|
Thấy tôi hay tò mò tra cứu, một anh bạn bèn hỏi tôi
về câu chuyện Đông trùng hạ thảo, một thứ Đông dược thảo thần
kỳ. Chẳng hạn như vào năm 1993, Trung Hoa lục địa tổ chức một
Đại hội Thể thao với sự tham dự của nhiều quốc gia. Một toán
chín nữ lực sĩ Trung Hoa đã toàn thắng về môn chạy đua. Thành
tích của họ đã làm giới thể thao quốc tế kinh ngạc vì cả thẩy
chín „ lực sĩ gái“ đã phá kỷ lục, chạy lanh 42 giây trên kỷ lục
quốc tế! Người ta nghi có sự gian lận bằng cách „ đốp ping“
(doping) tức là chích kích tố steroid để tăng cường một cách giả
tạo nhất thời cho các lực sĩ hăng sức trước khi thi đua, nên đã
điều tra thử nghiệm kỹ. Kết quả chứng minh rằng không phải gian
lận! Tuy nhiên khi hỏi nhóm dìu dắt, huấn luyện viên Trung hoa
thì họ nói là nhờ dùng Đông trùng hạ thảo nên các lực sĩ mới thi
thố tài năng tuyệt diệu như vậy.
Câu chuyện trên nghe khó tin nhưng có thực hay ít ra
phải tin như vậy khi ta chưa có phản chứng chăng? Xứ Trung Hoa
từ hồi nào vẫn nổi tiếng về vụ đẻ ra nhiều nghe như huyền
thoại! Ví dụ tại Chu Khẩu điếm gần Bắc kinh, người ta khai quật
nhiều di tích khảo cổ lâu đến 500 ngàn năm trước Công nguyên
trong đó có bộ xương mệnh danh là „Người Bắc Kinh“ ( Homo
erectus pekinensis) và đặc biệt có vài di tích cây cỏ mà người
ta suy đoán rằng con người thuở đó đã biết dùng vừa ăn vừa chữa
bịnh ( E.N. Anderson - The Food of China 1988). Và khoa châm cứu
hiện tại theo sự phỏng đoán cũng đã khai sinh phát minh từ thuở
con người thời đồ đá mà di tích là môn chích lể của dân gian
dùng những mảnh chai, mảnh sành để đâm rạch vào da gọi là „ biêm
thạch“ trước khi dùng kim vàng kim bạc ( Soulié de Mourant).
Trước thời Viagara, ta vẫn nghe kháo nhau về thuốc ích dương bổ
thận của Tầu như chuyện bữa tiệc yến diên của Từ Hi thái hậu
khoản đãi các sứ thần Bát quốc có dọn món chuột bạch hà nàm nuôi
bằng nhân sâm trong 3 đời, khiến bà vợ già khú của sứ thần Anh
quốc cùng chồng bao năm son sẻ không đẻ đái đã dùng thử và sinh
con, nghe nói ai cũng ham!
Riêng về danh từ „đông trùng hạ thảo“, thì cũng
không xa lạ gì với tai nghe của người mình. Tuy nhiên, rất ít ai
thấy tận mắt! Như danh từ gọi, đó là một thứ thảo dược ngộ
nghĩnh biến thái lạ kỳ, mùa đông là con sâu nhưng mùa hè là cọng
cây ăn vừa bổ vừa chữa bệnh. Theo Toan Ánh trong cuốn Phong tục
Việt nam từ bản thân đến gia đình, ngoài Bắc ta có ăn: „Đông
trùng hạ thảo ăn béo ngầy ngậy. Ta cho đây là một món ăn bổ.
Đông trùng hạ thảo còn được dùng để ngâm rượu như ngâm rượu
thuốc.“ Bác sĩ Nguyễn tam Thanh ở Austin TX, người sinh
ra ở „ xứ Lạng có nàng Tô thị có chùa Tam thanh“ kể rằng vùng
Lạng sơn rất sẵn loại này vì thường thấy ông thân sinh hay xơi
và dùng rượu thuốc trân quí này. Anh cho biết hiện nay cũng có
vài ngườ i bị ung thư dùng đông trùng hạ thảo phụ trợ với hóa
học và xạ tuyến trị liệu hiện đại, tuy không chữa lành nhưng có
thấy hiệu quả trong sự nâng đỡ và bồi bổ thể trạng giúp cho
bịnh nhân chịu đựng cầm cự với tử thần lâu dài hơn.
Trước đây, người ta khó mà tin được nguyên nhân của
hiện tượng biến thái nghe như huyền thoại lạ lùng của loại cây
hóa sâu, sâu hóa cây tùy theo mùa như đông trùng hạ thảo! Động
vật là động vật, thực vật là thực vật, tại sao lại có sự hoán
trạng như vậy? Từ cổ sơ thì lấy con mắt nhận xét của nhân gian
chất phác nên mới nẩy sinh niềm tin tưởng như vậy.
Sự khảo sát thực tế hiện nay đã phá vỡ niềm tin
tưởng trên như sau:
Con sâu mùa đông là loại bướm Hepialus armoricanus (
Oberthur.) trong tổng Họ Lepidoptera(Cánh bướm). Còn cây cỏ mùa
hạ là một loài nấm mọc ăn nhờ ở đậu trên mình con sâu: tên nấm
là Cordyceps sinensis (Berk.) thuộc tổng Họ Ascomycetes (Nang
Khuẩn). Vào mùa đông, bướm ta đẻ trứng, trứng trở thành ấu trùng
ở dưới đất nhưng lại bị xâm nhiễm bởi một bào tử của loài nấm.
Nấm sinh sôi phát triển thành nhiều sợi nấm nhỏ gọi là khuẩn ty
nhờ rút rỉa bao nhiêu chất bổ dưỡng từ mình con ấu trùng của
bướm, khiến cho đến lúc mùa hè thì trùng chết khô mà nấm mọc lú
trên mặt đất. Bởi thế, khi đào nấm lên làm thuốc, người ta thấy
gốc nấm còn dính liền với đầu của xác sâu!
Để thỏa mãn sự tò mò của bạn đọc, sau đây là vài chi
tiết mô tả của sâu và cây nấm thực sự mà chúng ta không có dịp
quan sát khi chúng còn tươi nguyên trạng vì ở tiệm thuốc bắc,
chúng ta chỉ thấy đông trùng hạ thảo là những cọng cây khô rụng
gẫy đầu đuôi được bó bằng chỉ để bán ra thôi.
Ấu trùng của bướm dài khoảng từ 3- 6 cm, dày độ 0.4
- 0.7, sắc nâu vàng, mình nhám với nhiều vạch chạy ngang. Sâu
có 8 cặp chân cụt ở khúc bụng và 4 cặp chân hơi dài ở khúc trên.
Cắt ngang mình sâu thì thịt sâu ở ruột màu trắng hơi ngả vàng
vàng, còn chung quanh có màu vàng sẫm.
Cây nấm mọc từ đầu con sâu trông nhưng một cái cọng
cắm vào, đầu cọng phình ra như cái chùy rồi thuôn nhỏ lại. Cây
mầu nâu hay sẫm đen lại, dài 4 - 8 cm, kính đo 0.3 cm, chót đầu
há ra cho thấy ruột trắng ở trong và một hốc rỗng, đây là phần
mang bào tử thường bị gẫy khi phơi khô.
Đông trùng hạ thảo thường gặp ở những vùng rừng ẩm
ướt như Tứ xuyên, Thanh hải, Quí châu, Vân Nam (Trung quốc), Tứ
xuyên sản xuất nhiều hơn cả. Danh từ „ đông trùng hạ thảo „ (
âm Tầu : dong chong xia cao ; âm Nhật: tochu kaso) cũng quen
được gọi tắt là „ đông trùng thảo „ dong chong cao) . Ở Tây tạng
và Việt nam cũng có đông trùng thảo, nhưng chỉ thấy ngoài Bắc
miền cao như miệt Lạng sơn, còn miền Trung và Nam, không thấy
nói đến.
Cách ăn đông trùng tươi ở miền Bắc chưa được tác
giả nào tả kỹ về kỹ thuật hay nấu nướng như trong Nam người
ta ăn con đuông dừa, chắc chỉ lăn bột chiên dầu chăng?
Khi làm thuốc tốt hơn cả thì người ta chọn khúc đông
trùng thảo nào mập, vàng ruột và cọng cây đầu ngắn.
Trên phương diện sinh thái học, rõ ràng là một cây
nấm đã giết một con sâu để phát triển và sinh tồn. Người ta muốn
áp dụng điều này để tiêu diệt côn trùng trong sự bảo vệ môi
trường, nhưng vì hiện tượng này hạn hẹp nên không thực tiễn cho
lắm.
Tên „đông trùng hạ thảo“ được ghi chép là vị thuốc
lần đầu trong cuốn Bản thảo cương mục đời Minh của Lý thời
Trân. Dược tính theo Đông Y là vị ngọt, tính ấm, hơi độc. Nó
nhập vào kinh Phế và kinh Thận. Tác dụng là bổ hư, kích phát
nguyên khí, trừ ho, hóa đàm. Do đó, nó trị khó thở và ho do
chứng đàm thấp; trị khó thở do hư nhược, ho do lao tổn, ho ra
máu, đổ mồ hôi tự nhiên hay ra trộm về đêm; trị dương nuy hay
bất lực tình dục và di tinh; trị đau thắt lưng và đầu gối, bổ hư
trong thời gian bình phục một cơn bịnh.
Liều
lượng mỗi ngày là 5- 10 gr. Tránh dùng trong các bịnh xuất huyết
hay có dấu hiệu biểu phát ra ngoài.
Cách
dùng là nấu 15 - 30 gr với một con vịt để trị hư tức ( khó thở
do suy nhược) hay nấu cùng liều lượng với thịt heo để trị thiếu
máu , sinh lý bất lực hay di tinh.
Thành
phần hóa học gồm Cordyceptic acid & Cordycepin. Ngoài ra còn có
khoảng 25 - 30 % protein, 8% chất béo và đường mannitol. Sự khảo
sát dược lý cho thấy đông trùng thảo có những hiệu lực sau:
1-
làm dãn nở trên cuống phế quản
2-
làm chuột thí nghiệm nằm yên và ngủ
3-
Cordycepic acid có công năng chận các thứ vi khuẩn
staphylococci, streptococci trong ống nghiệm
4-
Chận đứng nhiều loài meo nấm
5-
Trích ly của đông trùng thảo chích mạch máu cho chuột làm giảm
huyết áp.
Chất Cordycepin là chất hóa học 3' -
deoxyadenosine tìm thấy và ly trích lần đầu từ loại nấm goị là
Cordyceps militaris cùng họ và cùng giống với nấm đông trùng
thảo Cordyceps sinensis ( Trung dược đại tự điển, Thượng hải
1979). Theo Fox J. và các hợp tác viên (1966), Cordycepin là một
thứ trụ sinh loại nucleosid đầu tiên được nói đến.
Theo
Klenow 1963, muối triphosphate của Cordycepin ( Cordycepin - 5'
triphosphate hay 3' deoxy ATP) tác dụng chống sự thành lập của
chất RNA, một chất hiện diện trong chứng ung thư Ehrlich
ascites tumor.
Qua các công trình khảo sát về dược lý, ta thấy đông
trùng thảo ít nhiều có công dụng trị các triệu chứng do những
kinh nghiệm của Đông Y nhận xét từ trước. Nhưng còn thành tích
làm tăng cường sức lực các cơ bắp thịt trong sự thi đua thể thao
do Đông trùng hạ thảo thì sao? Kể ra, chưa có công trình khảo
sát liên quan nào cả.
Giáo sư Nguyễn văn Dương, trong bài Đông trùng hạ
thảo ( Nguyệt san Y Tế tháng 4, 1996) có nêu ra giả thuyết sau:
„ Chúng ta biết rằng adenosine là một chất hóa học gồm một phân
tử adenine và một phân tử ribose. Chúng ta cũng biết rằng
adenosine monophosphate (AMP) và nhất là adenosine diphosphate
(ADP) và adenosine triphosphate (ATP) là nguồn gốc tiếp sinh
năng lực cho các bắp thịt khi vận động do các phản ứng sinh hóa
học. Không một cử động nào, thậm chí đến cái chớp mắt, mà không
cần năng lực của ATP. Ánh sáng của con đom đóm sẽ không còn nếu
không có năng lực của ATP. Trong cơ thể, với những phản ứng
oxyd-hóa, condycepin ( 3'- deoxyadenosine) có thể trở lại trạng
thái adenosine. Với sự hiện diện thường xuyên của phosphate
trong cơ thể, sự sinh thành của AMP, ADP và ATP không phải là
việc khó.
Phải chăng do những phản ứng sinh hóa học này, vì
đông trùng hạ thảo đã giúp các nữ lực sĩ nói trên được thành
công?
Chúng ta mong rằng giả thuyết do G/s Nguyễn văn
Dương đã được giới khoa học lưu tâm nghiên cứu và xác nhận để
làm sáng tỏ câu chuyện huyền thoại về đông trùng hạ thảo.
LÊ VĂN LÂN

Tibet Wild Cordiceps Medicine
TIBET WILD CORDYCEPS is an unadulterated and precious medicinal
herb exclusively existing in China and a traditional titbit of
nourishment. In Shen Nong,'s Canon of Materia Medica, it was
listed as a top grade nourishment. It is neutral in nature and
has a sweet flavor, containing nutrients such as cordycepic
acid, cordycepicin, allysine and more than
10 other amino acids. It has very good double actions of both
tonification and treatment. According to statistics, there are
350 species of Cordyceps in the world, but those produced in
Qinghai and Tibetan Cordyceps areas in China are most precious
species with excellent values of medical treatment and
healthcare.
Invigorate The Lung And Nourish The Kidney, To Nourish And Keep
Fit. Prolong Life-span And Promote Immunity!
This product is refined with modern techniques from the pure
wild cordyceps growing in
Qinghai-Tibet plateau. It has the actions to restore asthenia of
visceria, supplement the vital
energy and stop bleeding and absorb clots. It is applicable to
the treatment of chronic cough,
dyspenea resulting from asthenia, cough due to asthenia of
visceria, hemoptysis,
spontaneous perspiration, night sweat, impotence, spermatorrhea,
waist and knee pains,
anemia, dizziness, insomnia, amnesia, inappetence and asthenia
due to long-term illness.
The product has also special efficacyon refractory arrhythmia
and promotion of immunity of
the body. It is really a very good medicine of healthcare that
suits all men and women, young
and old in all seasons to invigorate them and keep fit, to
prolong life-span and promote the
ability of resisting against diseases.
Actions and indications:
1. Actions of the product are to invigorate the lung and nourish
the kidney, to stop bleeding and
absorb clots, to promote immunity and delay senility, to enrich
blood and keep fit, to
stimulate the appetite and to tranquilize the mind by nourishing
the heart. It has a significant effect to cure and adjust the
arrhythmia.
2. The action of tonification and healthcare of the product is
especially beneficial to those
sufferers of common cold who have low abilities to resist
against diseases. Routine
administration of the remedy promotes the metabolism and
immunity and can relieve the
symptoms of neurosis.
3. It has excellent curative effects on chronic bronchitis and
cough, asthma, chronic
hepatitis and hepatocirrhosis.
4. Administration of the remedy after the patient undergoing
radiotherapy, chemotherapy
and surgical operation can increase the immunity of the patient,
reduce side effects and
stable the blood circulation.
Dosage:
Oral administration, two capsules, twice daily, 100% pure wild
Cordyceps (dosage for patients with serious cases could be
doubled).
Specification:
50 capsules in one bottle, each capsule contains brown powder
with fragrance and has 250
mg cordycepic hypha inside it.
Ý
Kiến, Phê bình xin gửi về:
bslevanlan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |