|
Thứ tư ngày 30 Jan 2008 là ngày 23 tháng chạp,
nghĩa là ngày TIỄN ÔNG TÁO! Không biết ở hải ngoại, còn mấy
người nhớ đến Ông Táo hay ông Vua Bếp. Lý do là chúng ta bây giờ
dùng khí đốt, điện khí, dùng microwave để làm nấu nướng thức ăn,
ít khi suy nghĩ lại vấn đề dùng Ngọn Lửa Thiên nhiên đốt bằng
củi của bao nhiêu thiên niên kỷ đã mang nhiều biến thiên sắc
thái ăn sâu về phong tục văn hóa. Chúng ta bây giờ không còn
nhớ đến Cái Bếp cổ truyên dựng trên ba cái đồ rau, cái kiềng sắt
3 chân, cái hỏa lò đất nung, cái lò lớn chính của gia đình. Vả
lại vì sinh họat làm lụng, chúng ta bây giờ càng ngày càng bớt
nấu nướng ở nhà vì ăn thức ăn chế biến sẵn, ăn tiệm… Vai trò
người phụ nữ không còn là người nội trợ, người đầu bếp … Bếp lửa
gia đình vô hình chung đã biến mất, và có thể ngọn lửa ân tình
trở nên nguội ngắt để rồi dễ đi tới ly tan, vợ chồng con cái
không còn tìm lại cái ấm áp của gia đình chăng?
Bây giờ, chúng ta hãy nhân dịp cuối năm
trở về sự tích cổ của Á Đông tìm hiểu chân dung và chân tướng
của Ông Táo là ai? Để tìm hiểu hoàn cảnh Một Bà Hai Ông của gia
đình ông ra sao? Ý nghĩa của vai trò Táo Quân trên mặt văn hóa
Cổ Á Đông ra sao?
Theo niềm tin cổ xưa, vũ trụ cũng giống như một
triều đình, trên có Vua, dưới có Quan trực tiếp cai quản người
dân., nghĩa là trên hết có Ngọc Hòang Thượng Đế trên thiên đinh,
ở hạ giới có chư vị thần linh coi sóc nhân gian ở hạ giới nào là
thần lửa, thần núi, thần đất, thần sông, thần gió và đương nhiên
có ông thần bếp hay còn gọi bằng nhiều tên như là Táo Công ,Táo
Quân, mà dân VN gọi nôm na là Vua Bếp.
Theo tin tưởng nguyên thủy của dân Trung
Hoa, thì chỉ thờ cúng duy nhất một ông Táo Quân thôi mà họ gọi
là Táo Vương Gia hay Tư Mệnh chi thần… Vị này chính là “một
đặc sứ tòan quyền” do Ngọc Hòang phái xuống coi sóc và
phù trợ cho những người trong mỗi gia đình nên thường được nguời
Tầu thờ bằng một bức tranh giấy điều vẽ hình của ông mặt mày
hiền phúc dán trong bếp, bên trên ghi 4 chữ Tư Mệnh chi Thần
( thần chăm sóc về mạng sống) . Hai bên ông có hai vị tiên đồng
bưng hai cái bình, một bên là bình Thiện, một bên là bình Ác để
ông ghi chép hành vi xấu hay tốt rồi bỏ vào đó. Mỗi năm vào
ngày 23 tháng Chạp.
Để chứng minh điều trên, tôi xin lấy một
bức tranh thờ của Táo Vương Gia từ trong một cuốn biên khảo
viết về phong tục tập quán đặc thù chính thống của dân Trung Hoa
gọi là The Adventures of Wu (The Life Cycle of a Peking Man), kể
ra tỉ mỉ từng chi tiết trong cuộc đời của một người Tầu điển
hình từ lúc lọt lòng sanh ra, lớn lên đi học, lấy vợ cho đến lúc
già chết, cuộc sống trong gia đình và ngoài xã hội, mọi việc đều
mô tả ra và được minh họa bằng tranh vẽ. Cuốn sách này có thể
coi như cuốn Trung Hoa Phong Tục về mọi khía cạnh cuộc đời của
một người Trung Hoa điển hình.
Trong cuốn này, tôi thấy vai trò của Táo
Vương Gia còn quan trọng trong nhiều chuyện khác liên quan đến
phúc lợi của những người dân trong nhà, nhất là làm Cố vấn về
Hôn Nhân trong sụ dựng vợ gả chồng. Ví dụ như chuyện sau: mỗi
khi trai gái chuẩn bị dạm hỏi cưới nhau, thì gia đình đôi bên
bèn trao đổi với nhau một tấm thiếp ghi đầy đủ danh tánh, giờ
sanh tháng đẻ của hai trẻ, rồi mỗi gia đình nhận lấy rồi để trên
bàn thờ Táo Vương Gia trong nhà mình trong ba ngày. Rồi mỗi gia
đình chờ xem, trong vòng ba ngày, nếu không có sự gì gây gổ
phương hại sự thuận hòa thì mới xúc tiến chuyện hôn nhân.

Khi tiển Táo Vương Gia về Thiên đình,
người Tầu cũng thường cúng kẹo nấu bằng mạch nha để ông Táo
ngọt giọng mà nói tốt cho gia chủ. Thành ra ngoài vai trò đặc sứ
toàn quyền cho mỗi gia đình, ông còn là trạng sư bào chữa
cho người ta luôn. Vui quá đi thôi!
Người ta cúng tiễn Táo Vương Gia vào
ngày 23/ tháng Chạp lên chầu trời, nhưng sau đó trong thời gian
từ ngày 23 Chạp đến 30 Tết thì gia chủ kiêng cữ “động thổ”
trong thời gian này cho đến mồng 2 Tết, nếu không kiêng thì
vàng bạc tài nguyên trong nhà sẽ thất thóat. Lý do là ông cũng
là vị thần cai quản đất đai của mỗi gia đình, Trong chữ Nho, Chữ
Thổ 土là
đất viết bằng hai vạch ngang như chữ Nhị
二
tượng trưng cho hai lớp đất trên mặt và bên dưới, cùng một gạch
thẳng đứng 丨tượng
trưng cho cái gì mọc lên . Còn chữ Kim
金 là
vàng có chữ Kim bên trên để tượng thanh
今
và bên dưới
có chữ Thổ 土
cọng với hai chấm
丶丶là
tượng hình cho những vẩy quí kim vàng bạc dưới đất. Cuốc đất đai
hay động thỗ mà không có ông ở nhà canh giữ và kiểm sóat thì
vàng bạc trong nhà bị thất thóat.
Sở dĩ người ta còn gọi là Táo Công vì
chữ Nho thì Táo竈
là cái bếp, cái lò nặn hay đắp bằng đất ( nên còn viết tắt là
灶
gồm chữ Hỏa 火土
và chữ Thổ).
Nhưng lại do đâu lại nảy sinh ra sự tích
Hai ông Một Bà về gia đình Táo công như câu ca dao Việt Nam sau
: Thế gian một vợ một chồng – Nào như Vua Bếp hai ông một bà?
Tôi thấy sự tích bộ 3 là một điều khá lạ
vì
Táo Quân
hay Thổ Công chỉ là duy nhất một Vua Bếp trong tín ngưỡng của
dân Trung Hoa miền bắc , nhưng tại sao có sự tin tưởng rằng
trong mổi gia đình có tất cà
ba vị Thần:
Thổ Công,
Thổ Địa,
Thổ Kỳ. Phải chăng đây
là sự khác biệt nào khác ở miền nam Trung Hoa, địa bàn nguyên
thủy của các sắc dân Bách Việt trong đó có Lạc Việt chúng ta? Ba
Thần Táo nầy gọi chung là: Định Phúc Táo Quân (Ba vị Thần
Táo định đoạt phước đức cho gia đình, phước đức nầy do việc làm
đúng đạo lý của gia chủ và những người trong nhà). Không biết
tình tiết tin tưởng ra sao thì 3 vị thần mang họ Thổ nhập chung
làm thành một gia đình bộ ba như sau và được phân nhiệm vụ như
sau:
_ Phạm Lang (chồng sau) làm
Thổ Công, trông coi
việc bếp.
_ Trọng Cao (chồng trước) làm
Thổ Địa, trông coi
việc nhà cửa.
_ Thị Nhi (vợ) làm
Thổ Kỳ, trông coi việc
chợ búa.
Chuyện ban đầu chỉ có một ông sau lại
trở thành ba: hai ông một bà! Câu chuyện gia đình thần linh họ
Thổ được lưu truyền hậu thế này quả là thú vị như chuyện Tình
Bộ Ba của người nhân thế vậy? Tra cứu sách vở, tôi kiếm ra những
chứng liệu sau về chuyện gia đình bộ ba của Táo Quân chỉ có ở
Việt Nam hay tại các dân tộc thiểu số sinh sống tại mạn ngược
nước ta:
1)
Truớc hết
là tranh vẽ mộc bản để thờ của Việt Nam:

Tranh này lấy từ sách Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Tranh
Mộc bản Việt Nam của Nguyễn Khắc Ngữ vẽ một bà ngồi giữa hai
ông, dưới một tấm biển ở trên có ba chữ Táo Danh Vị, và hai bên
có câu đối mang ý nghĩa chúc tụng Ngày ngày thêm vinh hoa, Năm
năm tăng phú quí. Ở dưới là vẽ cảnh cơ ngơi nhà cửa rộng rãi có
cối chầy giã gạo, kẻ hầu nước, kẻ bưng cơm, ngòai sân thì đầy đủ
lục súc gia cầm.
2)
Ở thượng du Bắc Việt như vùng Mường Nia, Mường
Nam (Hòa Bình) ông thầy mo thường hát khi cúng gà đề xin ông bà
Táo giải tội với câu khấn sau:
Lạy ông thổ công, lậy bà thổ
công,
Lạy ông thổ kỳ, lạy bà thổ kỳ
Chẳng có cái chi
Phải nướng con cáy (
gà)
Để mà cúng tội.
Chúng ta phải dẫn giải tình lý một bà
hai ông ra sao? Đương nhiên là dựa vào sự tích của nhân gian ở
Việt Nam: Nguyên do là ba
vị thần
họ Thổ
này khi còn là người dương thế đã từng có mối
liên hệ thân thiết
tình cảm lại trái ngang.
Nhưng câu chuyện kể lại thì tùy theo những truyền thuyết đại thể
thì giống nhau nhưng tình tiết lại khác nhau:
1)
Theo Phan Kế Bính ( trong cuốn Việt Nam Phong
Tục): Ngày xưa có hai vợ chồng nghèo
phải bỏ nhau. Người vợ về sau lấy được người chồng giầu có. Một
hôm cúng đốt mã ngoài sân, có một người ăn xin; người đàn bà
trông thấy là chồng cũ của mình, động lòng thương cảm, đem cơm
gạo tiền bạc ra cho. Người chồng sau biết chuyện, nghi cho vợ.
Vợ xấu hổ đâm đầu vào đống lửa mà chết. Người chồng cũ cảm tình
ân nghĩa, cũng đâm đầu vào đống lừa chết theo. Người chồng sau
thương vợ, cũng nhẩy vào nốt, thế là chết cả ba. Thượng đế
thương cho ba người cùng có nghĩa mới phong cho làm vua bếp.
2)
Theo Hoàng Trọng Miên (trong Việt Nam Văn Học
Toàn Thư): Ngày xưa, có hai vợ chồng
chú tiều phu nghèo. Vợ rất thương yêu chồng nhưng chồng lại có
tính rượu chè và đánh đập vợ tàn nhẫn luôn luôn, vợ rốt cuộc
chịu không nổi phải cam lòng trốn đi. Chị tiều trốn vào rừng,
gõ cửa một nguời thợ săn xin ở đậu. Anh thợ săn nghe kể sự tình
thì bằng lòng cho ở. Rồi ít lâu sau, hai người lấy nhau, chông
rất yêu thương vợ. Còn chú tiều ở nhà, đâm ra hối hận mới quyết
đi tìm vợ về, và run rủi sao lại tìm đến túp lều tranh của anh
thợ săn khi anh này đi vắng. Chú tiều mới khóc lóc năn nĩ vợ trở
về. Người vợ cũng khóc theo tỏ ý mình vẫn thương chồng cũ. Đang
lúc ấy, thì người chồng thợ săn trở về ngoài ngõ, người vợ hốt
hoảng bảo chồng cũ trốn vào đống rơm. Nguời thợ săn vào đến cửa
mới bảo vợ: “Bữa nay, tôi săn được con thỏ, để tôi đốt lửa thiêu
thỏ nhé! “ Nói xong là nhóm lửa đốt, ai ngờ lửa bắt vào đống rơm
nơi chú tiều ẩn núp khiến chú giẫy giụa chết. Người vợ đau
lòng, thương chồng cũ hóa ra giết chồng, bèn nhẩy vào đống lửa
đang cháy. Nguời thợ săn thấy vợ chết thương quá, tưởng mình làm
điều gì trái nghĩa cũng nhẩy vào lửa chết theo.
Trời cảm vì tình yêu của ba người cho cả ba hóa
thành ba ông đầu rau, chụm đầu vào nhau trong bếp lửa hay là cái
kiềng bếp ba chân
Chúng ta thấy sự tích này hình như là sự
tích trong văn hóa VN hơn là của Trung Quốc, nghe đại thể cũng
như tình tiết của chuyện Trầu Cau: hai anh em song sinh họ Lưu
cùng yêu một cô gái họ Cao, rồi cùng tìm cái chết như sau!
Theo tôi những tích chuyện trên có lẽ
được kể trong giai đọan của thời kỳ người Việt phải bỏ chế độ
Mẫu Hệ mà theo Phụ Hệ.
Những chuyện Mỵ Nương được tự ý chọn
chồng giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh, và chuyện bà Trưng Trắc cầm
quân chỉ huy cuộc khởi nghĩa chống quân Tầu để trả thù chồng ,
và về sau bà Triệu trong vai trò lãnh đạo quân sự đã chứng tỏ
đó là di tích của chế độ mẫu hệ còn ưu thế. Còn câu chuyện 2 ông
1 bà Táo quân và chuyện cô gái họ Lưu chỉ được chọn một chồng
giữa 2 anh em họ Cao là giai đọan chuyển tiếp dằng co giữa chế
độ Mẫu hệ qua Phụ hệ, nếu mẫu hệ còn uy quyền thì đâu có phải
lâm vào cảnh trớ trêu ly biệt vì một bà mà lấy một lúc hai chồng
hay đa phu là sự thường?
Qua sự trình bày trên, tôi nghĩ chúng ta
đã phần nào nhận diện chân dung và chân tướng của Táo Quân Trung
Hoa và Táo Quân Việt Nam với một vài dị biệt về tình tiết sự
tích tuy rằng đại thể về tín ngưỡng vẫn tương đồng trong vai trò
Táo quân là thần linh nên phù hộ cho người ta. Táo của Trung Hoa
là thần linh thuần túy không hay rất ít mang tính người, còn Táo
của Việt thì mang đẫm tính nhân lọai hơn, với đặc tính phản ảnh
những khía cạnh bi hài của cuôc đời nhân thế.
Còn chuyện Ông Táo ngày 23 tháng Chạp
lên chầu trời để báo cáo những việc hay dở, thiện ác bao hàm ý
nghĩa gì?
Theo tôi, đây là một suy diễn khác về
triết lý hay là một sự dung hòa phối hợp giữa 2 nguồn tín ngưởng
của Trung Hoa là Lão giáo bình dân dựa vào sự tin tưởng về thần
linh và Khổng giáo chủ trương tu dưỡng tính tình theo Thiện và
lánh Ác trên quan niệm đạo đức luân lý về cán cân Thiên Lý và
Công bằng xã hội.
Tôi lại thấy theo quẻ Dịch, thì 2 hào
Dương kẹp 1 hào Âm chính là Quẻ LY
离 tượng
trưng cho sự xẹt ra lửa vậy và cũng là đầu mối sự cách biệt xa
rời. Một Táo Quân cai quản một bếp lửa tượng trưng cho một đơn
vị gia đình. Một gia tộc sinh sôi nảy nở thành nhiều tiểu gia
đình để rồi tách riêng ra thành nhiều cái bếp nấu ăn. Cũng như
một vị Thần Xã hay Thành Hòang tượng trưng cho một tập hợp nhiều
gia đình hay một tiểu xã hội. Thần linh vô hình cai quản thế
giới cụ thể hữu hình qua hệ thống Thiên Lý. Quan niệm Khổng giáo
về sự hướng thượng là: Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ.
Một cá nhân có một lương tâm tự xét mình, một gia đình có một hệ
thống giáo dục tự kiểm thảo mà điển hình là tiếng nói của Táo
Quân là một thần linh ở chung người ta nên theo dõi họ. Mọi
người trong một gia đình phải có nhiệm vụ bảo vệ thanh danh
chung, cũng như người chung một làng, một tình, một nước đều
chia xẻ niềm tự hào chung.
Trên phương diện tiến trình khảo cổ, từ
sự phát minh ra cách dùng lửa đề nấu nướng, đến sự thành lập
những cái bếp gia đình đã ảnh hưởng đến sự an sinh và lạc thú
của con người ra sao?
Nhân lọai tình cờ biết dùng lửa ít ra từ
cả triệu năm, họ ăn những xác thú bị thiêu cháy rôi từ đó mới
quen thói ăn chín và bỏ cách ăn sống rồi con người tiến lên từ
giai đọan thui cho đến giai đọan làm chín qua cách luộc hay
hấp.
Hiệu lực của lửa làm cho thức ăn dễ
tiêu, ngon hơn và bớt độc. Muốn luộc hay làm chín cách gì khác,
phải trải qua một thời gian dài sáng chế dụng cụ nồi, chảo, vạc
tùy theo các thời đại như thời đồ gốm, thời đồ đồng.
Theo lý luận Dịch lý, một nồi cơm hay
nồi canh là cả một hình ảnh tập hợp của Ngũ Hành: ta thấy ông đồ
rau làm bằng đất là Thổ, lửa đun nóng là Kim, nồi đồng là Kim,
gạo và rau là Mộc, nước để nấu là Thủy!
Bây giờ xét về tinh thần luân lý hợp
quần của hành động “ăn” thì ăn không phải là hành động giành
dựt, cấu xé nhau như loài dã thú mà khi con người tiến đến trình
độ văn hóa cao thì một bữa ăn tập thể như hình chữ Thực
食 chứng
minh là một nồi kê có cái muôi vá và hình tam giác chứng tỏ sự
quây quần.
Thói thường, khi hai vợ chồng mới ra
riêng bắt buộc phải có có một giường và một cái lò bếp đề nấu
ăn và để sưởi ấm dưới một cái mái nhà. Bếp lửa trước hết là hình
ảnh chung sống tiên khởi của tình yêu vợ chồng ( ăn 1 mâm, nằm
1 chiếu) rồi sau đó là những bữa ăn của cha mẹ với con cái. Tình
cảm và giáo dục khởi đầu bằng cái bếp lửa.
Bếp lửa không họat động thì tình duyên
tan rã và gia đình ly tan.
Chuyện Táo quân và bếp lửa trong văn hóa
Á Đông rất tầm thường nhưng suy gẫm ra chúng ta rút tỉa nhiều ý
nghĩa sâu sắc về một hình thức gia đình căn bản. Qua câu chuyện
bếp lửa thì chúng ta có thể suy nghĩ như sau: Dù
có những tiến
bộ về văn minh thì cái bếp gia đình dù là làm bằng vật liệu gì
cũng phải họat động như là tượng trưng cho một gia đình căn bản
để duy trì mối liên lạc vật chất và tinh thần mật thiết của
những con người chung sống dưới một mái nhà hay một nóc gia vậy!
Bây giờ, chúng ta hãy tìm hiểu cách thức
Cúng Tiễn Táo Quân trong phong tục Việt Nam ra sao? Đây là
những chi tiết lý thú về văn hóa Việt Nam nên tìm hiểu.
Phong tục cúng Ông Táo thay đổi tùy theo
sự giải thích hay lề thói từng địa phương:
Lễ vật cúng Táo công gồm có: mũ ông Công
ba cỗ hay ba chiếc: hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà. Mũ dành
cho các ông Táo thì có hai cánh chuồn, mũ Táo bà thì không có
cánh chuồn. Những mũ này được trang sức với các gương nhỏ hình
tròn lóng lánh và những giây kim tuyết màu sắc sặc sỡ. Để giản
tiện, cũng có khi người ta chỉ cúng tượng trưng một cỗ mũ ông
Công (có hai cánh chuồn) lại kèm theo một chiếc áo và một đôi
hia bằng giấy.
Màu sắc của mũ, áo hay hia ông Công có
thể rắc rối cầu kỳ thay đổi hàng năm theo ngũ hành. Thí dụ:
- Năm thuộc hành kim thì dùng màu vàng
- Năm hành mộc thì dùng màu trắng
- Năm hành thủy thì dùng màu xanh
- Năm hành hỏa thì dùng màu đỏ
- Năm hành thổ thì dùng màu đen.
Những đồ "vàng mã" này (mũ, áo,
hia, và một số vàng thoi bằng giấy) sẽ được đốt đi sau lễ cúng
ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp cùng với bài vị cũ. Sau đó người
ta lập bài vị mới cho Táo Công.
Theo tục xưa, có vùng riêng đối với
những nhà có trẻ con, người ta còn cúng Táo quân một con gà luộc
nữa. Gà luộc này phải thuộc loại gà cồ mới tập gáy (tức gà mới
lớn) để ngụ ý nhờ Táo quân xin với Ngọc Hoàng Thượng Đế cho đứa
trẻ sau này lớn lên có nhiều nghị lực và sinh khí hiên ngang như
con gà cồ vậy!
Ngoài ra, để các ông và các bà Táo có
phương tiện về chầu trời, ở miền Bắc người ta còn cúng một con
cá chép còn sống thả trong chậu nước, ngụ ý "cá hóa long" nghĩa
là cá sẽ biến thành Rồng đưa ông Táo về trời. Con cá chép này sẽ
"phóng sinh" (thả ra ao hồ hay ra sông sau khi cúng).
Ở miền Trung, người ta cúng một con ngựa bằng
giấy với yên, cương đầy đủ. Còn ở miền Nam thì đơn giản hơn, chỉ
cúng mũ, áo và đôi hia bằng giấy là đủ.
Tùy theo từng gia cảnh, ngoài các lễ vật
chính kể trên, người ta hoặc làm lễ mặn (với xôi gà, chân giò
luộc, các món nấu nấm, măng...v...v) hay lễ chay (với trầu cau,
hoa, quả, giấy vàng, giấy bạc..v...v..) để tiễn Táo công.
Một câu hỏi: Người Việt Nam lưu lạc ở
hải ngoại có cúng Tiễn Ông Táo không? Một điều bất ngờ là có!
Tuy rằng ở các nước tiên tiến, họ vẫn duy trì đầy đủ chuyện
cúng vái. Nhưng thành phần còn thiết tha chuyện này chỉ là đa số
các phụ nữ bình dân lớn tuổi ít học hay người Việt gốc Hoa. Phụ
nữ thường sống theo tập tục và cảm tín không theo lý trí suy
luận như phái nam nên họ là thành trì cố thủ về bảo tòan cổ tục.
Họ đã nhập cãnh vô xứ Mỹ những thần linh đủ thứ như Thổ Địa, Táo
Quân, Thần Tài …
Chuyện này biểu hiện qua phong tục đốt vàng mã
đang bán trong những siêu thị Á Đông. Trong giấy vàng mã, tôi đã
tìm thấy nhiều giấy cúng đủ loại trong đó có giấy Cúng Đưa Ông
Táo (Bái Tống Táo Quân), giấy cúng Thổ Địa ở cửa ( Bái Môn Khẩu
Thần). Cái ngộ nhất là những giấy vàng mã toàn là sản phẫm Made
in China từ Hongkong, thuộc Cọng Hòa Nhân Dân Trung Quốc!
Và lễ phẩm đương nhiên cho mấy ông Táo
Quân Mỹ phải là bánh bít quy và nước lon Coca để cho các ngài
ngọt giọng tâu điều tốt đẹp cho Ngọc Hoàng trên trời chứ!
Để kết luận, chúng ta thấy chuyện cúng Táo Quân
nghe thì cổ hủ của Việt Nam nhưng chứa đựng biết bao điều tình ý
cũng thú vị nhỉ! Và phong tục Táo Quân, ít ra hiện nay cũng
trường tồn trên báo chương là hằng năm thiên hạ vẫn thích đọc
những sớ Táo Quân vui tếu của hạ giới tùy địa phương báo cáo với
Ngọc Hoàng để tổng kết tình hình của năm cũ trước thềm một năm
mới sắp đến.
Lê văn Lân

Ý
Kiến, Phê bình xin gửi về:
bslevanlan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |