|
Vào
ngày 5 tháng sáu vừa qua, một vụ thất thoát 54,8 mg đồng vị
phóng xạ Europium- 125 tại Hà Nội. Cũng như gần đây nhất, ngày
30 tháng 7, hộp chứa nguồn phóng xạ gamma từ Ceasium- 137 biến
mất. Nguồn phóng xạ nầy dùng để đo mức xả tự động của lò clinker
thuộc Cty Ciment Sông Đà, Hà Nam. Tc KH&MT kỳ nầy trao đổi với
TS MTT về những vụ thất thoát phóng xạ cùng ảnh hưởng của những
loại tia bức xạ lên sức khỏe của con người.
Hỏi 1: Trước hết, xin TS cho
biết ngoài hai vụ mất các bộ phận chứa đồng vị phóng xạ qua tin
tức báo chí trên, còn có sự thất thoát nào nữa không?
Đáp 1: Thưa Anh. Thật ra ở
Việt Nam, việc kiểm soát an toàn phóng xạ chưa được lưu tâm đúng
mức, do đó chưa được đặt trên căn bản tổ chức hoàn chỉnh, đặc
biệt là đối với những công nghệ hầm mõ và công nghệ ciment. Thậm
chí trong lãnh vực nghiên cứu ở các phòng thí nghiệm và trong
bịnh viện, một số hóa chất chứa đồng vị phóng xạ hay bức xạ dùng
để trị liệu cũng không được lưu tâm đến vấn đề an toàn. Trong
quá khứ, vào tháng 10 năm 2002, tại công ty Nhà Máy Tàu biển
Hyundi-Vinashin ở Khánh Hòa cũng đã xảy ra thất thoát nguồn
phóng xạ gamma có hoạt độ 42,45 mCi. Và tháng 12 năm 2003, Cty
cổ phần Ciment Việt Trung, Hà Nam cũng đã đánh mất nguồn phóng
xạ Cs- 137 dùng để đo mức xả tự động của lò clinker. Cho đến
nay, hai sự thất thoát nầy vẫn chưa có thông tin công bố tìm lại
được nguồn phóng xạ trên. Cũng như Cty Ciment Sông Đà vừa treo
giải thưởng 10 triệu đồng cho người tìm thấy nguồn phóng xạ bị
mất vào ngày 30/7.
Hỏi 2: Quả thật những điều
xảy ra trên đây rất nguy hiểm cho con người. Nhưng trước khi bàn
đến ảnh hưởng lên sức khỏe, xin TS cho thính giả của Đài biết
đại cương chất phóng xạ là gì, và sự hiện hữu của chúng trên thế
giới như thế nào?
Đáp 2: Thưa Anh. Chất phóng xạ
và những tia bức xạ đã có trước khi loài người hiện hữu. Chúng
hiện diện trong đất, đá, cây cỏ, không khí qua các tia bức xạ
phóng chiếu từ mặt trời. Nồng độ của phóng xạ trong môi trường
thay đổi từng vùng địa chất. Phổ biến nhất là các đồng vị phóng
xạ Kalium- 40, Uranium- 238, Thorium- 232, và Radium- 220. Đó là
những phóng xạ có trong thiên nhiên. Đó là phóng xạ tự nhiên.
Tuy nhiên, trên thế giới qua gần một thế kỷ phát triển công nghệ
hạch nhân, chất phóng xạ nhân tạo dược hình thành trong nghiên
cứu, chữa trị, và các công nghiệp sản xuất. Đó là những đồng vị
phóng xạ của các kim loại như ceasium, strontium, và khí Hydro
nặng (H-3).
Hỏi 3: Các phóng xạ và đồng
vị xâm nhập vào cơ thể con người như thế nào thưa ông?
Đáp 3: Chất phóng xạ trong
thiên nhiên có thể xâm nhập vào con người qua da, hoặc đường
tiêu hóa hay hơi thở. Còn phóng xạ nhân tạo xâm nhập vào cơ thể
qua các phương cách trị liệu. Sự tác động của phóng xạ vào cơ
thể qua nhiều loại bức xạ khác nhau như tia alpha, beta, gamma.
Mức tác động của bức xạ lên con người được tính bằng đơn vị
mSilvert (hay ký hiệu mSv), hay pico Curie (ký hiệu (pCi).
Theo
Ủy ban An toàn Bức xạ Quốc tế, liều lượng giới hạn cho phép được
tiếp nhiễm các loại bức xạ trong một năm là 1 mSv; điều đó có
nghĩa là trong vòng một năm, mỗi người dân bình thường không nên
nhận một liều lượng bức xạ nhân tạo quá 1 mSv. Sở dĩ có mức giới
hạn cho phép trên là Ủy ban đã xuyên qua tính xác suất và đưa ra
kết luận như sau, nếu có một trịệu người bị chiếu xạ bởi một
liều phóng xạ có cường độ 1 mSv thì có 40 người có nguy cơ bị
ung thư.
Hỏi 4: Như vậy, phóng xạ tự
nhiên có ảnh hưởng lên sức khỏe của con người hay không?
Đáp 4: Trong không khí, khí
Radon là một đồng vị phóng xạ tự nhiên của chuổi hóa chất
Uranium- 238 như Radon- 222, và Radon- 119 đến từ chuổi Uranium-
235. Radon- 222 có nguy cơ tiếp nhiễm rất cao, vì thời gian bán
hủy của chúng là 3,8 ngày, trong lúc đó, các đồng vị thông
thường trong thiên nhiên có thời gian bán hủy chi một vài giây
mà thôi. Do đó Radon- 222 là chất phóng xạ có nguy cơ tạo ra ung
thư phổi rất cao. Theo tiêu chuẩn của Cơ quan Năng lượng Quốc tế
(IAEA), nồng độ khí Radon cơ thể có thể tiếp xúc trong một năm
không quá 2 đến 2,5 pCi. Ngoài ra, Radon còn tìm thấy trong các
vật liệu xây dựng có nguồn gốc như đá granite, trong đất sét,
các nguyên vật liệu làm nhà cửa lấy từ gốc than đá.
Hiện
nay, trên thế giới, có nhiều nơi có mật độ phóng xạ thiên nhiên
cao như Ramsar (Iran), Kerale (Ấn Độ), Guarpapi (Brezil), và
Yanjang (Trung Quốc). Nhiều nới có độ bức xạ lên đến 130
pCi/năm. Ở Việt Nam có một số vùng có bức xạ lên đến 4 pCi/năm.
Đặv biệt, tại huyện Thanh Sơn, Phú Thọ, Cục Kiểm soát và An toàn
Bức xạ đã lấy nhiều mẫu đất và đo đạc vào tháng 9 vừa qua, đã
khám phá rằng mức phóng xạ là 10,27 mSv/năm, gấp 10 lần mức
phóng xạ trung bình mà một người dân bình thường tiếp nahn trong
một năm.
Hỏi 5: Trước nguy cơ tiếp
nhiễm do phóng xạ tự nhiên hay phóng xạ nhân tạo, Việt Nam đã có
cơ quan hay luật lệ an toàn phóng xạ nào hay không thưa ông?
Đáp 5: Việt Nam hiện có Cục
Kiểm soát và An toàn Bức xa (KSATBX)ï trực thuộc Bộ Khoa học và
Công nghệ. Còn Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát bức xạ đã được ban
hành vào năm 1996. Xuyên qua các tai nạn thất thoát gần đây, vào
cuối tháng sáu, Cục KSATBX đã gữi công văn cho các Sở KH&CN địa
phương yêu cầu kiểm soát nguồn phóng xạ thường gặp trong công
tác tháo gở mức xả tự động trong công nghệ ciment. Cục cũng yêu
cầu các cơ quan quản lý nguồn phóng xạ cần phải học tập Pháp
lệnh an toàn bức xạ cũng như Nghị định 51 về xử phạt khi vi
phạm.
Ngoài
ra, vào ngày 26/5, Cục KSATBX và Viện Battelle Memorial thuộc Cơ
quan Quản lý Hạch nhân của Hoa Kỳ đã ký thỏa thuận hợp tác tham
gia „Chương trình giảm thiểu nguy cơ bức xạ toàn cầu“(IRTR).
Chương trình có mục đích nhằm giảm thiểu nguy cơ xử dụng nguồn
bức xạ gây hại cho sứa khỏe của con người và môi trường. Đây
cũng là một vấn đề thuộc lãnh vực an ninh các nguồn phóng xạ, và
hiện nay, được các chuyên gia quốc tế chú ý sau khi phát hiện
một số hoạt động khủng bố có ý định xử dụng „bom bẩn“. Những quả
bom bẩn nầy được chế từ các nguồn phóng xạ có thể phát tán các
bức xạ có thể gây ra tử vong, hoặc ô nhiễm phóng xạ tại các vùng
đông dân cư hay khu công nghiệp, hoặc gây nên sự hoảng sợ và bất
ổn trong nước.
Theo
thỏa thuận trên, Hoa Kỳ qua Bộ Năng lượng sẽ viện trợ kỹ thuật
không bồi hoàn cho Việt Nam nhằm tăng cường bảo vệ tại những cơ
sở xạ trị, trung tâm chiếu xạ, và cơ sở lưu giữ chất thải phóng
xạ. Trước đó, hai bên đã đồng phối hợp tổ chức một buổi hội thảo
dưới chủ đề „Bảo vệ thực thể và quản lý an ninh các nguồn phóng
xạ“.
Hỏi 6: Như vậy Việt Nam đã
có biện pháp nào sau những sự việc thất thoát nguồn phóng xạ gần
đây thưa ông?
Đáp 6: Ngoài biện pháp xử
lý, kiểm soát, và khám mức ô nhiễm lên môi trường và con người,
hiện nay, Bộ KH&CN đang tiến hành tổng kiểm tra công tác quản lý
và xử dụng nguồn phóng xạ tại 117 cơ sở sản xuất có nguồn phóng
xạ đã đăng ký hay chưa đăng ký, cũng như kiểm soát nguồn phóng
xạ trên toàn quốc..
Riêng
đối với việc thất thoát hộp phóng xạ của Viện Công nghệ Xạ hiếm
vừa qua, Thanh tra Bộ KH&CN vừa quyết định xử phạt 44 triệu đồng
VN và thu hồi giấy phép hoạt động bức xạ của Viện kể trên.
Hỏi 7: Để kết thúc buổi hội
luận hôm nay, đề nghị TS phát biểu vài ý kiến về việc kiểm soát
an toàn phóng xạ ở Việt Nam.
Đáp 7: Thưa Anh. Như tất cả
chúng ta đều biết, nguy cơ và ảnh hưởng của những chất phóng xạ
lên con người xảy ra tùy theo mức độ tiếp nhiễm. Gọi là cấp
tính, nếu con người bị tiếp nhiễm trực tiếp một liều lượng bức
xạ cao, có thể gây ra tử vong. Gọi là mãn tính, tùy theo thời
gian bị tiếp nhiễm lâu dài nhiều khi kéo dài hàng chục năm dưới
một liều lượng nhỏ nhưng thường xuyên. Theo thống kê năm 2004
của Cục Kiểm soát và An toàn Bức xạ hạch nhân, trên toàn quốc có
2000 máy quang tuyến X để dùng chẩn đoán bịnh trong ngành y tế,
14 máy xạ trị Cobalt- 60, 4 máy gia tốc để tách đồng vị, 524
nguồn xạ trị áp sát các bộ phận trong cơ thể bịnh nhân, và hơn
300 nguồn phóng xạ dùng để kiểm soát trong các công nghệ như
than và ciment.
Các
số liệu chính xác trên sẽ giúp cho các cơ quan quản lý dễ dàng
kiểm soát phẩm chất và số lượng phóng xạ nếu có sự bất trắc xảy
ra. Do đó, tình trạng tiếp nhiễm cấp tính khó có cơ hội thành
hình ở Việt Nam. Tuy nhiên, vì trong thiên nhiên và một số vật
liệu xây dựng trong nhà ở có chứa một số bức xạ, như gạch men Đà
Nẵng, gạch men nâu, đá granite có hàm lượng thay đổi từ 0,6 đến
1,22 mSv/năm. Điều đó có thể gây tác hại cho người sống thường
xuyên trong nhà được xây dựng bằng những vật liệu trên.
Thêm
nữa, trong môi trường sống của chúng ta hiện tại, có khoảng 80%
bức xạ tự nhiên do khí Radon từ thiên nhiên góp phần vào. Do đó,
biện pháp an toàn hay nhất là làm thế nào để giảm thiểu tối đa
việc tiếp nhiễm trong điều kiện sinh sống hàng ngày, nghĩa là
nhà phải thoáng khí để các nguồn phóng xạ không tích tụ nhiều
trong nhà.
Và
sau cùng, lời khuyên của những chuyên gia quốc tế về an toàn bức
xạ hạch nhân là nguyên lý ALARA tức là As Low As Reasonable &
Achievable, được tạm dịch là cần phải giảm thiểu càng nhiều càng
tốt.
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |