|
Kết
hoa treo đèn là tập tục của những dân Á đông chịu ảnh hưởng văn
hoá Trung quốc trong đó có Việt Nam ta vào những ngày lễ hội.
Riêng vào dịp Rằm tháng Tám, đèn không những treo mà còn được
rước tưng bừng trong tiếng trống ếch vì đây là Tết của Nhi
đồng. Trung thu mà thiếu đèn với trẻ em sẽ thành vô vị như
người lớn thiếu bánh dẻo, bánh nướng vậy.
Tục
treo đèn bầy cỗ dưới ánh trăng rằm tháng tám bắt đầu từ đời vua
Đường Minh Hoàng bên Trung hoa nhân ngày sinh nhật của nhà vua
cách đây hơn ngàn năm. Còn tục rước đèn thì bắt đầu trễ hơn vào
đời vua Nhân Tông nhà Tống do sự tích rằng có con cá chép tu
luyện lâu năm thành yêu quái thường biến thành con gái vào đêm
trăng để đi hại người, nên ông Bao Công mới truyền cho nhân gian
làm những đèn con cá giống nó rồi đem rước khắp phố phường để
cho cá yêu kinh sợ không dám tác quái. Câu chuyện nghe ly kỳ
trong trí tưởng của người dân chất phác. Dân Việt mình chịu ảnh
hưởng của Trung hoa qua một ngàn năm lệ thuộc nên bắt chước
theo. Lại có thuyết thần thoại khác là một con thiên nga trên
thượng giới bay lạc xuống trần gian bị bắt làm thịt nên Ngọc
Hoàng thượng đế nổi giận nên ra lệnh thiêu đốt người trần. Một
bà tiên động lòng từ tâm muốn cứu vớt người trần khỏi sự hỏa tai
nên lén dạy người ta làm đèn rồi đi diễu về đêm thành ra Ngọc
Hoàng trên trời nhìn xuống lầm rằng trần gian đang bị đốt nên
hoàn toàn nguôi giận.
Ngẫm
nghĩ lại mỗi một cổ tục gì của nhân gian Á Đông đều không nhiều
thì ít cũng phải nhuốm màu vẻ hoang đường liên quan đến một gốc
gác huyền bí siêu nhiên để tạo sự ăn sâu vào tâm trí người ta.
Nói chi đến Trung Thu, đầu óc của chúng ta vào tuổi ấu thơ đầy
ắp bao nhiêu hình ảnh huyền bí thơ mộng của chị Hằng Nga, của
chú Cuội, của con Thiềm Thừ trên Cung Quảng Hàn… Kịp đến khi
khôn lớn, bao nhiêu điều thần thoại trên đều biến mất nhưng
trong lòng chúng ta không khỏi u uất tương tư lại tính chất thơ
mộng của thời xưa vào cái thuở người trần chung sống với thần
linh ma quỉ. Một Tản Đà vào đầu thế kỷ thứ 20 ngà ngà men rượu
vẫn còn mơ chuyện bay lên Cung Quế bầu bạn với Chị Hằng Nga:
Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám,
Tựa nhau trông xuống thế gian cười!
Theo
Carl Jung, nhà phân tâm học người Thụy sĩ, chuyện thần thoại và
tập tục trong xã hội là cả một tập hợp biểu tượng đã tác dụng
trên tâm trí của con người. Trong thiên bút khảo này, bạn hãy
cùng tôi đi vào ý nghĩa tượng trưng của Ánh Lửa và đèn đuốc
trong văn hoá Cổ Á Đông.
Theo
dịch lý, lửa là nguyên tố Dương, biểu hiện cho cái gì vui, mạnh,
dồn gấp, thăng tiến…nói chung là „sự sống“. Sự phát minh dùng
lửa khiến nhân loại thoát ra khỏi tình trạng man dã tối tăm, ăn
tươi nuốt sống, do đó ngọn lửa được gán ghép nhiều ý nghĩa tin
tưởng trong sự chiêm nghiệm của dân gian, chẳng hạn như:
_
thấy ngọn đèn nở hoa là điềm phát tài
_
khi cúng cấp, lò hương bùng cháy là điềm tốt
_
đun nấu mà lửa reo là đắt hàng
_
đèn đổ dầu là điềm gở
Trong
cổ tục hôn lễ Trung Hoa, cô dâu mới cưới về ngưỡng cửa nhà chồng
phải bước qua một lò than hồng, với tin tưởng sẽ sanh đẻ mau
mắn, không gặp hiểm nghèo. Đêm động phòng, phòng ngủ tân hôn bắt
buộc phải thắp sáng suốt đêm bằng một cặp đèn cầy có kết hoa gọi
là „Hoa Chúc!. Dân gian tin rằng phải giữ làm sao cho cặp đèn
cháy sáng song hành với nhau, cùng thắp sáng và cùng tàn lụi một
lần, như thế thì vợ chồng mới bách niên giai lão, không phải
cảnh sống chết kẻ trước người sau. Sáp đèn cầy không được tan
chẩy dễ dàng nhễu xuống như những giọt lệ buồn bã phân ly. [
Trong truyện Kiều, có chữ „ đuốc hoa“ tức là dịch sát hai chữ
„hoa chúc“ - chúc nguyên nghĩa là cái đuốc, nhưng về sau áp dụng
để chỉ cây đèn cầy kết hoa đêm hợp cẩn: Đuốc hoa để đó mặc nàng
nằm trơ ]. Ở Việt Nam, có tục lệ cặp tân hôn „lên đôi đèn“
trước bàn thờ _ chứ không thắp trong phòng ngủ- là phỏng
theo cái lý tưởng phu thê đồng sanh đồng tử trên.

Ngoài
đèn hoa của lễ cưới, người Tầu và Việt vào đầu năm thường đốt
đèn cúng sao bản mệnh, nhất là gặp năm tuổi hay năm xung tháng
hạn có hung tinh chiếu mệnh. Xấu nhất cho nam giới là sao La Hầu
thì gặp toàn chuyện kiện tụng hay tai nạn, còn xấu nhất cho nữ
giới là sao Kế Đô thì gặp điều tai tiếng , chủ sự buồn phiền.
Cúng sao La Hầu thì dùng giấy vàng làm bài vị có hình Thiên Cung
Thần Thủ La Hầu tinh quân. Trên bàn sắp đèn cầy theo con số của
sao này là chín ngọn, dò theo hình vẽ mà sắp cho đúng vị trí,
day mặt hướng Bắc mà cúng. Còn cúng sao Kế Đô, thì bày bài vị
giấy vàng có hình Thiên Quân Phân Vĩ Kế Đô Tinh quân, thắp 21
đèn cầy theo hình vẽ, day mặt hướng Tây mà cúng.

Những
ngọn nến hay những dĩa đèn dầu tượng trưng cho sao bản mệnh rất
quan trọng, không được tắt bất ngờ. Trong truyện Tam quốc, có
chuyện tế sao của ông Khổng Minh ly kỳ như sau:
Khổng Minh xem thiên văn biết mình sắp chết nhưng nhiệm vụ giúp
cho Lưu Bị là chủ soái thâu gồm thiên hạ chưa hoàn thành nên rất
buồn phiền. Ông bèn bầy đàn để cúng sao (nhương tinh) đốt
đèn bổn mạng, rồi khấn vái với trời cho ông sống thêm một năm
nữa. Trong bẩy ngày, nếu đèn bổn mạng vẫn cháy thì ông không
chết. Ông dặn dò ba quân, cấm tuyệt chẳng ai được vào phòng
trong hạn 7 ngày ấy. Gần đúng hạn kỳ, ngọn đèn càng thêm tỏ
rạng, Khổng Minh rất mừng. Bỗng Ngụy Diên đâm sầm từ ngoài vào
phòng, chạy báo tin binh Nguỵ đến, trớn chạy quá lanh khiến gió
chao ngọn đèn rồi tắt phụt. Khổng Minh quăng gươm xuống đất
than..“ Sống thác có mạng, dễ cầu đặng sao!“
Quả nhiên, vài ngày sau thì Khổng Minh thác ! .
Về
Tết Trung Thu thì ai cũng nghĩ là nhiều đèn đuốc được thắp coi
là chính thức về phương diện phong tục của Trung Hoa. Kỳ thực,
dịp mà đèn được đốt nhiều nhất là Đêm tiết Thượng Nguyên hay
Nguyên Tiêu tức là Rằm tháng Giêng âm lịch, đêm này người ta
thắp đèn vui chơi suốt cả đêm, nên còn gọi là Tiết Hoa Đăng.
Người Việt mình tuy chịu ảnh hưởng Trung Hoa nhưng không ăn tết
Thượng Nguyên. Trong truyện Kiều, có câu:
Cửa hàng buôn bán cho may,
Đêm đêm Hàn Thực, ngày ngày Nguyên Tiêu
Điều này chứng tỏ đêm rằm tháng giêng ở Trung
hoa quan trọng hơn rằm tháng tám về sự ăn chơi, nhất là đốt đèn
đi chơi suốt đêm. Sau Tết Nguyên Đán mồng một đầu năm, người ăn
chơi lai rai cho đến ngày rằm ăn thật tưng bừng rồi chấm dứt.
Tục ăn tiết Nguyên Tiêu có từ đời Hán cách đây khoảng hai ngàn
năm, dịp này người Tầu cúng vái Trời cao mà họ gọi là Nguyên thỉ
Thiên tôn.
Một điều mà người Trung hoa đã tin tưởng về
đèn cũng nên nói ra. Sự tin tưởng lại dựa vào sự phát âm ngôn
ngữ qua tên gọi. Ta thấy ở miền Nam đầu năm người dân quê chưng
hoa quả cúng thì bày ra những trái mãng cầu, sung, dừa, đu đủ,
xoài, nếu đọc theo thổ âm miền Nam thì ghép lại thành một thông
điệp khẩn cầu là “ Cầu Sung túc Vừa Đủ Xài”. Ở bên Trung
Hoa, lửa tượng trưng cho sự sinh sản mau mắn, nên vào Tiết
Nguyên Tiêu, phụ nữ thường ngày chỉ quanh quẩn nội trợ tại gia,
ít ra đường ngoài chợ búa nên vào dịp rước đèn đêm này thì theo
phong tục họ được phép đi chơi. Đối với phụ nữ có gia thất thì
rước đèn là điều may mắn chóng sinh con trai. Hoa ngữ gọi chiếc
đèn là Đăng, đọc theo giọng phổ thông gần giống chữ Đinh
(là con trai về sau lớn lên thành một đơn vị làm việc cho gia
đình và đóng thuế cho nhà nước). Đốt đèn theo Hoa ngữ là Điểm
Đăng, đọc trại ra thành Thiêm Đinh (thêm con trai) vì
vậy mỗi năm vào dịp Nguyên Tiêu là mỗi phải đi để kiếm theo con
trai! [ Bây giờ, Trung quốc có 1 tỉ 3 dân nên họ chủ truơng kế
hoạch theo chánh sách “chỉ đẻ một con”!]
Người Tầu nổi danh là khéo tay sáng trí nên
sẵn tre mây là thổ sản và nhân sự phát minh ra giấy, dệt vải
lụa, họ đã sáng chế rất nhiều thứ đèn đủ mọi hình thức và kiểu
cách: đèn xách cầm tay, đèn treo trước cửa, đèn để trên bàn, đèn
đám cưới, đèn lễ hội và bao nhiêu thứ đèn kiểu cọ khác v.v… Đi
đêm thì họ dùng đèn lồng hay đèn xếp gọn nhỏ để người ta biết.
Đèn treo cửa thì lớn hơn, có ghi tộc tính của nhà mình như Trần
Phủ là nhà của họ Trần, trong nhà có hỉ sự thì đèn màu đỏ, có
tang sự thì màu trắng để báo tin cho hàng xóm biết. Đèn đám cưới
không thể thiếu chữ Song Hỉ…

Vào dịp Rằm tháng 8 thì có nhiều đèn cho trẻ
em về súc vật như thỏ, gà, thiềm thừ, cá chép liên quan đến thần
thoại Trung Thu. Trên đèn để bàn, đôi khi vẽ cảnh vua Đường Minh
Hoàng du nguyệt điện. Nhiều nơi, nếu chủ nhà là văn nhân mặc
khách thì trên đèn có viết một bài thơ hay một câu đố, để
những người biết chữ nghĩa dừng chân lại ngắm nghía và bàn
luận.
Nhưng có lẽ đáng nói nhất là những chiếc đèn
kéo quân mà người Trung Hoa gọi là Tẩu Mã Đăng. Hình
thức đèn này thường là đèn bát giác, hay lục giác, phất vải
luạ hay giấy dầu trên nan tre, ở giữa có một cây trục chính nối
liền bên dưới với một cái vòng tròn bằng những căm tre như cái
bánh xe Merry-go-round ở các hội chợ. Ở trên đầu trục, có gắn
một cái tán bằng giấy cứng cắt những khứa xeo xéo rồi bẻ như
hình chân vịt máy đuôi tôm chạy ghe xuồng. Trên vòng tròn có dán
nhiều hình giấy cắt thành hình người hay hình ngựa xe, thuyền
bè. Bên dưới chiếc đèn kéo quân, có thắp một ngọn đèn dầu nên
khí nóng bốc lên làm cho cái trục chuyển động, ngó bên ngoài ta
thấy những bóng người và ngựa, xe và thuyền bè di chuyển rất vui
mắt và ngộ nghĩnh.
Đây là một sáng chế của đầu óc Trung hoa,
dùng không khí bị hun nóng do sức nhiệt của cây đèn khiến nó bốc
lên và làm chuyển động cái tán tròn. Nguyên tắc này là nguyên
tắc làm những chiếc khinh khí cầu để bốc người ta lên không
trung trước khi có sự sáng chế cánh quạt gió để làm máy bay. Vào
thời Tam Quốc, Khổng Minh đã nghĩ ra những chiếc khinh khí cầu
nhỏ tức là những chiếc đèn bên dưới đốt một nùi dẻ thấm nhựa
thông để thả lên không trung dùng để cấp báo khi khổn nguy.
Tẩu Mã Đăng là một sự kỹ xảo dùng hơi nóng để
đẩy trục đèn chạy vòng tròn. Về phương diện kỹ thuật, đơn giản
nhất là chiếc đèn kéo quân với một cái tán thường bầy cỗ rằm
tháng 8. Nhưng lên một cấp khéo hơn, lại có những đèn kéo quân
có hai tán: một tán xoay chiều thuận, một tán xoay theo chiều
nghịch nên khi đèn chạy, có hai vòng quân, một vòng trẩy đi,
một vòng trẩy ve, nên rất vui mắt.
Nhưng kỹ xảo hơn cả, người ta lại chế tạo ra
những đèn xẻ rãnh , tức là đèn kéo quân với một hệ thống
có nhiều rãnh cho trục tán di chuyển, nên có thể dàn dựng để
diễn xuất thành một màn kịch ngắn theo tuồng xưa tích cũ Trung
Hoa. Rãnh có thể hiểu là con đường rầy trên đó di chuyển những
hình giấy gọi là quân.
Kỹ thuật làm đèn Trung thu kéo quân và xẻ
rãnh ở Trung quốc đã truyền sang Việt Nam. Với một năng khiếu
bắt chước tài tình, người Việt vốn khéo tay đã chế tạo ra những
chiếc đèn tinh xảo không kém người Tầu. Xin quí bạn đọc phần đối
thoại của hai cha con trong kỹ thuật làm một chiếc đèn xẻ rãnh
trong truyện Đèn Đêm Thu của cuốn Vang Bóng Một Thời do
tác giả Nguyễn Tuân :
Cụ Thượng hỏi ông Cử Hai:
_ Thế anh đã nghĩ làm đèn thế nào chưa?
_ Con định hỏi lại thầy về cái tích này xem
có nên không. Là diễn một tích trong truyện Ngô Việt Xuân Thu,
lúc Phạm Lãi đem Tây Thi sang dâng Ngô Phù Sai.
_ Ừ, Phạm Lãi gặp Tây Thi giặt lụa ở bến Trữ
La, hồi này thú vị đấy. Nhưng anh Cử định diễn từ đoạn nào?
Phải làm những quân gì? Đừng nên làm nhiều quân lắm. Cái sức
luân chuyển của tàn đèn đốt lửa chỉ có chừng độ thôi. Nếu dùng
nhiều quân quá, sức máy gạt ngang sẽ yếu đi nhiều.
_ Con đã nghĩ rồi. Cái rãnh chính để hình
dung một con sông chảy từ đất Việt sang đất Ngô. Ở phía bên
phải chiếc đèn, đắp một hòn núi giả hơi cao. Ở rãnh phụ ấy, đặt
một cái máy gạt ăn vào hai hình quân Ngô Phù Sai và Ngũ Tữ Tư.
Ở nơi góc bên trái, cũng ở một cái rãnh phụ nữa, lại một chiếc
máy gạt ăn vào một chiếc thuyền ở trên có hình Phạm Lãi ngồi. Ở
cái rãnh chính thì có chiếc thuyền lớn. Đó là thuyền Tây Thi
tiến Ngô.
Một điều cần phân biệt là trong chiếc đèn kéo
quân thường chỉ cho thấy bóng đen của những quân hình chạy trên
màn giấy của đèn, còn trong đèn xẽ rãnh, những quân hình được
đắp nắn như thật bằng sáp, đầu là nang mực gọt tỉa, có đội mão
mang râu như trên sân khấu. Một chiếc đèn trang bị với bốn năm
rãnh cần ít nhất một dĩa đèn lớn thắp đến mười con bấc thì hơi
nóng mới đủ sức để cái tán đèn lớn chạy.
Cũng nên nói thêm về đèn cù Việt Nam
mà cách làm như sau: Bửa những quả bưởi nhưng cốt giữ nguyên vẹn
lần vỏ, trổ vào vỏ những hình trám thủng, còn bên trong thắp đèn
để trẻ con lăn tròn trên mặt đất. Đèn thắp là những hạt bưởi
xâu vào que phơi khô, rất dễ bắt lửa.
Nói đến đèn Trung Thu vui vẻ, ta không thể
nhắc đến những chiếc đèn khác vào dịp Cúng Cô Hồn Tháng Bảy, đó
là những chiếc đèn sơ sài làm bằng giấy xếp lại giống hình búp
sen, thắp sáng bằng ngọn nến nhỏ thường để ở hai vệ đường hay
thả trôi trên sông hồ. Tín đồ Phật giáo tin rằng những hồn ma
không ai hương lửa cúng cấp phải sống trong cảnh đêm dài vô tận
của cõi u minh như dưới ngòi bút của Nguyễn Du:
Trong trường dạ tối tăm trời đất,
Có khôn thiêng phảng phất u minh
Thương thay tập loại chúng sinh,
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người
Hương lửa đã không nơi nương tựa,
Hồn mồ côi lần lửa mấy niên.
Bởi thế, những chiếc đèn Rằm Tháng Bẩy biểu
hiện cho ánh sáng của Phật được thắp lên để hướng dẫn thập loại
cô hồn đến nghe những hồi kinh giải thoát và sau khi hưởng đồ
cúng cấp nơi trần gian có thể nương ánh sáng này biết đường mà
trở về Âm Phủ chờ giải nghiệp cho một kiếp sau:
Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ,
Phóng hào quang cứu khổ độ u,
…
Mười loài là những loài nào?
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh
Kiếp phù sinh như hình như ảnh,
Có chữ rằng: “Vạn cảnh giai không”
Ai ơi lấy Phật làm lòng,
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi…
(Chiêu hồn Thập loại Chúng sinh)
Ở Huế trước đây, vào rằm tháng bảy cũng như
vào dịp Cúng Thất Thủ Kinh Đô 23 tháng 5 âm lịch, có tục phóng
thí ở các chùa và phóng đăng trên sông Hương. Đèn thả sông gọi
là hà-đăng, đứng trên cầu Trường tiền nhìn xuống trông mờ ảo
lung linh. Đôi khi, thay vì thả đèn thì thả những bè chuối nhỏ
tí hon để giấy tiền binh có thắp nhang trên bè có gắn một cái
bồ đài (hay xà-lẹt) đựng một chút cháo nấu lỏng, mục đích là để
cúng những oan hồn chết trên bờ sông bụi suối do tên bay đạn
lạc. Khắp một giải sông Hương, du khách thoáng ngửi phảng phất
một mùi nhang trầm huyền bí.
Những chiếc đèn Á Đông phất bằng vải giấy,
đốt bằng dầu thực vật hay những ngọn nến sáp trên dòng lịch sử
của nhân loại là những sản phẩm có tuổi thọ mấy ngàn năm so với
cả triệu bóng điện màu của cây Giáng sinh ở Toà Bạch Ốc Mỹ
quốc hay hàng chục nghìn cây số đèn ống nê-ông uốn éo muôn
vẻ muôn mầu ở Nữu Ước vào Tết Dương lịch. Những điều thần
thoại, tín ngưỡng hay sự tích dân gian mà con người xưa cổ lỗ ở
Á Đông đã gán ghép cho những ánh đèn , ánh nến đến bây giờ có
thể gần như không ai còn nhớ, hoặc giả đã lặn sau vào tiềm
thức. Tuy nhiên, những ánh đèn lồng ấm cúng, những ngọn nến lung
linh không vì vậy mà biến mất đi vì khiếu thẩm mỹ của tâm hồn
Việt nam hiện đại vẫn còn chuộng nét vẻ huyền bí hoang sơ của
những món đồ cổ vật. Một phố cổ Hội An với những ánh đèn lồng,
một khúc Hương giang Huế với những ánh hoa-đăng ở Việt Nam chính
là những điểm tựa lý tưởng cho những tâm hồn hiếu cổ muốn trở về
hành hương chiêm ngưỡng lại những cái gì đã một thời vang bóng.
LÊ VĂN LÂN
Ý
Kiến, Phê bình xin gửi về:
bslevanlan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |