|
Ngày July 4 năm nay lại về để tưng bừng ăn mừng
Ngày Sinh nhật thứ 230 năm của quốc gia trẻ trung Hiệp Chúng
Quốc Hoa kỳ này. Thế là dân chúng Mỹ có một ngày lễ hội lớn:
ban ngày coi diễn binh, coi triển lãm, ban đêm coi pháo bông,
tiệc tùng chè chén barbecue.
Nước Hoa Kỳ được người Trung Hoa dịch chính thức
từ chữ The United States of America trong các tự điển là :“
Hiệp Chúng Quốc“ vì Chúng là nhiều người, ý nói một quốc gia do
nhiều người họp lại mà lập ra. Nhưng người Việt chúng ta thường
thuận miệng gọi là „Hiệp Chủng Quốc“ có lẽ liên tưởng rằng dân
Mỹ là do nhiều người của những chủng tộc khác nhau mà lập nên.
Riêng tại đô thị New York, ngoài tiếng Mỹ, còn có khoảng hơn
sáu mươi ngôn ngữ được nói hàng ngày, nên trên thực tế, hiểu là
Hiệp Chủng quốc cũng không sai! (Tôi còn nhớ về cách đọc quen
miệng như sau là vùng phi trường Phú Bài ở Huế viết theo chữ nho
ghi chính thức là Phù Bài nhưng ít ai để ý. Cũng như ở Huế có
vùng sông gần lăng Minh Mạng mà dân quen gọi là Bảng Lãng, kỳ
thực có tên là Bằng Lãng, nghĩa là bằng yên không có sóng!)
Mang danh làm công dân Mỹ, nhiều người di dân hay tỵ
nạn từ nhiều xứ trên thế giới đương cũng chia xẻ niềm vui về
ngày July Fourth. Ngẫm nghĩ lại về những động lực khiến cho biết
bao người di dân và tỵ nạn quyết tâm chọn xứ này để dung thân là
ngoài nhu cầu theo đuổi hạnh phúc vật chất, tinh thần thoải mái
phải chăng họ còn nhắm đến nhiều điều cao hơn nữa mà người ta
gọi là „niềm mơ uớc Hoa Kỳ“ (American Dream ) như:
1)
một đời sống đầy tự do và công bình : tự do phát biều, tự do
hành động, tự do di chuyển không ai kiềm chế v.v... và được đối
xử bình đẳng không bị kỳ thị về mầu da và chủng tộc
2)
bầy con lũ cháu được hưởng một nền giáo dục khai phóng tiên
tiến để tài năng phát triển và có những cơ hội đồng đều về công
ăn việc làm.
Chúng ta bèn thấy“niềm mơ Hoa Kỳ“ là những điều
chân lý đã được tóm gọn trong nghị quyết đầu tiên của Bản Tuyên
Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ với lời lẽ như sau:
„Chúng tôi coi đó là những chân lý vô cùng
hiển nhiên , nghĩa là mọi người sinh ra đều bình đẳng, mọi
người được Đấng Tạo Hoá ban cho những thứ Quyền bất khả nhượng,
trong đó có Đời Sống, Tự Do và sự theo đuổi Hạnh Phúc“
(We hold these truths to be self-evident,
that all men are created equal, that they are endowed by their
Creator with certain unalienable Rights, that among these are
Life, Liberty and the pursuit of Happiness.)
Nếu chúng ta có dịp coi lại bài
Tuyên Ngôn Độc Lập do ông Hồ Chí Minh đọc tại Quảng Trường Ba
Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945, chúng ta thấy ông đã diễn tả cái
ý trên qua câu mở đầu nguyên văn như sau:
“Tất cả mọi người đều sinh ra
có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể
xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền
tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”
Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên
ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa
là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân
tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do…
Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng
chuyện đề ra những khẩu hiệu cao đẹp như Độc Lập, Tự Do, Hạnh
Phúc để hô hào cho người dân đi theo thì quá dễ, nhưng vấn đề
tối quan trọng là phải đồng thời nêu ra những nguyên tắc hiến
pháp để bảo đảm cho sự thực thi và phản đối trong quyền của
người dân khi những cứu cánh trên không được chính quyền mang
tiếng là đại diện cho dân làm trọn mà tệ hại hơn là còn phản
bội và đàn áp họ.
Đọc tiếp bản Tuyên Ngôn Độc Lập
của nước Hoa Kỳ, chúng ta thấy họ đã minh xác một cách khẳng
định mực đen trên giấy trắng như sau:
“Và để bảo đảm cho những Quyền
nói trên, những Chính Quyền được thiết lập trong Nhân Dân, chỉ
nên lấy quyền lực chính đáng từ sự thỏa thuận của người dân
dưới quyền, Chừng nào một Hình thức nào của Chính Quyền trở nên
phá hoại đối với những cứu cánh trên, đây là Quyền của Nhân Dân
phải thay đổi hay thủ tiêu nó, và thiết lập Chính Quyền mới, xây
nền tảng của nó trên những nguyên tắc như thế, tổ chức uy quyền
theo những hình thể như vậy, ngõ hầu để người dân có thể thực
thi sự An Ninh và Hạnh Phúc cho mình.”
(- That to secure these rights,
Governments are instituted among Men, deriving their just powers
from the consent of the governed, - That whenever any Form of
Government becomes destructive of these ends, it is the Right of
the People to alter or to abolish it, and to institute new
Government, laying its foundation on such principles and
organizing its powers in such form, as to them shall seem most
likely to effect their Safety and Happiness.)
Kinh nghiệm sống của dân Việt Nam
trong mấy thập niên qua trên vùng đất quê hương cho thấy điều
minh xác về Quyền của Nhân Dân muốn thay đổi chính quyền một
cách chính đáng đã hoàn toàn thiếu vắng, nếu không nói là bị
phản bội.
Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ là
một bản văn trứ danh của nhân loại vậy. Tuy mang tiếng là đã học
để thi nhập quốc tịch Hoa Kỳ, nhưng ít người công dân Mỹ còn
nhớ ai là tác giả của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa kỳ, nó có bao
nhiêu chữ ký và ban bố lần đầu ra sao.
Người soạn thảo chính của bản
Tuyên Ngôn là ông Thomas Jefferson. ( Ông cũng là Tổng thống thứ
3 của Hoa Kỳ nữa). Đương nhiên cũng có vài người khác tham gia
đóng góp ý kiến khi soạn thảo như các ông Benjamin Frankin,
Robert Livingston nhưng trứ danh nhất là ông John Adams ( ông
này vào năm 1789 làm phó tổng thống cho Tổng thống thứ nhất ở
Hoa Kỳ là George Washington, sau được bầu làm Tổng thống thứ
nhì vào năm 1796. Hai mươi năm sau, con trai của ông là John
Quincy Adams được bầu làm Tổng thống thứ 6)
|
 |
|
Bản đồ 13 Thuộc địa của nước Anh ở Mỹ |
Bản Tuyên Ngôn Độc Lập mang chữ
ký của 13 đại diện từ 13 thuộc địa của Anh ở Mỹ với chữ ký của
ông John Hancock là chủ tịch cuả Đại Hội Châu Lục thứ 2 . Chữ ký
của ông J Hancock đứng đầu và nổi tiếng độc đáo là chữ ký to bự
nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Do đó, trong tiếng Mỹ, từ “ John
Hancock “ mang ý nghĩ lóng, ví dụ nói: Giao kèo viết xong rồi,
anh hãy viết chữ John Hancock của anh vào đi!
Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ
được ký ở Philadelphia trong dinh thự Pennsylvania State House,
sau này biến thành di tích lịch sử Independence Hall.
Về chi tiết chuẩn bị phổ biến
bản Tuyên Ngôn này ở thời điểm lịch sử July 4 chính là một điều
cực kỳ bí mật. Tuy rằng tuyên bố độc lập vào thời điểm này,
nhưng quân ở New England đã thực sự nổ súng chiến đấu chống
quân Anh từ April 1775, và chờ đến June 8, 1776 mới có sự vận
động cho nền Độc lập trong kỳ Đại Hội Toàn Dân Châu Lục . Đến
July 2 thì mới có nghị quyết chấp thuận của toàn thể (12 - 0),
nhưng sự thể vẫn hoàn toàn trong vòng bí mật. Còn bản văn
Tuyên Ngôn Độc Lập mãi đến sau 11 giờ trưa ngày July 4 mới được
13 đại diện thuộc địa bầu chấp thuận, nhưng khi bản văn đầu tiên
giao cho nhà in phổ biến vẫn mang không có chữ ký gì hết . Và
đến July 8 thì ở Philadelphia mới tuyên đọc cho dân chúng và đốt
pháo bông. Phải chờ đến August 8 thì một bản văn đàng hoàng mới
mang chữ ký của những thành viên của Đại Hội, nhưng dù thế, bản
này vẫn giữ bị mật để bảo vệ họ khỏi bị người Anh trả thù.
Nói đến sự giành độc lập, thì
không có thể không nói đến sự đấu tranh sắt máu, súng đạn. Có
bao giờ một biến cố lịch sử đem lại tự do chống bạo tàn xảy ra
mà không phải là thành quả của một cuộc cách mạng. Vì vậy, chúng
ta phải ôn lại những tình tiết về cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ trong 8
năm gian khổ với bao nhiêu máu xương đổ ra.
Cuộc Cách Mạng Mỹ ( The American
Revolution) là Cuộc Chiến Khởi Nghĩa của 13 thuộc địa của Anh ở
Mỹ ( 1775 - 1783) chống với nước Anh dưới triều vua George III.
Những nguyên nhân của cuộc khởi
nghĩa mang tính chất vừa là chính trị và vừa là kinh tế. Đối với
phần lớn địa phương, những thuộc địa Mỹ đều do dân tự cai quản.
Nhưng sau khi người Anh đánh bại người Pháp trong cuộc chiến
Pháp và Da Dỏ (1754- 1763), nguời Anh làm nhiều điều để áp đặt
sự kiểm soát của họ. Họ quyết định lập đồn trú cho rất nhiều đạo
quân binh sĩ Anh trong những thuộc địa và bắt dân thuộc địa
phải trả tiền về nuôi quân và chi phí. Người Anh lại ngăn cấm
dân thuộc địa định cư trên vùng đất phía tây dãy núi
Appalachian. Người thuộc địa chỉ được phép giao thiệp với người
Anh thôi. Người Anh lập ra nhiều đạo luật như Luật về Tem Thuế
(Stamp Act). Dân Mỹ cảm thấy rằng người Anh cai trị dân Mỹ vì
quyền lợi của nước Anh - chứ không phải của những thuộc địa.
Lòng căm phẫn của dân Mỹ càng lúc
càng sôi sục nhất là khi một số người Mỹ bị quân lính Anh giết
trong cuộc Tàn Sát ở Boston năm 1770. Khi người Anh đánh thuế
trên trà, dân thuộc địa phản ứng lại với biến cố Boston Tea
Party. Để trừng phạt dân Mỹ, người Anh thông qua những đạo luật
mà dân Mỹ gọi là Intolerable Acts ( Luật Bất Khả Kham ) vào năm
1774. Mà một trong những đạo luật này là đóng cảng khẩu của
Boston.
Tình cảnh nghe càng lúc càng gay
cấn nên chúng ta nên biết chi tiết thêm thế nào là Luật Tem
Thuế, Cuộc Tàn sát Boston, Vụ quăng trà xuống biển ở Boston và
đạo Luật Bất Khả Kham
Thứ nhất là Stamp Act hay Luật về
Tem Thuế do Quốc hội Anh Quốc thông qua năm 1765. Tem Thuế này
là một loại thuế mà người Anh đặt ra để đánh trên những văn
kiện chứng từ, môn bài, báo chí, niên giám, bộ bài và hột xí
ngầu dùng trong các thuộc địa Mỹ. Mục đích của luật Tem Thuế là
muốn tăng tiền để trả cho tiền đóng quân của nước Anh ở thuộc
địa. Đây là thứ thuế nặng phải trả một cách vô lý bằng tiền
tệ nước Anh. Vì dân thuộc địa không có đại diện trong Quốc Hội
Anh nên họ ghét loại thuế này mà họ cho là “nạp thuế mà khôngcó
quyền đại diện” . Nhiều người dân từ chối trả tem thuế, và ở vài
nơi có phản kháng bằng nổi loạn. Mặc dù luật này được thu hồi
vào năm sau, nhưng luật này đã khởi phát một tinh thần độc lập
mạnh mẽ trong các thuộc địa.
Rồi đến xảy ra vụ tàn sát ở
Boston thì chắc chắn có máu đổ để cho dân Mỹ căm hờn.
Nguyên do là vào ngày 5 tháng 3
năm 1770, một đám dân thuộc địa đã tụ họp để phản đối sự hiện
diện của toán quân Anh trên đất thuộc địa Boston. Vài người bèn
lấy những nắm tuyết và đá chọi vô một người lính Anh đứng canh
ở nhà Quan thuế Thương cảnh. Thế là, khoảng 20 lính Anh bèn a
tới đám đông với lưỡi lê gắn đầu súng. Cuối cùng, một lính Anh
bị một cú chầy nên đã cáu tiết nồ súng khiến đồng bạn cũng nổ
súng theo. Năm người dân bị gục chết. Biến cố này khiến cho
những người thuộc điạ căn bản bèn cho đó là “một cuộc tàn sát”
để quất mạnh mối căm thù với sự hiện diện của quân đội Anh.
Còn vụ quẳng trà xuống nước ở
cảng khẩu Boston, biến cố diễn tiến như sau:
Vào năm 1773, Quốc Hội Anh cho
Công ty Đông Ấn độ bán trà cho thuộc địa Mỹ với một giá rẻ nào
đó, có nghĩa là không có ai khác bán rẻ hơn nữa để phá giá, cốt
ý để cho công ty này độc quyền. Dân thuộc địa thấy đây là nguy
cơ suy sụp kinh tế vì người Anh còn muốn áp đặt thêm nhiều thứ
độc quyền khác. Vì họ đồng lòng ghét thuế đánh trên trà nên
nhiều cảng khẩu khác ở Mỹ bèn từ chối không mở cửa cho tầu chở
trà của Anh vào. Ở Boston, khi hai chiếc tàu đến, dân bèn xin
thống đốc ra lệnh tàu rời bến. Nhưng bị ông này từ khước, nên
một nhóm người Mỹ trong tổ chức Nghĩa Tử Tự do ( Sons of
Liberty) ăn mặc giả làm dân Da đỏ leo lên tầu vào đêm ngày 16
December 1773, rồi quẳng 342 thùng trà xuống nước.
Vụ trà ở Boston (Boston Tea
Party) gây ra một số giả trang khác để quẳng trà như ở New York
vào tháng April 1774, dân ở đây cũng giả làm Da đỏ để quăng trà
Anh xuống East River, và tháng October cùng năm, dân ái quốc ở
Annapolis, Maryland, đốt thương thuyền Peggy Steward chở trà của
Anh.
Người Anh bèn thông qua thêm
nhiều luật khác, nên lại càng làm gia tăng sự căm phẫn của dân
thuộc địa nên dân Mỹ gọi đó là những đạo “Luật không chịu thấu”
(Intolerable Taxes _ Intolerable tức là bất khả kham!)
{ Xin mở một dấu ngoặc: Vì biến cố tẩy chay
trả thuế trà, nên dân Mỹ phần lớn gốc Anh tuy có lệ ghiền trà
qua tục “tea time” hằng ngày đã cương quyết dứt uống trà và
xoay ra uống cà-phê ở Mỹ về sau}
Bao nhiêu sự kiện trên dồn dập
xảy ra càng khiến dân thuộc địa càng căm hận để đoàn kết lại mà
hành động . Việc đầu tiên là dân thuộc địa bèn nhóm thành một
Nghị Hội Châu Lục đầu tiên (the First Continental Congress) để
kháng tố những đạo luật của người Anh và tuyên bố không muốn
giao thương với nước Anh. Tuy nhiên phần lớn chỉ muốn được đối
đãi công bình chứ không muốn đòi độc lập nên lá cờ Mỹ với 13 sọc
vẫn giữ ở góc hình cờ Anh quốc. Dù sao, các thuộc địa đã bắt
đầu có những đội dân quân thành lập nên khi người Anh gửi quân
đi tiêu diệt những đội dân quân ở Concord ở Massachusetts, thì
người Mỹ đã mãnh liệt chống trả. Những trận đánh ở Lexington và
Concord kể như mở màn cho cuộc chiến khởi nghĩa của Cách Mạng
Hoa Kỳ.
Vào tháng 7 năm 1775, Đại Hội
Châu Lục nhóm lần thứ hai chỉ định ông George Washington làm
tổng chỉ huy Quân đội Châu Lục. Một năm sau, vào ngày July 4
1776 thì bản Tuyên Ngôn Độc Lập được ra đời và được toàn dân
chấp nhận tuyên bố.
Nhiều trận đánh ác liệt xẩy ra
nhưng không hẳn bên nào có sự thắng lợi quyết định. Nhưng một
điểm rẽ xảy ra vào năm 1778 là khi nước Pháp ký một liên minh
với Hiệp Chúng Quốc và gửi quân viện và tầu chiến để giúp.
Nguyên do là có ông Lafayette một quí tộc người Pháp vào năm
1777 tình nguyện đánh trong hàng ngũ dân quân thuộc địa trong
nhiều trận quan trọng. Chính ông đã thuyết phục vua Pháp là
Louis XVI gữi sự giúp đỡ cho người Mỹ. Cuộc chiến tiếp diễn ác
liệt và Công tước Charles Cornwallis, là chỉ huy trưởng của quân
Anh bắt buộc ký đầu hàng lực lượng Hoa Kỳ ở Yorktown ở Virginia
vào ngày 19 October 19, năm 1781. Sau trận này, có vài đụng độ
nhỏ và vào ngày 3 September 1793, dưới những điều khoản của Hiệp
Ước Paris, nước Anh công nhận nền độc lập của Hiệp Chúng Quốc
Hoa Kỳ.
|
 |
|
Dân quân Hoa Kỳ chống trả quân Anh tại trận Guildford
Courthouse , North Carolina
vào ngày March 15, 1781 |
Chúng ta thấy trong cuộc chiến
Cách Mạng Hoa kỳ, khi lòng dân căm phẫn thì chỉ cần một giọt
nước cũng làm cho tràn một bát nước nên cuối cùng cũng phải hy
sinh liều chết tranh đấu thôi. Ông George Washington quả là
một tướng giỏi nhưng một yếu tố quyết định khác cũng quan trọng
là sự đoàn kết của những thuộc địa Mỹ từ bắc xuống nam nên mới
đánh bật người Anh ra khỏi đất Mỹ.
Để kết luận, ta thấy cuộc Cách
Mạng Mỹ là một cái gương soi cho nhân loại vào thời đại mới.
Khi ta nhìn lại lịch sử Việt Nam, tinh thần này đã ẩn hiện trên
những trang sách ngày xưa của ta.
Hai kỳ Quốc Dân Nghị Hội Châu lục
(Continental Congress) của dân thuộc địa Mỹ đã mang hình thức
giống như Hội Nghị Diên Hồng với sự tham dự của toàn thể nam phụ
lão ấu dưới đời Trần khi quân Nguyên Mông cổ qua xâm lược nước
ta vậy.
Và qua những áng văn cổ, chúng ta
thấy thấp thoáng đó là những bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước
Việt ngày xưa:
Thứ nhất là bài thơ của Lý Thường Kiệt làm
sau khi phá quân nhà Tống với câu :
Nam
quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt
nhiên định phận tại thiên thư,
Như
hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ
đẳng hành khan thủ bai hư
(Sông
núi nước Nam, vua Nam ở,
Tuyệt
đối đã ghi ở sách trời
Bè lũ
chúng bây qua xâm phạm
Chỉ
rước vào thân thất bại thôi)
Chữ “ Cách Mạng” không phải là
danh từ mới mẻ của thời đại mới, nó đã có trong sách sử ngày
xưa. Nếu hiểu một cách linh động theo tinh thần quân chủ anh
minh ngày xưa, người dân coi vua là kẻ thay Thiên Mạng để trị
dân, ( Thế Thiên Hành Đạo) , nếu vua không thi hành đúng đúng
sứ mạng của mình, thì nguời dân có quyền làm “cách mạng”, nghĩa
là phế bỏ vua này mà tôn vua khác. Đó là một điều lý tưởng nêu
lên nhưng trải qua bao nhiêu đời, lý tưởng vẫn là không tưởng.
Trong câu “Sông núi nước Nam, vua
Nam ở, Tuyệt đối đã ghi ở sách trời” thì vua Nam là đại diện
cho toàn thể dân Nam để cai trị nước Nam, nguyên tắc “định phận
tại thiên thư “ này cũng giống bây giờ người Mỹ tuyên bố trung
thành với “One Nation under God” vậy!
Thứ hai là bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn
Trãi sau khi chiến thắng quân nhà Minh với đoạn kể ra bao nhiêu
tội ác của người Tầu đã khiến dân quân Việt Nam khởi nghĩa ở Lam
Sơn như trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ đã hài ra bao nhiêu
điều áp bức Vua George III của nước Anh trên thuộc địa.
Để kết luận cho bài này về
lễ Độc Lập của Hoa Kỳ, phải chăng ta thấy một nguyên tắc hay
đúng ra là một chân lý được nêu ra : đó là Ý dân là ý trời vậy.
Chân lý Thiên Mạng này đã diễn tả bằng những lời đanh thép sau
trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ như trên đã nói.
Muốn bảo đảm để thành công một cuộc Cách Mạng nào,
người ta phải biết kết hợp ba yếu tố là Thiên Thời, Địa Lợi, và
Nhân Hoà (nghĩa là phải biết nắm lấy thời cơ, những điều kiện
thuận lợi của hoàn cảnh cụ thể và tâm lý đoàn kết nhân tâm).
Vào thời đại nào, người dân cũng có thể nuôi những ý
niệm Cách Mạng. Nhưng dưới chế độ quân chủ tuyệt đối ngày
xưa, dù nhà vua là một bậc anh minh thì ý niệm trên chỉ là
bàng bạc và rời rạc nhất là không đặt thành hệ thống luật pháp.
Vào thời đại mới, khi ý thức dân chủ phát huy trong đầu óc của
nhân loại, thì ý niệm Cách Mạng mới trở nên cụ thể để đi từ từ
qua những hình thức Quân Chủ lập hiến, Cọng Hoà ở các nước với
những bản Tuyên Ngôn Độc Lập, những Hiến Pháp và những tu chính
án...
Sách xưa có câu „Lão Ô bách tuế bất như Phượng Hoàng
sơ sanh „:
Quạ già trăm tuổi vẫn
xoàng,
So sao bì kịp Phượng
hoàng còn non.
|
 |
|
Hình Bald Eagle ( Phượng Hoàng đầu bạc Hoa Kỳ) |
Hiệp chúng quốc Hoa kỳ là một quốc gia sanh sau đẻ
muộn với tuổi đời là hơn hai trăm năm so với những quốc gia khác
có từ cả ngàn năm. Nó đúng là một Phụng Hoàng non trẻ như cái
phù hiệu mà dân Mỹ đã chọn cho mình qua hình ảnh Con Bald Eagle
(nói là bald là sói trụi lông đầu, kỳ thực là lông đầu màu bạc
coi tưởng như là trụi sói). Nhưng người dân Hoa Kỳ đã làm một
cuộc Cách Mạng Dân Chủ lý tưởng đầu tiên để cho nhân loại noi
theo vậy .
LÊ VĂN LÂN
Ý
Kiến, Phê bình xin gửi về:
bslevanlan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |