|
Thố Ty:
Hôm nay ngày sinh nhật thứ 2005 của Chúa Cứu Thế.
Trong bầu không khí vui mừng, chúng ta hãy trò chuyện về Ca Nhạc
Giáng Sinh là thích hợp hơn cả, phải không Bác sĩ. Xin Bác sĩ
hãy kể vài giai thoại quanh vài bài bản nhạc Giáng sinh nổi
tiếng.
 |
 |
|
BS Lê Văn Lân |
Cô Thố Ty |
Bs Lê văn
Lân:
Nhạc về Giáng sinh thì nhiều lắm. Trước hết phải kể
những bản thánh vịnh thường hát trong Giáo Đường, trong Cựu Ước
những bài thánh vịnh gọi là Nhã Ca, có vài bản thánh vịnh vì
quá hay đến nỗi chúng lan ra ngoài thế tục ví dụ như bài Adeste
Fideles, Ave Maria, Silent Night, Hark The Herald ... Và ngoài
thế tục, dân gian Tây Phương cũng có những tiểu khúc hay tiểu
nhạc tụng do lũ nhi đồng thường đi từng nhà mà hát chúc mừng
gia chủ vào dịp Giáng Sinh để xin tiền như chuyện Christmas
Carol của Charles Dickens. Tục hát rong về Giáng sinh này cũng
giống như ở Việt Nam ngày xưa, đêm 30 rạng sáng mồng một Tết có
lũ Nhi Đồng hát bài Súc sắc chúc Tết vậy. Các nhạc sĩ dân gian
cũng sáng tác rất nhiều bài ca khúc Giáng sinh khác , quen
thuộc nhất là những bài Jingle Bells, Let it snow, Santa Claus
is coming to town và hàng chục bài khác rất vui nhộn diễn tả nỗi
hân hoan của nhân thế vào ngày lễ hội trên làn sóng phát thanh
hay truyền hình và trong các vũ trường.
Trong những tiểu khúc Giáng sinh, có một bản đã tạo
ra một câu chuyện kỳ diệu như huyền thoại là bản La Cantique de
Noel hay Minuit Chrétienne với câu mở đầu là „ Minuit chrétienne
, c'est l'heure solemnelle où l'Homme Dieu descend jusqu'à
nous... „Giờ nửa đêm Thiên Chúa. Đây là giờ phút long trọng mà
Chúa mang thân xác Người giáng hạ với nhân thế chúng ta „ Nguòi
ta kể rằng trong trận chiến giữa hai nước Pháp và Phổ vào thời
điểm nửa đêm 25 tháng 12. những binh sĩ của hai chiến tuyến
bỗng ngừng bắn giết nhau để cùng hát vang bài này trong khi lệ
ứa chan hòa. . .
Tôi xin hỏi Thố Ty còn nhớ một bài nhạc Giáng sinh
mà dân di tản VN hồi 1975 còn nhớ, Thố Ty biết bản gì không?
Thố Ty:
Đó là Bản White Xmas chứ gì. Nếu TTy không lầm, thì
đây là một ám hiệu cho một kế hoạch di tản. Khi bài Giáng Sinh
tuyết trắng được chơi liên tục trên đài phát Quân Đội Hoa Kỳ
giữa bầu không khí oi bức nóng nực của Saigon chính là thời điểm
phải di tản.
Bs Lê văn
Lân:
Cám ơn TTy. Bây giờ trong số rất
nhiều những bản Giáng sinh, chúng ta hãy chọn ra hai bản bất hủ
để làm đề tài trò chuyện hôm nay nhé. Tôi đề nghị hai bài là
Silent Night và Hang Bêlem, bài đầu lừng danh mà khắp hoàn cầu
ai cũng biết và bài thứ 2 rất trứ danh cho thính giả VN, theo
Công giáo hay ngoài Công giáo trong vòng nửa thế kỷ qua.
Trước hết, chúng ta hãy nghe lại
bài Silent Night (nguyên thủy là một bài thơ ngắn bằng tiếng
Đức được phổ nhạc với nhan đề ban đầu là Stille Nacht.
Thố Ty:
Xin Bác sĩ cho biết ai là tác
giả bài Silent Night nguyên thủy và bài này được truyền tụng ra
sao?
Bs
Lê văn Lân:
Bài này truyền tụng rất rộng rãi
khắp nơi trên hoàn cầu từ mấy thế kỷ nay hầu như không ai biết
tác giả là ai. Hơi nhạc của nó cao vút tuyệt vời đến nỗi nhiều
người gán cho nó là sáng tác của một trong những nhạc sĩ đại tài
như Bach, Beethoven, hoặc Handel! Kỳ thực bài Silent Night ban
đầu là một bài thơ do một linh mục hay mục sư đặt ra rồi sau
đó trong một cơ duyên đặc biệt linh mục hay mục sư nhờ một
nhạc sĩ phong cầm phổ nhạc. Vì nó quá hay, nó được truyền tụng
quá rộng rãi mà chính những tác giả đặt lời, đặt nhạc không ngờ
và chẳng hưởng một đồng xu nhỏ về tác quyền, thậm chí còn chết
trong cảnh nghèo túng trước khi được công nhận là tác giả.
Thố Ty:
Sự ra đời của bản nhạc này nghe
như huyền thoại thật ly kỳ. Xin Bác sĩ kể về nó đi.
Bs
Lê văn Lân:
Câu chuyện như sau:
Năm 1817, cha Joseph Mohr mới 25
tuổi được bổ nhiệm làm cha của nhà thờ Thánh Nicholas ở miền
Oberndorg nước Áo. Vào mùa đông năm sau 1818. cha Mohr đang bận
rộn chuẩn bị tổ chức lễ Giáng sinh kề cận sắp đến thì cha phát
hiện ra rằng chiếc phong cầm của nhà thờ bị hư. Thật là kinh
hãi và tuyệt vọng vì vô phương cứu chữa dù rằng cha bỏ ra cả
ngàybò lết bò càng trên sàn nhà để cố tìm ra nguyên nhân tại sao
nó cứ ù lì không phát ra âm thanh.
Mừng ngày Chúa ra đời mà không có
nhạc thật là một điều thiếu sót vì chỉ có âm nhạc mới đem lại
bầu không khí ý nghĩa cho các giáo dân. Trong lúc vô cùng tuyệt
vọng, vì chỉ còn vài giờ đồng hồ thì đến thánh lễ nửa đêm, cha
bèn nhớ có làm một bài thơ thánh vịnh ngắn cách đây 2 năm lúc
còn phục vụ tại một thánh đường nông thôn vùng Mariapfarr. May
thay bài thơ còn nằm trên bàn viết. Ơn trên soi sáng bất ngờ
cho tâm trí của cha, cha bèn nhét vội bài thơ trong túi áo và
chay kiếm ngay một người tên là Franz Gruber, nguyên là giáo
viên trong làng và là người thường lệ chơi phong cầm cho nhà thờ
Thánh Nicholas.
Sau khi kể lể vắn tắt về chuyện
chiếc phong cầm của nhà thờ bị hỏng không biết vì lý do gì giây
đàn bị chuột cắn hay phím đàn đông cứng sao đó, cha nài nỉ:
_ Anh Franz ơi, anh xem có thể
đem bài thơ của tôi phổ nhạc được không? Không có phong cầm thì
dùng đàn ghi-ta thay thế vậy. Thời gian cấp bách quá.
Trước sự chì chiết khẩn khoản của
cha Mohr và chỉ còn quá ít thời giờ, ông Franz Gruber nhẩm đọc
bài thơ và ngồi xuống đặt nhạc. Và khi Nhạc được hoàn tất và ghi
ra trên giấy với lời thơ thì nhìn đồng hồ , không còn nhiều
thời giờ tập dợt nên hai nguòi dành chỉ dậy cho ca đoàn phần
hòa âm bốn giọng của hai câu thơ cuối.
Thế là vào thánh lễ nửa đêm tại
thánh đường nhõ bé St Nicholas, lần đầu tiên bài “ Stille Nacht!
Heilige Nacht! “ được hát đệm bằng tiếng đàn ghi-ta trong bầu
không khí sửng sờ xúc động của giáo xứ.
Và vài tuần lễ sau Tết Dương lịch
1819, cha Mohr gọi anh chàng chuyên ráp và sửa phong cầm trong
vùng thung lũng Ziller tên là Karl Mauracher đến sửa phong cầm
cho nhà thờ của mình. Trong lúc anh này sửa đàn thì cha Mohr bèn
kể lại câu chuyện và hát lại bài hát trên trong tiếng đệm
ghi-ta. Chàng Karl Mauraucher nghe thích thú quá bèn lấy bút ghi
lại bài thơ và học thuộc lòng những nốt nhạc. Rồi vì nhu cầu
nghề nghiệp, chàng này đi đây đi đó khắp chốn để ráp và sửa đàn
nên vô tình phổ biến đoản khúc Giáng Sinh này cho các nhà thờ
và đô thị lân cận.
