT |
ĐỘC |
ĐẬU XANH |
|
THỊT TRÂU |
CÁ TRÊ |
ĐỘC |
SŨA NGƯỜI + NƯỚC ĐẬU XỊ |
|
CUA LÔNG |
MẬT ONG |
ĐỘC |
ĐỊA TƯƠNG THÙY |
|
MỰC ỐNG |
ĐƯỜNG ĐEN |
BUỒN NÔN |
ĐẬU XANH |
|
SÀI NGƯ? |
BÍ RỢ |
ĐỘC |
ĐẬU ĐEN + CAMTHẢO |
|
TRÁI MẬN |
THỊT GÀ |
KIẾT LỴ |
KÊ THỈ BẠCH |
|
CUA |
TRÁI HỒNG |
ĐỘC |
NGÓ SEN |
|
THỊT TRÂU |
HẸ |
ĐỘC |
SŨA NGƯỜI + NƯỚC ĐẬU XỊ |
|
CUA LÔNG |
ĐẬU PHỌNG |
ĐỘC |
ĐỊA TƯƠNG THÙY |
|
LÁ DÂU |
THỊT LƯƠN |
ĐỘC |
ĐỊA TƯƠNG THÙY |
|
CUA |
CÀ DÁI DÊ |
ĐỘC |
NGÓ SEN |
|
BÀ KHƯƠNG THÁI? |
SỮA BÒ |
ĐỘC |
ĐẬU XANH |
|
CUA LÔNG |
HƯƠNGQUAcantaloupe |
ĐỘC |
VỎ QUÍT |
|
BA BA |
RAU CẦN |
ĐỘC |
NƯỚC TRÁI TRÁM GIÃ |
|
LƯƠN |
NẤU VỚI TÁOĐỎ |
RỤNG TÓC |
CUA |
|
MĂNG TRE |
GAN DÊ |
ĐỘC |
ĐỊA TƯƠNG THÙY |
|
CUA LÔNG |
CÁ THU? |
ĐỘC |
ĐỊA TƯƠNG THÙY |
|
ỐC |
HƯƠNG QUA |
ĐỘC |
ĐỊA TƯƠNG THÙY |
|
ỐC |
KEM NƯỚC ĐÁ |
ĐỘC |
ĐỊA TƯƠNG THÙY |
|
LƯƠN |
NẤU BÍ RỢ |
XẸP MŨI |
ĂN CUA |
|
THẠCH LỰU |
KHOAI LANG |
ĐỘC |
NƯỚC LÀ HẸ GIÃ |
|
SỮA BÒ |
THỊT CÁ SỐNG |
ĐỘC |
ĐẬU XANH |
|
ỐC |
THỊT HEO |
RỤNG LÔNG MI |
ĐỘC |
|
CÁ DIẾC |
MẬT ONG |
ĐỘC |
ĐẬU ĐEN + CAMTHẢO |
|
LƯƠN |
Ô MAI MUỐI |
ĐỘC |
ĐỊA TƯƠNG THÙY |
|
BỘT SĂN |
DẦU MÈ |
ĐỘC |
ĐỊA TƯƠNG THÙY |
|
CAM THÀO |
THỊT HEO |
ĐỘC |
ĐẬU XANH |
|
ỐC |
MỘC NHĨ |
ĐỘC |
GƯƠNG SEN |
|
CƠM TRẮNG |
BỊ THẰNLẰN ĐÁI ỈA |
ĐỘC |
ĐỊA TƯƠNG THÙY |
|
LƯƠN |
DẤM CHUA |
ĐỘC |
ĐẬU ĐEN + CAMTHẢO |
|
MĂNG TRE |
MẠCH NHA |
ĐỘC |
ĐẬU XANH |
|
THỊT CHÓ |
TỎI |
BỊNH HUYẾT |
SŨA NGƯỜI + NƯỚC ĐẬU XỊ |
|
HÀO |
ỐC |
ĐỘC |
HỘT NGÒ |
|
TÔM |
BÍ RỢ |
KIẾT LỴ |
ĐẬU ĐEN + CAMTHẢO |
|
SỮA BÒ |
ĐỒCHUA DẦM DẤM |
BÓN UẤT RUỘT |
ĐẬU XANH |
Giá trị khoa học của bản đồ giải này
hòan tòan không có tính chất khẳng định, nên tôi nghĩ ta cần
khảo sát thêm. Dù sao thì nó cũng cung cấp nhiều sự hướng dẫn
vào những trường hợp ngộ độc thông thường trong các ăn uống
những sản vật quen thuộc Á Đông như ốc, lươn, măng, bí v.v… Cua
có nhiều loại: có lông hay không ; mao giải là cua có lông
Ta để ý những thứ sau thường dùng để
giải độc là đậu xanh, đậu đen, cam thảo, ngó sen
Có hai thứ này thì tôi không hiểu rõ
nên để tồn nghi là:
_ “Địa tương thủy”, phải chăng là nước tương đậu
nành chôn dưới đất lâu ngày?
_ Kê thỉ bạch, phải chăng là cứt gà đem nung cho
thành tro trắng rồi hòa vào nước trong để cho bệnh nhân uống
giống như người ta chế “nhân thỉ bạch”( chất tro trắng từ phân
người).
Một điều tôi khuyên các bạn là về
chuyện ăn uống nấu nướng, chúng ta nên chú ý nghe theo kinh
nghiệm của ông bà cha mẹ mình. Rau muống sống cũng như nước đậu
xanh cùng nhiều thứ cây cỏ là những thứ giã độc cổ truyền rất
hay. Chúng ta hãy hiểu rằng văn hóa ngàn đời của Á Đông là Văn
Hóa Nông Nghiệp nên cây cỏ là thuốc men.
Nhận định thay lời kết
Chúng ta phải kết luận sao về vấn đề
văn hóa tổng quát là“ Sự Tương hợp và Tương khắc trong chuyện ẩm
thực và trong chuyện y khoa”?
Về giá trị của ngành Đông Y nói chung
( gồm Trung Y của Tàu và thuốc Nam của ta), thì theo tôi đây là
một nền y khoa duy-nghiệm nghĩa là tích lũy của kinh
nghiệm trị liệu từ mấy ngàn năm, phần lớn dựa vào biện chứng của
thuyết Ngũ Hành tương sinh và tương khắc, dược liệu tòan lấy từ
nguyên liệu trong thiên nhiên có nguồn gốc thảo mộc, sinh vật và
khóang chất rồi bào chế ra.. Kinh nghiệm của sự trị liệu Đông Y
từ mấy ngàn năm đã được đúc kết thành những dược điển gọi là Bãn
Thảo như Thần Nông Bản Thảo (tương truyền truyền từ đời Thượng
cồ), Bản Thảo Cương Mục ( từ đời Nhà Minh) ỡ Trung quốc. Ở VN
thì dân tộc VN vẫn trân quí bộ Nam Dược Thần Hiệu của sư Tuệ
Tĩnh, bộ Y Tông Tâm Lĩnh cũa Lãn Ông vào thế kỷ 14. Công tâm mà
nhận định thì miên viễn theo giòng lịch sử, Đông Y đã giúp cho
tổ tiên chúng ta đã khỏe mạnh sống còn nên Đông Y vẫn là một di
sản quí giá không thể coi rẻ mà không bảo trọng và gia công
nghiên cứu. Khi nghiên cứu chuyện văn hóa học thuật cổ truyền
của một dân tộc như Đông Y, Nam Dược cũng như y khoa của Cổ Ấn
Độ, Y dược Dân Da Đỏ, người ta có thể gặp những điều coi như là
huyễn hoặc, mù quáng hay huyền thoại mà khinh thường rẻ rúng bỏ
qua mà phải đem chúng ra mà thực nghiệm một cách khoa học thực
tiễn
Còn đối với Tây Y thì phải dùng danh
từ hữu lý hơn là Y khoa hiện đại là ngành trị liệu theo đường
hướng y khoa quan sát thực nghiệm, dược phẩm là do sự
phân chất rồi thí nghiệm trước khi đem áp dụng. Khách quan mà
nói, Tây Y là một quá trình tiến bộ từ y khoa cổ thời để biến
thành một khoa học trị liệu đối với con người.
Thái độ của người Việt chúng ta đương
nhiên khôn ngoan nhất về phương diện văn hóa và khoa học là
hưởng dụng và tham bác những thành quả hay ưu điểm của hai
đường hướng y khoa duy nghiệm và thực nghiệm trong sự trị liệu
bệnh tật..
LÊ VĂN LÂN

Ý
Kiến, Phê bình xin gửi về:
bslevanlan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |