|
Tín lý về thuốc theo á
đông
Trước đây , hồi bên Việt
nam , làm quà cho nhà ai có ông già bà cả vài lạng cao Hổ cốt,
tức là đã biếu tặng một món quà trân quí được người ta hân hoan
đón nhận.
Cao hổ cốt, cao ban long,
cao qui bản, cao bú dù là những món bổ dược cổ truyền trong xã
hội Á đông. Nhưng cao hổ cốt được liệt vô hàng quí bậc nhất vì
rất khó kiếm nên đắt giá kinh khủng. Ngay dù trả với một món
tiền lớn, chưa chắc người ta bảo đảm rằng mua được cao hổ cốt
thiệt. Cọp thì năm thì mười họa mới săn được, lấy đâu sẵn xương
mà nấu cao...Do đó, sự gian ý ngụy tạo pha trộn với xương trâu,
xương bò là điều thường xảy ra. Tôi còn nhớ phụ thân tôi hay kể
về chuyện huyền thoại ngoa ngôn để thử cao hổ thứ thiệt thì
hoà một chút trong rượu rồi bôi vào cọng của một chiếc lá tre,
xong thả trên mặt nước, chiếc lá quay tít là đúng...nhưng lại có
kẻ bán cao giả dùng lá tre bôi một giọt Crésyl đậm đặc thì chiếc
lá tre quay tít còn bạo hơn nữa, tựa hồ như đã chứa một chút
tinh túy mãnh lực của chúa sơn lâm! Hơn nữa, cọp càng ngày càng
hiếm; theo số báo National Geographic Magazine tháng 11 năm nay,
cọp liệt vào loài dã thú đã lâm vào họa diệt chủng từ bấy lâu.
Số cọp còn sót lại ở vùng Đông dương đếm đâu đó vào khoảng
200-300 con. Cọp lại không ở trong rừng sâu vì thiếu mồi săn,
mà thường ở các ven rừng rậm để có thể bắt trâu bò dê heo của
dân cư. Cọp dữ và ma thiêng dần dần bị tiêu diệt với cái đà
bành trướng của đám dân khai hoang phá rẫy...Câu "Cọp Khánh Hoà,
Ma Bình Thuận" đã có giá trị ghi lại thời điểm dân Việt đã lập
đồn điền trên đường Nam tiến vào những thế kỷ trước đây. Cọp
thường rình người trên những đoạn đường xuyên qua lùm bụi,
truông rừng, bởi thế mới có nạn bị cọp vồ khiến khách bộ hành
phải đề phòng kinh hãi..; do đó mới nảy sinh câu tục ngữ: "Qua
truông, trẽ bòi cho khái" ( Khái, ba mươi là tiếng chỉ cọp)
nghĩa là hết còn sợ cọp khi qua khỏi rừng. Câu chuyện " Cọp lẻn
về xóm dân cư coi hát "- để trở nên thành ngữ : " coi hát cọp"
của người dân Nam Bộ- có lẽ đã bắt nguồn vào cái thuở ông bà họ
ngày xưa đốt đuốc chống xuồng trên sông lạch đến coi hát về đêm
đã bị cọp rình.
Trước 1975, tôi có lần gặp
vài cụ già đỏ da thắm thịt, đi đứng cứng cát, dẻo dai- lưng còn
thẳng như lưỡi kiếm của lão học giả Thái văn Kiểm qua lời tả của
Hồ Trường An! Mức độ khang kiện của các cụ được đo bằng sự việc
các cụ ngồi đánh tài bàn tổ tôm tứ sắc cả ngày cả đêm mà không
than đau lưng mỏi mắt...Hỏi thì một cụ hãnh diện cho biết:
"...Thằng hai nhà tui đóng đồn ở Cao Nguyên đã kiếm được vài
lạng cao hổ cốt " thứ thiệt", đem ngâm rượu. Nó biểu chỉ uống
ngày một chung nhỏ hạt mít trước khi đi ngủ thôi! Khỏe ghê !"
Nói chí tình, tôi tế nhị không dám vô lễ tọc mạch hỏi thêm...về
chuyện " long hổ quyết đấu" đối với cụ nào vẫn còn đang phong độ
có bà nhỏ! Tuy nhiên, câu trả lời trên được coi là một chứng
ngôn...( không biết đúng được bao nhiêu phần trăm, vì người Việt
mình không quen đường lối chứng nghiệm qua kết quả trị liệu lâm
sàng hay thống kê gì cả ) nhưng chứng ngôn này đủ làm tăng cái
tính chất ly kỳ " danh bất hư truyền" cho cái huyền thoại về
hiệu lực của cao hổ cốt. Không sao được khi người ta đã mang
một ấn tượng về hình ảnh của chúa sơn lâm với dáng dấp như như
con mèo khổng lồ lông vàng vằn đen, nhanh nhen uyển chuyển nhưng
có kích thước của một con bò! Nhìn vào nét viết tượng hình của
chữ Nho tối cổ (--------), nguời ta nhận định ra những đường vằn
tuyệt mỹ của bộ lông cọp qua chữ " Hô" (------) nhưng ở dưới
thêm chữ Nhân (----) miêu tả cặp chân trước của cọp lúc ngồi
chồm hổm oai vệ như người, đồng thời cũng nói lên sự tinh khôn
của loài linh vật như người này. Sức vụt phóng thân mình của cọp
kinh khủng còn hơn chiếc xe truck...Và một cái tát nhẹ của bàn
chân cọp đủ bứng hẳn phân nửa cái mặt của con người. Sức mạnh
phi thường và uyển chuyển của cọp do đâu mà có? Phải chăng đã
tích chứa trong bộ xương của nó! Dân Việt còn gọi hổ cọp là Hùm.
Hổ và Hùm là hai chữ tượng thanh để chỉ về tiếng rống vang rừng
đầy nội lực của chúa sơn lâm. Do đó, khi thi triễn công phu,
người Tầu thường áp đảo đối phương bằng cú đấm thôi sơn kèm theo
một tiếng hô lớn.
Về quân sự, người Tầu
thích đặt những tên như Sư đoàn Mãnh Hổ, Biệt động Lôi Hổ. Đó là
cái tín lý của dân A đông cổ truyền về thuyết Hình-Ý tương- ứng
cho rằng ngoại hình biểu lộ cái nội-ý, tuơng đương thuyết
Thự-danh của Tây phương- Doctrine of Signatures- chữ ký là biểu
trưng cho con người. Thuyết Hình-Ý tương ứng áp dụng cho nhiều
món thuốc của Á-đông ví dụ như :
* Cứt dơi ( Dạ Minh sa)
trị bệnh về Mắt vì loài dơi thấy rõ trong bóng tối ( đúng ra dơi
bay đêm nhờ radar). Máu dơi trị chóng mặt xây xẩm vì dơi treo
nguợc đu bám trên cành cây.
* Thận hay dái dê , hải
cẩu ăn cường dương do ý niệm rằng chúng mạnh về sinh dục
* Mật gấu trị bầm dập vì
gấu leo cây té không sao cả
* Vi kỳ của cá mập ăn mạnh
gân cốt
* Tổ yến làm bằng nước
dãi của chim yến ăn bổ phổi
* Hải sâm, sò huyết ăn bổ
âm, bổ dương vì chúng có hình dáng của cơ quan sinh dục của
người ta.
Rất nhiều món thuốc A đông
dựa trên tín lý này kể ra không hết...Ngoài ra, có những món
thuốc lại dựa trên biện chứng dịch lý như Nhung- sừng mềm mới
của loài hươu nai ( Chữ Nhung ---viết là chữ " nhĩ"(.....) với
bộ " thảo" đầu ( ....), miêu tả hình dáng hai cái gạc trên vành
tai). Nhung là cái gạc non mới mọc sau khi cái sừng già cũ rụng
đi khi hươu nai ăn cỏ non trong rừng để tự bồi bổ, nên nhung
chứa tinh túy của cây cỏ tùy thời điểm :
Nếu Nhung mọc ra vào tiết
khí Hạ-chí trong năm, nghĩa là "nhất âm sinh" về Dịch lý thì
nhung có đặc tính bổ phần " âm huyết".
Nếu Nhung mọc ra vào tiết
khí Đông chí, tương đương với " nhất dương sinh " thì Nhung bổ
phần " dương khí".
Người ta còn nhận xét rằng
hươu nai lúc nằm cuộn tròn, để kê mũi thở vào lỗ đít, tức là
biết bồi duỡng nguyên khí, không để hư hao thất thoát...Do những
ý niệm trên, nhung hươu nai nấu cao hay ngâm rượu bổ tinh tủy,
khí huyết, mạnh gân cốt, chữa bệnh hư tổn, tai điếc, mắt mờ.
Hổ cốt chủ yếu công
hiệu nhất về xương và thần kinh!
Trở về Cọp, bộ phận trên
thân hình cọp đều đắc dụng làm thuốc cả, không bỏ thứ gì, duy
chỉ có bộ xương là quí vì Cọp mạnh về bộ Cốt. Xương cọp nói
chung trên thực tế thì chỗ nào cũng đều dùng được cả nhưng xương
tốt nhất là xương đầu và xương ống quyển chân ( hĩnh cốt).
Sau đây là vài cách
nhận định về xương cọp thứ thiệt:
Xương ống quyển phiá trước
của nó, ở phần dưới gần lắt léo, có một cái rãnh dài đặc biệt
gọi là " phượng nhãn". Còn xương quay chân sau rất mỏng.
Hĩnh cốt của cọp có màu
vàng nâu với những đường chạy dọc, sờ mịn tay. Cưa ngang thì
thấy màu xương vàng hơi đen, có lỗ tủy nhỏ giống như lõi mướp
khổ qua là tốt nhất . Đặc biệt xương cọp rất chắc, nặng nhưng
cưa lại rất dễ. Xương không dính thịt mới là tốt. ( Phụ thân tôi
nói muốn xương tróc sạch thịt người ta phải ngâm bộ xương cọp
hàng tuần , hàng tháng dưới suối...)
Rất nhiều sách nói về
xương cọp, nhưng tôi thấy có cuốn sách Materia Medica et
Pharmacopée Sino- Annamite ( Bản thảo và Dược điển Hoa-Việt) của
Perrot E. và Hurrier P. ( Paris 1907) là đáng chú ý vì đã ghi
chép nhiều phương thuốc không những của Tàu mà còn của Ta mà
chúng ta cần khảo sát liên quan đến phương pháp mà tiền nhân của
ta đã dùng để sao tẩm, và điều chế thuốc men . Ví dụ như xương
của cọp đực màu vàng là tối hảo. Cọp bị bắn bằng tên độc thì
không dùng được vì thuốc độc rút vào máu và đặc biệt nhiễm vào
xương, dùng có hại như tác giả Watson nói kỹ rằng đàn bà có
thai dùng thì bị đẻ khó!! Xương cọp được đánh vỡ để rửa sạch
tủy. Tùy cách bào chế, xương cọp có thể tẩm với nước tiểu hay
dấm và sao cho vàng trên lửa than.
Về dược tính thì Xương cọp
có vị chua, tính hơi ấm và không độc trong khi thịt cọp cũng có
vị chua, nhưng tính lại bình. Xương cọp nhập vào Can kinh và
Thận kinh. Xưong cọp có năng lực khu phong (trục gío độc) trấn
thống ( trừ đau nhức) , kiện cốt ( mạnh xương), và trấn kinh (
trừ sự kinh hãi) , làm lành các chổ vết thương không lành hay lở
lói nặng ( chữ nho nói là ác thương bất dữ, trưởng nhục sanh
cơ), trị chứng phong thấp ở khớp xương, bắp thịt bị co rút.
Ngoài ra, xương cọp trị đau bụng, thương hàn, sốt rét, sợ nước,
trị kiết kinh niên, sa hậu môn, trị hóc xương ở cuống hầu. Đặc
biệt thì xương ống quyển cọp trị chứng ống chân sưng.
Xương ống quyển cọp công
hiệu nhất cho chứng đau nhức, phong thấp, bắp thịt co giật.
Còn xương sọ cọp thì công
hiệu cho chứng kinh hãi, tim nhảy hồi hộp.
Những bệnh nhân bị chứng
huyết hư hỏa vượng ( nóng do khô huyết dịch) cấm dùng!
Xương cọp thường được tẩm
rượu hay dấm rồi sao khô hay không cho phụ gia phẩm thì khu
phong hàn và kiện cân cường cốt.
Về cách dùng bên ngoài
thì:
Xương cọp nấu nước tắm để
trị sưng khớp vì phong thấp cho người lớn, còn hài nhi sơ sinh
thì tắm ngừa được nhiễm trùng, làm kinh, bị ghẻ chốc , đau vặt
chậm lớn, khóc vì kinh hãi do quỉ ma bắt.
Xương cọp ngâm rượu đắp
trị đau ở đầu gối.
Xương cọp nghiền bột để
đắp phỏng hay những chổ lở dưới móng chân cái ( hoặc trị tê liệt
theo Regnault)
Trên mặt tâm thần thì
người ta dựa tín lý trị liệu vào cái uy linh của chúa Sơn lâm vì
vài dữ kiện sau:
* Trên trán cọp có hình
chữ " vương" (.......);
* Cọp sống lâu năm thì
thành tinh và trổ lông trắng - Bạch hổ!
* và khi ai bị cọp ăn
thịt , hồn ma phải đi theo hầu nó gọi là ma " trành" (......),
hồn trành phải dụ cho một người khác cho cọp ăn thịt thì hồn
mới siêu thoát , cũng giống như chuyện quỉ Dracula của Tây
phương, như nhà văn tiền chiến Mai Nguyệt TCHYA Đái đức Tuấn
viết trong chuyện Thần Hổ!
Xương cọp và vuốt cọp cùng
với lông bàn chân cọp làm bùa cho con nít đeo.
Xương cọp treo trên nóc
nhà thì đuổi quỉ ma, khiến người nhà không bị ác mộng.
Trên mỗi bên xương sườn,
có một cái xương cong như hình chữ "ất "(Z) gọi là U cốt, dân
nhà võ khoái đeo để tỏ ra uy vệ với cấp dưới.
Hình vẽ Cọp treo làm bùa
gọi là" Hắc hổ trấn phù"( bùa cọp đen) như phong tục Việt nam
ngày xưa thường làm để cho con nít dễ nuôi, khỏi sài đẹn hay ma
quỉ bắt.
Trong nhà hắc hổ trấn phù
Sinh con sinh cái nuôi cho dễ dàng
( Trinh Thử)
Đôi khi, dân ta còn treo
bùa " Ngũ Hổ" ( 5 ông thần cọp với đủ 5 sắc của Ngũ hành: xanh,
đỏ, vàng, trắng , đen)
Hổ cốt đưọc coi là thuốc
quí trong những thứ khác trong ý niệm của dân A đông; điều này
đã phản ánh và liệt kê rõ ràng trong văn chương của cuốn Trinh
thử:
Tìm thầy Biển Thước lập phương,
Mã đề, Qui bản, sà sàng, lộc nhung
Nhân sâm. liên nhục , mật ong
Pha cao hổ cốt, ban long luyện hoàn
Bổ trong ngũ nội đã an,
Vợ chồng lục vị, thập toàn uống chung!
Bây
giờ, chúng ta thử đi vào vấn đề bào chế hổ cốt và lập phương:
Trong
sự phục dược, thì theo phép thông thường có những hình thứ sau :
Thang ( pha trà hay nấu sôi lấy nước), Tán ( nghiền thành bột),
Cao (nấu cô lại thành bánh) , Hoàn ( lấy bột vo viên) , Tửu (
ngâm rượu). Về hổ cốt thì cách ngâm rượu và nấu cao hoặc luyện
viên là thường nghe nói.
Hổ
cốt tửu
Ngâm
rượu thì dùng khoảng từ một lạng đến bốn lạng ta ( 1 lạng tương
đương 37 gr 500 ) trong một lít rượu, thường là rượu gạo hay
rượu vodka càng tốt. Vật liệu ngâm không cần tán bột mà chỉ cần
cưa khúc nhỏ để cho tinh tuý dễ tan ra. Thời gian ngâm dưới một
tháng chưa đủ để thử, mà cần càng lâu càng tốt- 3 tháng, 6
tháng, một năm- ngâm càng lâu ruợu càng thấm, càng bổ. Nhiều khi
rượu thuốc đúng độ được dùng một phần nào đó thì lại châm thêm
rượu mới vô.