Vào 1832, nhóm du ca Stasser ghé
đến vùng của chàng Karl Mauraucher để trình diễn thì học được
bài Still Nacht. Trong một dịp hội chợ mấy tuần sau, nhóm du ca
trên đến hát tại vùng Leipzig đã hát bài này trước một đám quần
chúng rất đông. Bài hát này từ đó phổ biến quá rộng rãi đến nỗi
Hoàng Đế Aó Quốc William IV truyền lệnh đem bài nhạc này vô phần
nghi lễ Giáng Sinh hằng năm cho các giáo đường trong nước.
Đến lúc này, không ai rõ xuất xứ của bản này do ở đâu cho đến
khi Franz Gruber lên tiếng về tác quyền bằng gửi thư cho các báo
và nhà xuất bản chứng cớ là bản sao có tờ phổ nhạc của mình.
Riêng về cha Mohr thì qua đời vào năm 1848 trước khi được công
nhận là tác giả của bài thơ nguyên thủy được phổ nhạc.
Thố Ty:
Theo Thố Ty đọc báo thì hình như
bài nhạc này được phiên dịch ra hơn 20 ngôn ngữ khác nhau ngay
vào cuối thế kỷ 19. Và vào năm 1905. bản nhạc đuọc thu âm lần
đầu do ban nhạc Haydn Quartet .( Quartet là ca 4 bè chăng?) Và
vào 1960. nó là bản đuọc ghi âm nhiều nhất trong lịch sử âm
nhạc. Ở Việt Nam, bài này được nhạc sư Hùng Lân đặt lời Việt là
Đêm Thánh Vô Cùng được hát từ hơn nửa thế kỷ trước ở Việt Nam.
Bs Lê văn Lân:
Nhân nói đến nhạc đạo ở Việt Nam,
chúng ta phải ghi nhận rằng cũng rất nhiều bài sáng tác cho lễ
Giáng sinh với nhiều tên tuổi nhưng nổi tiếng nhất phải kể là
bài Hang Bêlem của nhạc sĩ Hải Linh.
Thố Ty:
Thố Ty nghe nói phải phân biệt
hai người làm nhạc đạo rất nổi tiếng là nhạc sĩ Hãi Linh có gia
đình và Linh mục Ngô Duy Linh . Để Thố Ty trước hết thử phát
lại bài Hang Bêlem cho quý thính giả nghe rồi sau đó Bác sỹ nói
thêm về tiều sử tác giả và những chi tiết bài này được sáng tác
nhé!
Bs Lê văn Lân:
Thật cũng ngậm ngùi mà nói rằng
hai người Việt Nam tài ba về nhạc nhạc sĩ Hải Linh và Linh Mục
Ngô Duy Linh đều đã tạ thế và an nghỉ ở New Orleans LA
Muốn hiểu rõ về tác giả Hải Linh,
tôi nghĩ tốt hơn cả là dựa vào bài viết của ông Trần Chí Thành
phõng vấn chính nhạc sĩ Hải Linh.
Ông Chí Thành hỏi:
Nhạc phẩm “Hang Bê Lem” của nhạc
sĩ đã được hát hàng ngàn hàng vạn lần ở những nơi có người Việt
khi mùa Giáng Sinh đến. Xin nhạc sĩ cho biết đôi giòng về bài
đó.
Hải Linh đáp:
Đó là bài đầu tiên mà tôi viết
vào tháng 11 năm 1945. Lúc ấy tôi 25 tuổivà đang dạy học tở
Truòng Giảng ở Nam Định.
Một hôm, tôi đi ngang tòa soạn
bản nguyệt san Đường Sống ở Nam Định, ông Minh Châu - chủ
nhiệm- thấy tôi thường hay hát nên dỗ tôi làm được một bài để
đăng vào báo Đường Sống nhân mùa Giáng Sinh. Tôi nhận lời và hẹn
ba ngày sau trở lại.
Sau ba ngày , tôi đưa bản nhạc
“Hang Bêlem” tới tòa soạn và tập sơ qua cho một số an hem trong
tòa soạn. Khi hát lên, mọi nguòi thấy thích quá nên ông Minh
Châu mới thương lượng với tôi thế này: Ông sẽ chịu chi phí cho
một người cầm bản nhạc lên Hà Nội để tìm Mạnh Quỳnh và thuê Mạnh
Quỳnh khắc vào bản gỗ; rồi sau khi đã in vào 2000 số báo Đường
Sống thì ông Minh Châu sẽ cho tôi lại bản gỗ của bản nhạc. Tôi
cũng đồng ý như vậy.
Tôi còn nhớ là lúc ấy tôi đã in
ra 500 bản để bán với giá 3 hào hay3 xu gì đó . Tôi gửi lên
Hànội 10 bảnh. Một số nhà thờ hát và nhiều nguòi thấy hay nhưng
không tìm đâu ra bản nhạc. Thật tôi là một anh nhà quê vì đối
với thủ đô Hà Nội mà chỉ gửi có 10 bản nhạc! Một điểu rất đặc
biệt là Cha Kim Định đã mua một bản danh dự với giá 100 đồng!
Tôi cũng gửi biếu Đức Cha Phạm Ngọc Chi - lúc ấy còn là Linh Mục
và đang dạy trường Lý Đoán Phát Diệm- một bản.
Sau khi bài đầu tiên được hưởng
ứng nồng nhiệt, tôi rất lên tinh thần và tôi cứ thong thả viết
cho đến năm 1946 tôi đã xuất bản một quyển Ca vịnh gồm nhiều bài
về Đức Mẹ, trong đó có những bài rất phổ biến như:
“Mẹ ơi! Đoái thương xem nước Việt
Nam”
“Giáo dân bao xiết mừng”
“Ngày nay con đến hát khen ...” (
dâng hoa)
Thố Ty:
Thố Ty đã nhớ là nhạc sĩ Hải Linh
sáng tác rất nhiều, có bài rất nổi tiếng như Lòng Mẹ (lời của Y
Vân) và nhất là bài Đà Lạt Trăng Mờ (thơ HMT) trình tấu tại Thảo
Cầm Viên Sàigon cùng với nhạc Đại Hòa Tấu từ New York qua khoảng
1958 . Ngoài ra Hải Linh còn soạn nhạc theo thể Việt Ngũ Cung và
thơ Lục Bát. Không biết ông được huấn luyện ở đâu mà giỏi vậy?
Bs Lê văn Lân:
Qua cuộc phõng vấn, Hải Linh nói
hồi nhỏ do bà mẹ dậy hát những bài cổ xưa vì bà làm “bà Quản”
dậy hát ở nhà thờ và vì sinh trưởng ở miền Bắc nên biết tất cả
những hơi bắc như vè vãn, trống quân, cò lả... Đó là thể nhạc
Việt theo ngũ cung.
Còn về nhạc lý Tây phương, thì
chưa có ai dậy cả. Khi lên 13 tuôi đưọc một linh mục nguòi Tây
Ban Nha tên là Rangel (tên VN là Cố Lễ) dạy cho những bài hát
đạo. Rồi ông mượn sách nhạc của cố này về xem và tự tìm hiểu...
Nhưng một cơ may là vào năm 1950, cha Phạm Ngọc Chi thụ phong
Giám Mục coi sóc địa phận Bùi Chu, nhớ tới bài hát “Hang Bêlem”
của ông tặng ngài nên đã gữi ông sang học ở Âu Châu trong 6 năm:
7 tháng đầu tại Pontifical de Rome õ, rồi sau đó qua Paris
(Pháp) ở truòng Cesar Franck chuyên dậy về sáng tác. Vào năm
1956, ông trình luận án với nhan đề : “La Couleur Vietnamienne
dans le Chant Grégorien “ ( Mầu sắc Nhạc Việt trong Bình Ca)
Thố Ty:
Như vậy nhạc sư Hải Linh vừa có
thiên bẩm vừa được thụ huấn quy củ về Âm Nhạc, thảo nào những
bản nhạc của ông rất xuất sắc. Riêng bài Hang Bêlem là sáng tác
đầu tay lúc ông 25 tuổi sau khi chập chững tự học về nhạc lý
Tây phương đã chứng tỏ tài năng của ông đã nở rộ rồi.
Bs Lê văn Lân:
Nhìn lại sự ra đời của hai bản
Silent Night của Áo quốc và Hang Bêlem của Việt, ta thấy việc gì
sáng tác cũng phải có tầm hồn xúc cảm cọng với thiên bẩm trước,
rồi sau đến những cơ duyên bức xúc làm hứng khởi thì thành quả
sẽ đi vào lòng người để trở thành. bất hủ. Còn người nghệ sĩ
sáng tác cũng như những con tầm nhả tơ kết kén thì phần lớn chỉ
cống hiến sản phẩm cho đời mà ít khi được thụ hưởng một phần
thưởng vật chất gì trước mắt.
Thân ái chúc quý vị thính giả
một Mùa Giáng Sinh An Lành trong Ơn Huệ của Chúa.
LÊ VĂN LÂN
Ý
Kiến, Phê bình xin gửi về:
bslevanlan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |