Hàn Mặc Tử

Những vần thơ mang dấu Chúa



 

Ngày 11 tháng 11, 2007 vừa qua là ngày giỗ thứ 67 của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Mong rằng bài viết này là một nén tâm hương để tưởng niệm một tiếng thơ tuyệt vời đã dâng cao đến Thiên Chúa khi thế gian đang chuẩn bị đón Chúa Hài Đồng trong dịp lễ Giáng Sinh

 

Hàn Mặc Tử: Một tiếng thơ vượt cõi nhân gian

            Hàn Mặc Tử là một thi sĩ nổi tiếng của VN. Và ông cũng là một tín đồ Công Giáo thuần thành, nên qua thi văn, HMT đã trút bao nhiêu nỗi lòng của mình về đau khổ và về Chúa cùng Đức Mẹ Maria. Vậy nhân ngày Giáng sinh, chúng ta hãy trò chuyện về đề tài  Hàn Mặc Tử và Chúa.

 

Ta hãy nhìn lại về sự xuất hiện của tiếng thơ HMT trên thi đàn VN hồi đầu thế kỷ 20

            Nhìn lại phong trào thơ mới ở Việt Nam khoảng 1932-1945, sự xuất hiện của tiếng thơ dồi dào và sâu đậm nhất trong khuynh hướng nói về cõi Chết, về siêu hình, nhất là về Chúa thì độc nhất có  Hàn Mặc Tử .

Tập Thơ Điên của HMT khiến người đọc bỗng hoàn toàn rời khỏi cái thế giới thực tại của thế nhân đến nỗi Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân Việt Nam phải thảng thốt viết rằng:

Một tác phẩm như thế, ta không thể nói hay hay dở, nó đã ra ngoài vòng nhân gian, nhân gian không có quyền phê phán. Ta chỉ biết trong văn thơ cổ kim không có gì kinh dị hơn...Ta chỉ biết ta đương đứng trước một người sượng sần vì bệnh hoạn, điên cuồng vì đã quá đau khổ trong tình yêu... 

            Nhưng chính nhờ vào Thánh kinh và tinh thần Tin Mến Cậy sốt sắng vào Thiên Chúa. thơ Hàn Mặc tử đưa người đọc gần  Chúa vô cùng! HMT vướng vào bệnh cùi lúc tuổi còn trẻ đang lúc yêu đời. Bệnh này chắc phải gây nhiều ảnh hưởng trong thi ca của HMT như một định mệnh đã đọa đầy.

 

Thi Nghiệp và vi trùng Hansen 

Dựa vào sự phát triển của bệnh cùi của ông, ta thấy ba giai đoạn tương ứng trong thi nghiệp của ông: 

1) Giai đoạn tiền bệnh: là thời gian trước năm 1936 (nghĩa là trước lúc vô bệnh viện Qui Hòa (1937) , đã đánh dấu bằng những tập " Đường luật" và "Gái Quê" với một giọng trong sáng, nồng thắm, yêu đời cuồng nhiệt, một khí lực phương cương của lứa tuổi đôi mươi.

2) Giai đoạn bệnh phát lộ đánh dấu bằng tập thơ "Đau Thương", "Thơ Điên" nên tiếng thơ thống thiết, cực kỳ bi thảm như một con chim biết rằng mình sắp chết.  Thiên kiến của người đời xa lánh mình cọng vào đó sự đau khổ vì tình duyên trắc trở đã làm HMT càng đau khổ:

Lòng ta sầu thảm hơn mùa lạnh

Hơn hết u buồn của nước mây

Của những tình duyên thường lở dở

Của lời rên xiết gió heo may

 

3) Giai đoạn cuối cùng của Hàn Mặc Tử được định mốc bằng tập thơ "Xuân Như Ý". Khi ý thức rằng mình  không còn hy vọng sống lâu HMT càng tìm nguồn giải thoát cho linh hồn khắc khoải qua tôn giáo và những khải thị siêu phàm. Giọng thơ không còn rên rĩ, mà thanh thoát, thăng hoa.

 

Vào bệnh viện Qui Hòa, thi nhân đã tập được đức tính an vui trong nguồn đau khổ. Mỗi ngày đều đều ông liên lỉ ít nhất năm sáu lần vừa đọc kinh vừa ngâm thơ.

Nhưng ba tháng sau, cơ thể quá suy kiệt và tạ thế (ngày 11 tháng 11 năm 1940 lúc 29 tuổi). 

Trên giuờng bịnh, sắp chết, HMT vẫn giữ bình thản và sốt sắng viết một bản kinh nguyện bằng tiếng Pháp là La Pureté de l’âme. (Sự thanh khiết của linh hồn) để   dọn mình về với Chúa.

 

Loài Thi sĩ với sứ mạng thiêng liêng          

            Nếu chúng ta phân tách thơ Hàn Mặc Tư thì ta thấy Hàn Mặc tử đã khẳng định lý tưởng Thiên Chuá giáo của mình:

“ Đức Chúa trời tạo ra trăng, hoa, nhạc, hương là để cho người đời hưởng thụ, nhưng người đời u mê phần nhiều không biết tận  hưởng một cách say sưa, và nhân đấy chiêm nghiệm lẽ mầu nhiệm, phép tắc của Đấng Chí tôn.  Vì thế, trừ hai loài trọng vọng là “ thiên thần” và “ loài người”, Đức Chúa Trời phải cho ra đời một loài thứ ba nữa: “loài thi sĩ”! Loài này là những bông hoa rất quí và rất hiếm, sinh ra đời với một sứ mạng rất thiêng liêng: Phải biết tận hưởng những công trình châu báu của Đức Chúa Trời đã gây nên, ca ngợi quyền phép của Người, và trút vào linh hồn người ta những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm tho tinh sạch. (Thư gửi cho Trọng Miên:  Quan niệm về Thơ).

Đọc thơ của HMT, người ta đã tìm thấy Thánh Kinh, cho nên lời thư viết trên này chỉ là phụ diễn cái ý cốt tủy cho rằng thế gian này tạo ra do lòng yêu và vinh quang của Thiên Chúa.”Chính cái chìa khóa tình yêu đã mở tay Thiên Chúa tạo dựng các loài”( thánh Thomas d’Aquin).  Sự sáng tạo là điều Chúa muốn như là một sự ân tứ dành cho con người, như là một tài sản chuyển đạt và giao phó cho con người thụ hưởng

Người ta thường nói là thơ HMT bí hiểm lắm mấy ai đã hiểu. Tại sao?

Theo HMT, thì con người phàm tục thế gian ít khi hiểu đưôc và mang ơn “người thi sĩ” nếu không nói là vô tình bạc đãi khinh khi.

 

Hình ảnh của chim bồ nông!

            Qua biểu tượng Máu và Hồn, Tử đã vô tình dự phóng bản ngã của mình trên hình ảnh của Chúa Giê su trong gương cứu chuộc trong buổi Tiệc Ly với lời nói cuối cùng với các môn đệ trên bánh thánh và rượu nho: “Này đây là Mình ta, hãy cất lấy mà ăn. Này đây là chén Máu ta, hãy cất lấy mà uống”.

Đọc nhiều thơ của HMT, người ta thấy trí tưởng tượng phong phú của thi nhân đã chuyển hóa ra thành những lời thơ trọng vọng... Ngay cả những lời thơ trùng trùng điệp điệp về sự vãi máu, nôn khạc huyết ra từ cổ họng của HMT, biết đâu chẳng đã được gợi hứng từ hình ảnh con chim bồ nông mổ ngực để máu vọt ra cho đàn chim con xúm lại mà uống; hình này thường được chạm trên cánh cửa của Nhà Tạm đựng Mình Thánh Chúa trên bàn thờ của giáo đường (Chim bồ nông – pélican  là loài thủy điểu, khi bắt được mồi thường nuốt tạm và chứa trong cái bìu da ở cổ họng để đem về cho bày con mổ vào họng mình ra mà ăn.

Thánh Thomas d’Aquin trong Vần thơ Thánh vịnh (Rhythmus Sancti) đã dùng hình ảnh chim này mà ca vịnh Thánh thể như hình Chúa Giêsu đổ huyết ra vì nhân loại.  Còn Alfred de Musset, nhà thơ Pháp (1810-1857) đã thi vị hóa hình ảnh bồ nông như thân kiếp của thi nhân làm thơ bằng máu lệ của mình trong một bài thơ danh tiếng.

 

Nguồn thi hứng từ Kinh Thánh

HMT đã lấy hứng về thi liệu từ Kinh thánh và những bài kinh nguyện của tín đồ Công giáo để xây dựng tứ thơ của mình.  Sau đây là sự chứng minh

Bài Thánh Nữ Đồng trinh trứ danh của HMT đã diễn đạt lại ý tứ của kinh Kinh Mừng quen thuộc của người Công giáo với một giọng vô cùng thành khẩn:

…Lạy Bà là Đấng tinh tuyền thánh vẹn,

Giầu nhân đức , giầu muôn hộc từ bi,

Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy

Cơn lậm lụy vừa trải qua dưới thế

Tôi cảm động rưng hai hàng lệ

…Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phước,

Cho tình tôi nguyên vẹn tựa trăng rằm

Đọc lên bài Ave Maria của Hàn Mặc Tử, ta cảm được, ta sờ được, ta thấy được sự cao sang của Trinh Nữ.

Trong thi ca của HMT, người ta còn bắt gặp một ý thơ khác lấy từ Kinh Tin Kính như :

Ngày tận thế là ngày tán loạn

Xác của Hồn, Hồn của Xác y nguyên.

HMT lại mang cái thị kiến của thánh Yoan trong sách Khải huyền về thành thánh Yêrusalem: “ánh quang của thành tỏa ra tựa hồ minh châu cực quí, như ngọc thạch bóng lộn ánh lưu ly...vào bài Xuân Đầu tiên của mình qua câu:

… Trái cây bằng ngọc vỏ bằng gấm

Còn mặt trời kia tợ khối vàng

… Trên chín tầng diêu động cả trân châu

Dường sống lại muôn ngàn hoa phẩm tiết.

 

Loài trai với những hạt cát xốn xang!

Một câu hỏi là: Phải chăng Niềm khổ đau cực độ đã làm thơ HMT hay tuyệt vời?

Đúng!  Bệnh hoạn và nghịch cảnh đã là những tác nhân duyên khởi đã bức bách thiên tài này sáng tác ra nhiều bài thơ kỳ lạ như những hạt cát khiến những con trai dưới biển sanh ra những hạt trân châu.

Với Hàn Mặc Tử, sự đau đớn về thể xác, niềm tủi cực về tinh thần cũng gây ra một phản ứng điên đảo khiến ông cười, nói, gào, thét lung tung để giải thoát tâm tư. Nhưng ông không hề loạn trí, nghĩa là điên thực sự mà nói năng không mạch lạc theo luận lý.

Hàn Mặc Tử , cũng  như bao thi nhân vĩ đại có điểm độc đáo phi thường là đau khổ không dìm sâu họ xuống bùn đen mà đưa họ lên cao lên cao gần Thượng Đế

Ở Hàn Mặc Tử, thể xác đau đớn ê chề nhưng linh hồn thì thăng hoa trong sáng nhờ đôi cánh của tôn giáo được chắp vào trí tưởng của thi nhân.

Hàn Mặc Tử trong tận cùng đau khổ của thế gian đã tự ví mình: khi xưa ta là chim phượng hoàng, Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất"; ý tứ mình "cao cường hơn ngọn núi"; hồn mình "chơi vơi trong khí hậu chín tầng mây"

 Theo HMT, thế nào là ý nghĩa cứu độcủa Đau Khổ?

     “Chuá Giêsu là gương mẫu sống động cho những người đau khổ”

Hàn Mặc Tử lại dự phóng sự đau khổ của mình như hình ảnh cứu chuộc của Chúa GiêSu: qua một hiện tượng “tự đồng hoá”( identification ) với Chuá Kitô về tuẫn đạo (Martydom). HMT đã tự gán cho mình vai trò làm Thi Nhân đã đổ hết bao nhiêu nguồn máu lệ, đã từng uống mật đắng cay trong khi miệng vẫn tươi cười sốt sắng. (Thay lời Tựa – Xuân Như Ý). Trong bài Nguồn Thơm, HMT đã nhiệt tình tôn vinh những người đã vác Thập gía theo chân Chuá Giêsu:

Đây, thi sĩ của đạo quân Thánh giá

Nửa đêm nay vùng dậy để tung hô

Để sớt cho cả xuân, xuân thiên hạ

Hương mến yêu là lộc của lời thơ

Hàn Mặc Tử  lại còn  tha hóa tình cảm của mình khi mơ đến một "mùa Xuân Thái Hòa" của”  năm muôn năm, trời muôn trời" cho cả và thiên hạ.

Linh hồn của con người đau khổ thường hay lên gần Chúa. Đó là tâm trạng của Hàn Mặc Tử trong những ngày cuối cùng bệnh hoạn, khổ đau trong trại cùi Qui Hòa. Hàn Mặc Tử đã thị kiến đến một mùa Xuân Như Ý: “Vinh quang Chúa cả trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”.Câu thánh vịnh về mùa Giáng Sinh này đã khơi nguồn cho Hàn Mặc Tử khi viết như sau:

Tứ thời xuân! Tứ thời xuân non nước!

Phút thiêng liêng nhuần gội áng thiều quang

Thiên hạ bình, và trời tuôn ơn phước

Như triều thiên vờn lượn khắp không gian (Nguồn thơm)

             Sự thăng hoa của Hàn Mặc Tử được kết tinh bằng hình ảnh của một thiên đường đầy vẻ đẹp tuyệt vời mà con người không còn than khóc, đau khổ nữa, một thiên đường đầy: "Nhạc thơm, hương ấm, mộng ngọc, hoa trinh bạch, đàn ly tao, tranh tuyệt phẩm".

Câu nói của thi sĩ Pháp Alfred de Vigny: "Những khúc hát tuyệt vọng nhất là những khúc hát đẹp vô vàn."phải chăng rất đúng khi áp dụng vào trường hợp của nhà thơ vô cùng khổ đau Hàn Mặc Tử .

 

Như là một lời kết, chúng ta hãy nghe Linh mục Phan Phát Hườn nhận định rằng :

Hàn Mặc Tử bằng thi thơ của mình  muốn nói lên điều mà ông TIN, điều mà các nhà thần học đã tốn biết bao nhiêu mực, bao nhiêu giấy từ thế kỷ này qua thế kỷ khác nói về sự kiện lịch sử Chúa xuống thế làm người, về mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể trong cung lòng của Trinh Nữ Maria. (Đức Tin trong thơ Hàn Mặc Tử – Tựa cho cuốn Hàn Mặc Tử: Đau Khổ và Thơ của Lê văn Lân)

           

LÊ VĂN LÂN

  

 Ý Kiến, Phê bình xin gửi về: bslevanlan@khoahoc.net

 

 Trở về Trang Chính