Hổ cốt
thường được dùng trong các chứng teo xương ở hai chi dưới, bắp
chân bị co giật, đau ở thắt lưng và đau nhức xương. Hổ cốt được
ngâm thuần túy hay được phối hộp với những dược thảo khác chẳng
hạn như toa Hổ cốt Mộc qua tửu đặc trị để khu phong, bớt đau
nhức, khử chứng thấp hàn, cường cân kiện cốt.
Toa này
lấy từ sách Kinh nghiệm phương, tôi xin kê cứu ra đây với mục
đích biên khảo vế văn hoá để quí bạn đọc tường lãm với lời
khuyến cáo rằng vấn đề dùng phải có ý kiến tham khảo của Đông Y
sĩ về định bệnh lập phương tùy cá nhân.
hổ cốt
mộc qua tửu
Hổ cốt
( Tigris Os) 10 gr
Mộc qua
( Chaenomelis fructus) 30 gr
Xuyên
khung ( Ligustici rhizoma) 10 gr
Ngưu
tất ( Cyathulae radis) 10 gr
Đương
qui ( Angelicae sinensis radix)
10 gr
Thiên
ma ( Gastrodiae rhizoma ) 10 gr
Ngũ gia
bì ( Acanthopanacis radicis cortex) 10 gr
Hồng
hoa ( Carthami flos) 10 gr
Tục
đoạn ( Dipsaci radix) 10 gr
Kiết
cánh ( Solani Melongae radix) 10 gr
Ngọc trúc
( Polygonati officialis rhizoma) 20 gr
Tần cửu
( Gentianae macrophyllae radix) 5 gr
Phòng
phong ( Ledebouriellae radix)
5 gr
Tang
chi ( Mori ramulus) 40 gr
Rượu
Cao lương ( Sorghi spirituss) 3,000
cc
Đường
cát ( Saccharon granulatum) 300 gr
Ngoài
ra còn những thứ rượu khác như:
HỔ
CỐT NHÂN SÂM TỬU
Hổ
cốt 10 gr
Nhân
sâm 10 gr
Ngâm
trong một lít vodka, gin.
Có công
hiệu phục chân dương, mạnh gân xương, khu phong khử thấp
Có thai
, hoả vượng do âm hư cấm dùng.
Ngoài
ra, còn nhiều sự phối hợp như Hổ cốt với đương qui, ngưu tất; hổ
cốt với mộc qua, bạch thược...
Cao
hổ cốt
Nấu cao
tức là nấu vật liệu sau khi tẩy khử những tạp chất ( như thịt,
mỡ, tuỷ bám vào xương) bằng lửa cao vừa phải trong nhiều thời
gian để tinh túy tan ra, mức nước sôi cạn thì phải canh chừng
châm vào. Nấu cao bằng vạc hay chảo đụng lớn, vật liệu chất
chung quanh một cái lồng đèn bằng nan tre đan như cái nơm để
chính giữa, cốt để dùng gáo múc nước cốt ra. Nước cốt được múc
ra thành nhiều đợt, từ đậm rồi lạt từ từ để cuối cùng cô những
mẫu nước cốt lại thành cao đặc . Đợt Nước cốt này được múc ra
thì lại được châm nước sôi mới vào làm đợt khác. Xác vật liệu
chỉ đem vứt khi nước nấu trở thành lạt trong. Giai đoạn cô cao
phải canh chừng lửa vừa phải kẻo bị cháy nồi hỏng toàn mẻ cao.
Ngày xưa, không có đồng hồ thì phải đốt nhang mà tính thời
gian. Đại khái thì nấu cao hổ cốt, ban long, qui bản là như
vậy.
Ngày
xưa, không có giấy bóng, thì người ta dùng lá chuối khô để gói
sau khi cắt miếng rồi cân lượng, ghi nhãn bằng một vuông giấy
hồng điều.
Những khảo sát thực nghiệm về hổ cốt
Về
thành phần hoá chất, hổ cốt chứa các chất sau: collagen, mỡ,
calcium phosphate, calcium carbonate, magnesium phosphate,
kalium carbonate - nhưng collagen là hoạt chất chính.
Gelatin
của Hổ cốt chứa 17 amino-acid.
Ở Hoa lục,
người Tầu đã làm nhiều khảo sát, tuy nhiên tính chất chính xác,
khoa học của sự khảo sát và sự hiệu nghiệm trên duợc lực học và
áp dụng lâm sàng ra sao, thế giới bên ngoài chưa đủ dữ kiện và
bằng chứng để đánh giá vì tất cả những khảo sát đều thi hành
trong nội điạ khép kín của nước Trung hoa. Người ta chắc còn
phài chớ đợi và đọc thêm nhiều tài liệu thư tịch từ các xứ khác.
Cuốn sách mà tôi tra cứu duy nhất là cuốn Pharmacology and
Applications of Chinese Materia Medica ( Dược học và Áp dụng về
dược thảo Trung Y) ấn hành do World Scientific Publishing Co.
1987 , do hai tiến sĩ Hsou Mou Chang và Paul Pui thuộc Trung Tâm
nghiên cứu về Dược liệu Trung Y của The Chinese University of
Hongkong.
Theo sự
khảo sát về dược học trên loài vật trong phòng thí nghiệm thì hổ
cốt có những công hiệu rõ : kháng viêm. chỉ thống, an thấn, và
làm lành xương gẫy. Còn về khảo sát lâm sàng thì , hổ cốt
trị đựơc viêm khớp do phong thấp và nhiều dạng phong thấp khác
và trường hợp gãy xương với kết quả khả quan rất cao từ 65-92 %
!
Hổ cốt và Cẩu cốt!
Nhân đây, tôi thú thực quá
đỗi ngạc nhiên khi đọc tài liệu nói trên nói rắng ở Trung hoa
xuyên qua những cuộc nghiên cứu khảo sát " khoa học" so sánh
trong vòng hơn thập niên này đưa đến nhận định rằng Hổ cốt
đương nhiên vẫn tốt như truyền tụng, nhưng xương chó ( sic) có
thế thay thế xương cọp mà cái tốt thì bên tám lạng ,bên nửa cân!
Cẩu cốt cũng kháng viêm, cũng an thần, cũng trấn thống ngang
ngửa với hổ cốt....
Phải chăng điều này làm
đảo lộn tín lý cổ truyền của dân gian về xương cọp rất hiếm quí
với những dược tính siêu đằng danh bất hư truyền ?
Hổ cốt đương nhiên rất khó
kiếm...nhưng cẩu cốt thỉ trong xã hội Á đông...quá sẵn vì người
ta thường thưởng thức món mộc tồn đều đều...Nhân trước đây vài
năm, tôi thấy ở miền bắc Trung hoa, có đến " hàng ngàn trại nuôi
chó để lấy lông làm áo ngự hàn"! Tôi bỗng liên tưởng đến mắc
xích dùng xương chó nấu cao thay cho cao hổ cốt biết đâu chẳng
là sáng kiến siêu đẳng khai thác đống xương chó cao ngút ngàn
sau khi thịt chó lấy lông của những trại nuôi chó khổng lồ kia?
Bỏ xương đi thì tiếc...nghiền ra làm phân bón thì cần máy móc
lôi thôi, lại tốn kém! Chi bằng nấu cao Cẩu cốt...tốn kém không
nhiều mà để dùng không tốt ngang thì tốt dọc...Rồi Nhà nước lại
kiếm thêm nguốn tài lợi, một khi người ta tin tưởng! Cái tinh
khôn của mấy ông Tầu cọng nghĩ thật là độc đáo. Nghĩ lại thì làm
thân con chó ở Âu Tây là tu nhiều kiếp nên sướng đứng hạng ba
trên quí vị liền ông; còn ở cái xứ Tầu cọng, chó bị thịt, bị lột
da, bị nấu xương làm cao thì thật là tương phản vô cùng, nhưng
chả có gì lạ cả.
Mặc dù các cuộc khảo sát
của Tầu Hoa Lục đã xác định một cách " cách mạng" rằng Cẩu cốt
tốt không thua Hổ cốt trên phương diện dược học và lâm sàng thì
tâm lý người quen dùng vẫn thiên về Hổ cốt...
BS Lê Văn
Lân
Ý
Kiến, Phê bình xin gửi về:
bslevanlan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |