|
Trong kho tàng ca dao của miền Nam nước Việt, một
trong những câu mà tôi thích nhất là câu:
Chim khuyên ăn trái nhãn lồng,
Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi
Lý do ưa thích vì từ ngữ rất nôm na,
trực diện, bầy tỏ một cách chơn chất nhưng không kém phần quyến
rũ như bản tính của dân Nam Kỳ Lục Tỉnh, điển hình nhất là hình
ảnh của bà xã của tôi. Nhưng tìm hiểu nó không dễ chút nào vì nó
dẫn dắt chúng ta qua rất nhiều điều lỉnh kỉnh bất ngờ, chứ
không đơn thuần dễ dàng nếu chúng ta muốn đi sâu về sự tra cứu
cặn kẽ.
Cũng như phần lớn ca dao VN, câu Lục“
Chim khuyên ăn trái nhãn lồng” là theo thể hứng, nghĩa là
lấy một sự vật hay hiện tượng nào đó trong thiên nhiên để làm
cái cớ hay một vần điệu mà bắt qua câu Bát “ Thia thia quen
chậu, vợ chồng quen hơi! Tỉ như câu: “Quạ kêu nam đáo nữ
phòng, Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương”. Người ta khó
mà nắm bắt sự liên hệ từ nhân đến quả từ câu Lục sang câu Bát,
nhưng nếu có chăng cũng là xa xôi như giải thích là con chim
khuyên vì tình cờ ăn trái nhãn lồng rồi quen mui bén vị đã tìm
đến để ăn hoài, như cá thia thia nuôi chung chậu thì ưa nhau, vợ
chồng ở riết với nhau “bén mùi” nhau để rồi nhung nhớ như câu
thơ tương truyền của vua Tự Đức nhớ bà Bằng phi sau khi bà này
khuất bóng: Đập cổ kính ra tìm lấy
bóng, Xếp tàn y lại để dành hơi!
Phân tách cái cơ cấu luyến ái hay “
ghiền nhớ ” mùi hơi từ cơ thể có thể khiến ta dài dòng nhắc
đến cái chất “pheromome” của mỗi sinh vật. ( Tôi tạm dịch chữ
này là “luyến tình hương”!). Nhưng chủ đích của tôi trong bài
này không phải phân tách cái ý vị luyến ái của câu Bát, mà muốn
tra cứu về gốc gác mấy chữ “chim khuyên” và “nhãn lồng” trong
câu Lục mà thôi. Tôi vốn theo nghề thuốc nay vui thú điền viên
nhưng lại mù tịt kiến thức về chim chóc, cỏ cây. Có thể nói tôi
là một phàm nhân tục tử về điểu học và thảo mộc học nhưng rất
đam mê về thi văn và lại có y thích tìm kiếm cái giây liên hệ
thực tế cách vật trí tri .
Câu ca dao này phát xuất từ miền Nam
nên chúng ta cần hiểu theo từ ngữ của miền Nam. “Chim khuyên” ở
đây là tên của lọai chim gì trong tiếng Nam?
Theo nhà văn lão thành Xuân Tước từng
viết rất nhiều về chuyện thôn quê cùng người vật hoa cỏ của miền
Nam thì chim khuyên là con chim nhỏ thuộc giống sáo sẻ còn có
một cái tên bình dân khác là chim “chè chiệng”,
chứ không phải là chim quyên hay chim đỗ quyên tức một lọai gà
cuốc hay kêu vào mùa hè. Chim chè-chiệng là thứ chim đồng nhỏ
con cùng hay kêu theo Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Hùinh-Tịnh
Paulus Của – Saigon 1895. Tôi có trong tay cuốn Birds of South
ViệtNam của Philip Wildash- Xuất bản Tuttle 1968, vì không có
tên khoa học của chim “chè chiệng” nên không biết nó có phải nằm
trong gia đình chim với Warbler hay Flycatchers.

Đến Trái Nhãn Lồng, thì
vì tôi từng sống ngoài Huế tôi dứt khóat chỉ nghĩ đến lọai Long
Nhãn , trái mọc từ chùm đến mùa trái được người ta lấy mo cau
làm lồng che bọc kẻo dơi và chim chóc ăn. Nhưng tôi còn nhớ thuở
bé lang thang ngòai lùm bụi từng hái lọai trái gọi là
trái Mắm nêm mà ăn. Hình dáng của trái màu vàng nằm
trong cái bọc tua như cái lồng đèn. Trong trái có những hột nhỏ
có cơm trăng trắng. Lấy tay vò lá và trái, ngửi có mùi ngái
ngái. Cái tên Mắm Nêm chỉ nghe được ở Huế. Kỷ niệm về cây mắm
nêm thời thơ ấu ở Huế chỉ vỏn vẹn từng ấy thôi cọng với vị rốt
rốt chua ở đầu luỡi khi ăn thử những hạt của nó.
Khi vô Nam học thuốc vào đầu thập niên 50 thì tôi
mới nghe câu ca dao với chữ Nhãn Lồng và tôi khám phá là cây
Nhãn Lồng trong Nam là cây Mắm Nêm ngoài Huế, và trong Nam thì
Nhãn lồng còn gọi là Cây Chùm Bao, cây Lồng Đèn. Tôi lại có kỷ
niệm nghe ru em những buổi trưa hè với câu ca dao này, khiến tôi
về sau thỉnh thỏang tủm tỉm cười trong cuộc sống phối ngẫu với
bà vợ gốc Cái Nhum miền Nam của tôi. Mãi sau này tôi tra cứu
sách Cây Cỏ Việt nam của Phạm Hòang Hộ, tôi mới biết những cây
Nhãn Lồng thuộc Passifloraceaceae. Và thời đó, vì chứng tim hồi
hộp và khó ngủ, tôi được bác sĩ cho uống thuốc nước gọi là
Passiflorine của nhà bào chế PDĐ ( duợc sĩ Phạm Dõan Điền ở Huế)
chế bằng rễ và lá của cây Lạc Tiên có những tên bình dân là
Nhãn Lồng, Lổng Đèn, Chùm Bao.
Giòng đời trôi chảy gần 30 năm mãi đến gần đây,
khi về hưu ở Austin Texas, tôi mới trồng ở vườn sau một lọai
giây có hoa gọi là hoa Passion rất đẹp.

Nguồn gốc của tên gọi là Hoa Khổ Nạn là do các
giáo sĩ Tây Ban Nha lần đầu tiên đến Nam Mỹ mà đặt ra vì nó
tượng trưng cho Mùa Thương Khó của Chúa Giêsu trên khổ giá với
chi tiết sau: tua hoa xòe ra là vương miện đầy gai hay hào quang
trên đầu Chúa, 5 dây nhụy đực là 5 vết thương, 10 cánh hoa là 10
tông đồ theo Chúa ( không kể Thánh Phê rô và tên Giuđa phản
nghịch)
Tra cứu tên khoa học thì có tên Passiflora edulis
và có trái ăn là trái Passion thường bán tại chợ Mỹ.
Tôi có cảm tưởng bối rối như chim chích lạc vô
rừng với qua nhiều tên gọi cho những cây trong họ
Passifloraceae hay Nhãn Lồng .Tôi bèn hỏi giáo sư Tôn Thất Trình
thì được cung cấp nhiều thông tin phong phú được hệ thống hóa
rành mạch như sau:
Họ thực vật Passifloraceae đã được GS Phạm
hòang Hộ gọi tên là họ Nhãn lồng ở sách cây cỏ Việt Nam.
Tên này thường dùng để gọi các lòai Passiflora hoang dại.
Còn các lòai Passiflora spp. trồng ít nhiều ở vài nơi ăn
trái thì :
_ khi gọi là chùm bao trứng
như Passiflora edulis Sims ,
_ khi thì gọi là nhãn lồng
như Passiflora coerulea
a)
Lọai .nhãn lồng lam, hoa trắng, trái khá lớn
4-6cm, nhiều hột, trồng ở Quảng Nam- Đà Nẳng,
b)
Lọai nhãn lồng Suber đôi khi trồng ăn trái ở vùng
Sài gòn Passiflora suberosa L. , hoa không cánh hoa màu
xanh , trái nhỏ 1cm,
_ khi thì là gọi là guồi tây
Passiflora laurifolia L. , trái to bằng quả trứng gà , có 3
sóng dọc, thịt trắng , hột cũng to , thấy trồng ở Thảo cầm viên
Sài gòn,
_ khi thì gọi là lạc tiên hay
mắc mát Passiflora incarnata , hoa màu
sim trắng lợt, tràng hoa màu tía trái vàng khá to3.5 - 7cm,
hột nâu đậm, nguồn gốc Phi châu , đem về trồng ở vùng Hà Nội ,
Đà Lạt.
_ khi thì gọi là dưa gang tây ,
chùm bao dưa Passiflora quadrangularis
L. , gốc Nam Mỹ như các loài giống thứ P. edulis, mặt
trong hoa đỏ , cánh hoa đỏ, trái to dài đến 30cm , thịt vàng
,hột đen , trồng từ đồng bằng thấp đến cao độ 1000m, hay thấy ở
thung lũng gần thành phố Kontum.
_ Tên mới của một giống tông chi Passiflora mới
nhập từ Brasil trồng ở Lâm đồng nay đem bán ở Sài gòn có tên là
chanh dây, trái Thương Khó ( hay Khổ Nạn- passion fruit,
rất có thể là một thứ giống của lòai P. edulis , lòai
phụ var. edulis .
Trái Thương Khó có hai loại là tím và vàng:
_ Lọai tím tên Anh là purple pasion
fruit, tên Pháp là grenadille pourpre, tên Việt là nhãn lồng
tím (da trái tím , nhưng thịt màu vàng cam, ăn chua chua
ngọt ngot. .

_ Lọai vàng là lòai phụ P. edulis var
flavicarpa , da trái vàng , trái nhỏ hơn và chua hơn , trồng
tốt hơn ở vùng thấp đồng bằng. Lọai này còn được gọi là
Chanh dây vì trái mọc ở dây.

[Về cách thức gọi tên các lòai chanh thì chúng
thường gọi :
_ chanh tây có da vàng và nước chua,
citron theo tiếng Pháp ( citron theo tiếng Mỹ bên ta gọi là bòng
), lemon theo tiếng Anh,
_ Còn chanh da ( vỏ ) xanh thì tên Anh gọi là
lime , tên Pháp là limette, tên Việt là chanh giấy, chanh ta
).]
Hoa Nhãn Lồng hay Hoa Khổ Nạn (Thương Khó) tùy
theo lọai có nhiều sắc vẻ rực rỡ vô cùng cũng như chúng có nhiều
tên gọi khác nhau bằng tiếng latinh cũng như tên Việt.
Hiện nay người ta khám phá ra gần 400 lọai Nhãn
Lồng, có lọai mọc ngòai hoang dã, có lọai được trồng trong vườn
cảnh trong khi có rất nhiều lọai trồng lấy trái để ăn hay lấy rễ
lá làm thuốc. Nguyên thủy môi trường của các lọai Nhãn Lồng là
vùng đất từ phía bắc xứ Mexico cho đến vùng Brazol miền Nam, nói
chung Nhãn Lồng mọc khỏe ỡ vùng nhiệt đới.
Sau đây là lịch trồng Nhãn Lồng bằng chậu trong
nội thất:
_ Từ January đến March là mùa yên nghĩ: Để chậu
nhãn lồng ở chỗ mát, hướng về phía bắc. Đừng để đất khô mà giữ
cho uớt, nhưng không bón phân. Cắt giây nhãn lồng còn khỏang 8
in để nó phục hồi lại hằng năm.
_ Tháng April là tháng tăng trưởng. Chậu cần
nhiều ánh sáng, đất dùng lọai compost có fertilizer
_ Từ May cho đến September: Mùa nỡ rộ, có thể để
chậu ở ban-công. Mỗi tuần tưới một lần thì hoa lá đẹp
_ October đến December là mùa bắt đầu tàn rụng.
Bớt tưới và cho phân nhưng giữ cho bầu rễ có độ ẩm mà hồi sinh
năm tới.
Câu chuyện kể của tôi về hoa trái của cây Nhãn
Lồng đã đưa các bạn từ một câu ca dao mộc mạc chơn chất của quê
hương Việt Nam qua những hình ảnh hoa trái rực rỡ ngon lành trên
đất Mỹ, kể ra như đã phiêu du theo buớc chân của đoàn người tỵ
nạn lữ thứ VN đi nửa vòng trái đất.
Cây Nhãn Lồng gốc tại Mỹ Châu trên giòng thời
gian đã lan tràn khắp nẻo trên địa cầu. Tôi từng hái những hoa
chùm bao, nếm những trái mắm nêm hoang dại ở Huế vào tuổi ấu
thơ, rồi thổn thức vẩn vơ khi nghe câu ru em tình tứ vào tuổi
hoa niên với chuyện chim khuyên ăn trái nhãn lồng để rồi vào
tuổi vãn niên tìm hiểu rõ thấy chân tướng và gốc gác của nó
trên đất Mỹ Châu. Câu chuyên nghe chừng xa xôi, diệu vợi nhưng e
phải có một cái duyên nào đó nhỉ!
Trong cuốn Kiều, vào khúc kết tái hồi có câu :
Tình nhân lại gặp tình nhân,
Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình
Thì câu chuyện của tôi có thể đặt cho một tựa đề
là “ Hoa xưa trái cũ nay tìm lại trên đất Mỹ Châu” và được thực
hiện bằng một bụi Nhãn Lồng ở vườn sau.

Người viết LÊ VĂN LÂN
Ý
Kiến, Phê bình xin gửi về:
bslevanlan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |