Trong bốn mùa, mùa thu nghe chừng quyến rũ nhất.
Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàng. Thu
Liễm là vạn vật bắt thu rút lại để rồi chuyển tiếp qua Đông
tàng là mùa mà vạn vật lui vào tình trạng ẩn dấu, ngủ yên để
rồi sang một chu kỳ năm mới khác thì bắt đầu lại với Xuân
sinh và Hạ trưởng, tức là bừng sống lại rồi tăng trưởng.
Chính vì vậy, khi tiết thu trở nên mát dịu hay gây gây lạnh
cùng với cỏ cây vừa làm xong nhiệm vụ khai hoa kết rrái thì
nghe chừng cũng sức sống bắt đầu tàn lụn tiêu điều với
hiện tượng trút bỏ lá vàng. Câu thơ sau của Vũ Hoàng Chương
nghe chừng thấm thía :
Trời cuối thu rồi, em ở đâu.
Nằm
trong đáy mộ chắc em sầu.
Lá vàng với sắc vẻ rực rỡ nhưng rồi sẽ âm thầm
tắt ngúm, gợi cho thi nhân tâm sự của nỗi biệt ly.
Khi những rừng phong đổi màu rồi trút lá, trông
đẹp và thơ nhưng buồn da diết:
Rừng thu từng biếc chen hồng,
Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn
Hay:
Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.
Mùa thu thường là chủ đề về tử biệt sinh ly, về
những nuối tiếc trong nhiều bài hát như Mùa Thu Chết ( Phạm
Duy phổ nhạc bài thơ của Guillaume Apollinaire), Mùa thu
không trở lại ( của Phạm trong Cầu) ... Nhưng hình như Mùa
thu còn có thể mang nhiều biểu tượng cho nhiều cảm xúc tâm
hồn của người ta phải không? Này hãy lắng nghe một tiếng
ru:
Gió muà thu, mẹ ru con ngủ
Suốt canh chầy, thức đủ năm
canh.
Chỉ nghe một tiếng ru tầm thường mà trong dạ
cũng đã khác lạ rồi, huống hồ chi nghe lại những vần thơ
của nàng TTKh trong bài Hai sắc hoa ti-gôn mà những
tiếng “thu” cứ láy qua láy lại như tiếng đại hồ cầm để diễn
tả niềm nhung nhớ khôn nguôi:
Từ
đấy thu rồi/ thu lại thu,
Lòng tôi còn giá /đến bao giờ.
Chồng tôi vẫn biết /tôi thương nhớ
“Người ấy”, cho nên /vẫn hững hờ!
Tôi
vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái
ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà
từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn
dấu trong tim một bóng người.
Tôi
nhớ lời người đã bảo tôi,
Một
mùa thu cũ rất xa xôi.
Đến
nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm
lỡ tình duyên cũ mất rồi.
Tôi
sợ chiều thu phớt nắng mờ,
Chiều thu hoa đỏ rụng chiều thu
Gió
về lạnh lẽo chân mây trắng,
Người ấy sang sông đứng ngóng đò.
Nếu
biết rằng tôi đã có chồng,
Trời ơi! Người ấy có buồn không?
Có
thầm nghĩ tới loài hoa vỡ,
Tựa
trái tim phai, tựa máu hồng.
Mùa thu còn là hình ảnh của mối sầu ấp úng bẽ
bàng như tâm sự Buồn Thu sau đây của Hàn Mặc Tử:
Ấp
úng không ra được nửa lời
Tình thu bi thiết lắm thu ơi!
Vội
vàng cánh nhạn bay đi trớt
Hiu
hắt hơi may thoảng lại rồi.
Nằm
gắng đã không thành mộng được,
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi.
Ngàn trùng sương toả, cây e lạnh
Chỉ
có thông kia chịu với trời.
Ta hãy nghe một Lưu Trọng Lư ngập ngừng rụt rè
trong cái lạnh của thu sang:
Lòng anh như nước hồ thu lạnh,
Quạnh quẽ đêm soi, bóng nguyệt tà.
Ngày tháng anh mong chầm chậm lại
Hững hờ em mặc tháng ngày qua.
Cả tiếng đàn thu nghe cũng tê tái qua thơ của
Xuân Diệu:
Thu
lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,
Đàn
ghê như nước, lạnh trời ơi,
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận,
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người
Một Văn Cao trong bài “ Một đêm
đàn lạnh trên sông Huế” cũng u uất tự hỏi như sau:
Sao đàn u hoài gì mùa thu?
Tri âm nghe thử dây đồng vọng,
Lạc lõng đêm vàng khi nhạc ru!
Sau cái hơi lạnh của thu, chúng
ta không thể không nói đến cái “vàng” của thu đấy: vàng đây
là mầu của lá uá, mầu của day dứt, vò nát dưới chân nai
trong bài Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư
Em
không nghe mùa thu,
Lá
thu rơi xào xạc
Con
nai vàng ngơ ngác
đạp
trên lá vàng khô
Những phiến lá thu là những trang nhật ký của
những thời không bao giờ trở lại với Chế Lan Viên:
Ai
đâu trở lại mùa thu trước,
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
...
Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ!
Một
cánh chim thu lạc cuối ngàn.
Thơ Trung hoa có câu: Ngô đồng nhất diệp lạc,
Thiện hạ cọng tri thu!
Nói đến lá vàng, thì chỉ một chiếc lá rơi cũng
là dấu ấn của mùa thu .
Rặng liểu đìu hiu đứng chịu tang,
Tóc
buồn buông xuốnglệ ngàn hàng
Đây
mùa thu tới, mùa thu tới,
Với
áo mơ phai dệt là vàng.
Hãy để ý kỹ thuật nghỉ âm hoà điệu
(allitération) lấp láy âm điệu trong âm “uông” trong câu
Lá buồn buông xuống lệ ngàn hàng để diễn tả cái”
buồn”. Hay cách dùng những âm gọi là những âm tắc hay
nhập thanh như “ác, áp”để nói lên cái ý niệm nhầu “
nát” trong những câu của Lưu Trọng Lư:
Lá
thu rơi xào xạc
Con
nai vàng ngơ ngác
đạp
trên lá vàng khô
Kỹ thuật nghỉ âm cũng được sử dụng trong bài Thu
Ca- Chanson d'automne của
Paul Verlaine :
Les sanglots longs,
Des Violons
De l’automne,
Blessent mon Coeur
D’une langueur
Monotone
Trong kho tàng thơ Việt, bài Thu
Điếu của Yên Đổ đã sử dụng âm “eo” để diễn tả cái vắng teo
tiêu sơ đìu hiu của cảnh thu và cái im ắng trong veo của mặt
nước hồ thu:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo!
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Đọc bài thơ Tỳ Bà của Bích Khê,
tiếng đàn mùa thu được miêu tả theo âm bằng mà thôi
(nghĩa là không dấu và dấu huyền):
Nàng ơi! Tay đêm / đương giăng mềm,
Trăng đan qua cành / muôn tơ êm
Mây nhung pha mầu / thu trên trời
Sương lam phơi mầu / thu muôn nơi.
Vàng sao nằm im / trên hoa gầy,
Tương tư người xưa / thôi qua đây.
Ôi nàng năm xưa / quên lời thề,
Hoa vừa đưa hương/ gây đê mê.
Cây đàn yêu đương /làm bằng thơ
Dây
đàn yêu đương / run trong mơ
Hồn
về trên tôi / kêu Em ơi!
Thuyền hồn không đi / lên chơi vơi.
Tôi
qua tim nàng / vang du dương
Tôi
mang lên lầu / lên cung thương.
Ôi
tôi bao giờ / thôi yêu nàng,
Tình tang tôi nghe / như tình lang
Yêu
nàng bao nhiêu / trong lòng tôi,
Yêu
nàng bao nhiêu / trên đôi môi
Đâu
tìm Đào nguyên / cho xa xôi,
Đào
nguyên trong lòng / nàng đây thôi!
Thu
ôm muôn hồn /chơi phiêu diêu
Sao
tôi không màng/ kêu: Em yêu!
Trăng nay không nàng / như trăng thiu
Đêm
nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào / xin hơi xuân,
Buồn sang cây tùng / thăm đông quân.
Ô
hay! Buồn vương / cây ngô đồng,
Vàng rơi! Vàng rơi! /Thu mênh mông
Suốt toàn bài thơ trên đã gieo vận nối liền giữa
cuối hai câu như mềm-êm; trời-nơi; xuân –quân, đồng- mông.
Trong bài, đôi khi có sự lập lại những chữ đầu câu nghe thú vị
như:
Tôi
qua tim nàng /vang du dương
Tôi
mang lên lầu /lên cung thương.
Hay:
Yêu
nàng bao nhiêu/ trong lòng tôi,
Yêu
nàng bao nhiêu/ trên đôi môi
Hay:
Buồn
lưu cây đào/ xin hơi xuân,
Buồn
sang cây tùng / thăm đông quân.
Đặc biệt câu sau nghe như tiếng gảy trên giâyđàn vậy
với sự láy hai chữ tình tang và tình lang:
Tình
tang tôi nghe như tình lang
Tiếng Việt vốn là tiếng tượng thanh. Thi sĩ
Bích khê tài hoa đã vận dụng tối đa cái ưu điểm này để biến bài
thơ của mình nghe như một tiếng đàn.
Như là một lời kết vội vàng, nói chuyện tản mạn về
thơ Muà Thu đã dẫn đắt chúng ta qua nhiều khía cạnh từ nội dung
tình cảm qua mầu sắc đến âm thanh trong hình thức. Ta chỉ có thể
kết luận rằng thi tứ về mùa thu là một bản đàn phong phú dài vô
tận chất chứa những tâm tình e ấp của bao nhiêu điều chưa nói
hết .
LÊ VĂN LÂN
Ý
Kiến, Phê bình xin gửi về:
bslevanlan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |