|
Trong vòng vài thập niên trở lại đây, ở các quốc
gia hậu kỹ nghệ, phong trào Công nghệ Xanh (Green Technology) đã
được các nhà khoa học đưa lên hàng đầu trong việc giải quyết ô
nhiễm và bảo vệ môi trường. Mục tiêu nầy do Hội Đồng LHQ về Môi
sinh và Phát triển đề ra qua Nghị trình 21 là: Tạo dựng tăng
trưởng kỹ nghệ, Cân bằng môi sinh, và Tiến bộ xã hội. Đây là ba
nguyên căn bản để có thể xây dựng được một sự phát triển bền
vững cho toàn cầu. Một trong những biện pháp để tiến tới mục
tiêu trên là làm thế nào để phòng ngừa ô nhiễm và kiểm soát việc
sử dụng năng lượng. Từ suy nghĩ nầy, phong trào công nghệ xanh
ngày càng phát triển mạnh và được xem như là một biện pháp hữu
hiệu nhất hiện tại để giải quyết các vấn nạn môi trường. Tuỳ
theo ngành nghề khác nhau, công nghệ xanh có thể chia ra thành
nhiều phân nhánh như: hoá học xanh (Green chemical), điện tử
xanh (Green computing) v.v…
Hàng năm có rất nhiều Hội nghị ở cấp quốc gia và
quốc tế về vấn đề trên qua những chương trình kỹ thuật nhất là ở
các đại hội của Hội Hóa học Hoa Kỳ (American Chemical Society –
ACS). Nhiều tạp chí khoa học khác đều có những ấn bản đặc biệt
liên quan đến Hóa học Xanh như tạp chí Nghiên cứu Khoa học và
Hạch toán Hóa học (Scientific Research & Accounts of Chemical).
Riêng tại Anh Quốc, Hội Hoá học Hoàng gia đã phát hành từ 4 năm
qua tạp chí Hóa học Xanh.
Một số viện đại học trên thế giới cũng đã thành
lập phân khoa riêng cho môn Hóa học Xanh nằm trong chương trình
Công nghệ xanh. Viện Hóa học Xanh thuộc Hội Hóa học Hoa Kỳ đã
đóng góp rất nhiều khóa huấn luyện cho sinh viên và các nhà
nghiên cứu khắp nơi trên thế giới. Và công nghệ Hóa học Xanh đã
ra đời cũng như đã được xem như là một công nghệ xanh chiến lược
cho phát triển bền vững toàn cầu.
Hiện tại, trên thế giới đã có nhiều Viện hay
Trung tâm nghiên cứu đã được thành hình ở Anh Quốc, Ý, Nhật Bổn,
Hoa Kỳ, và Uùc Châu. Có thể nói hầu hết các nhà hóa học trên thế
giới đều được biết qua thông tin về Hóa học Xanh ngày nay.
Định nghĩa Công nghệ Xanh
Danh từ “công nghệ” (technology) dùng để chỉ sự
áp dụng các kiến thức khoa học vào trong thực tế của đời sống.
Công nghệ xanh là một khái niệm mới của con người trước nguy cơ
ô nhiễm toàn cầu. Đây là một nỗi ưu tư lớn của những nhà làm
khoa học chân chính nhằm mục đích cổ suý việc tạo dựng và tiêu
dùng năng lượng qua chiều hướng phát thải phế thải không độc hại
hay ít độc hại ngõ hầu hạn chế được vấn nạn hâm nóng toàn cầu
hiện tại. Từ suy nghĩ đó, họ luôn luôn nghĩ đến phương cách, quy
trình mới, sáng tạo và cải tiến các công nghệ cũ trở thành công
nghệ xanh để bảo vệ môi trường chung cho thế giới.
Mục tiêu của chiều hướng giải queý6t vần đề qua
khái niệm công nghệ xanh gồm nhiều lãnh vực căn bản liệt kê như
sau:
-
Phát triển bền vững bằng những công nghệ thân
thiện với môi trường (friendly), không làm tổn hại đền nguồn tài
nguyên thiên nhiên hay ảnh hưởng nguy hại đến những thế hệ tương
lai.
-
Tạo dựng một chu trình kín trong sản xuất, nghĩa
là phế phẩm của một quy trình sẽ là nguyên liệu của một quy
trình sản xuất khác.
-
Giảm thiểu tối đa phế thải độc hại và tăng cường
khả năng tái tạo sản phẩm cũ thành nguyên liệu mới.
-
Trong nông nghiệp, sáng tạo công nghệ mới thay vì
sư dụng phân bón và hoá chất.
-
Một trong những lãnh vực quan trọng nhất cần phải
nêu ra là lãnh vực năng lượng. Công nghệ xanh đòi hỏi cần phải
sử dụng năng lượng hợp lý hoặc giảm thiểu hầu bảo vệ mội trường
thiên nhiên.
-
Hóa học xanh cũng là một yếu tố quan trọng góp
phần vào việc giải quyết công nghệ xanh.
Hóa học Xanh hay Hóa học Bền vững
Hóa học Xanh còn được gọi là Hóa học Bền vững đã
được Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (US EPA) đề xướng lần đầu
tiên với mục đích để phòng ngừa ô nhiễm nhằm truy tìm những biện
pháp giải quyết, sáng kiến kỹ thuật tối ưu hơn là đặt trọng tâm
vào việc quản lý và xử lý các chất thải rắn, lỏng, và khí từ kỹ
nghệ.
Trên 12 nguyên tắc căn bản để thực hiện công nghệ
hóa học bền vững, công nghệ sinh học và siêu vi (nano) là hai
công nghệ được áp dụng nhiều nhất trong các quy trình sản xuất
và chế biến hóa chất. Điểm đặc sắc của hai công nghệ nầy là làm
cho môi trường rất ít hay không bị ô nhiễm.
Vấn đề cấp bách được đặt ra là làm thế nào để cho
tất cả các quốc gia trên thế giới được cập nhật thông tin và áp
dụng những công nghê mới khám phá sau nầy. Nếu không cuộc cách
mạng xanh chỉ có thể xảy ra ở những quốc gia hậu kỹ nghệ và vấn
nạn ô nhiểm toàn cầu vẫn chưa được giải quyết đúng đắn.
Trong kỳ Hội nghị Thượng đỉnh LHQ về Phát triển
Bền vững tại Johannesburg năm 2002, GS Jurgen Metzger thuộc đại
học Oldenburg (Đúc) có nêu lên những tiến bộ của thế giới trong
việc ứng dụng Nghị trình 21 vào chính quốc như việc xử dụng hóa
chất an toàn cũng như lưu tâm nhiều đến sức khỏe của con người
và môi trường. Đây chính là một đóng góp lớn của các công ty sản
xuất hóa chất trên thế giới. Công ty Dow Chemical (Hoa Kỳ) là
một công ty sản xuất hóa chất lớn nhất thế giới đã giảm được sự
thải hồi thán khí (CO2) trong các quy trình sản xuất từ 28,1
triệu tấn cho năm 1994 xuống còn 26,1 triệu tấn năm 2002.
Sau cùng GS Metzger đã đề nghị Viễn kiến 2020 với
một mục tiêu rõ ràng là giãm thiểu 30% năng lượng so với năm
2002 trong các công nghệ sản xuất hóa chất toàn cầu. Và Oâng
cũng đã tiên liệu sẽ có 25% hóa chất hữu cơ sẽ được sản xuất từ
các nguồn nguyên liệu tái sinh.
Tuy nhiên, Ông cũng đưa ra một nghi vấn là sẽ rất
khó để cho toàn thế giới áp dụng các kỷ năng mới nầy cũng như
“sự ù lì” của một số đại công ty vẫn còn muốn đi theo lề lối cũ
trong kỹ nghệ như xử dụng nguồn hóa dầu để sản xuất ra sản phẩm
hóa học khác hơn là áp dụng nguồn nguyên liệu tái sinh…
Chất dẽo tổng hợp từ thực vật
Một trong những việc làm đáng ca ngợi của công ty
Cargill Dow thuộc nhóm Nature Works là đã thành công trong việc
sản xuất chất dẽo (plastic) từ trái bắp. Có thể nói đây là một
cuộc cách mạng xanh lớn nhất vào đầu thế kỷ 21 nầy. Polylactic
acid hay PLA là một loại chất dẽo thực vật có được từ việc tổng
hợp đường dextrose trong trái bắp. Phát minh nầy đã được giải
thưởng Presidential Green Chemistry Challenge năm 2002. Loại
plastic “bắp” nầy có thể áp dụng trong các kỹ nghệ như quần áo,
khăn, thảm, bao bì cho thực phẩm và nhiều ứng dụng khác trong
nông nghiệp. Cũng theo Cargill Dow thì việc sản xuất chất dẽo
trong điều kiện trên sẽ giãm thiểu được 20 đến 50% năng lượng xử
dụng so với việc sản xuất theo quy trình chất dẽo hiện tại.
Công ty nầy hiện ở Blair, Nebraska đã bắt đầu sản
xuất 140.000 tấn /năm từ năm 2002 và dự kiến tăng lên 500.000
tấn vào năm 2006.
EPA Hoa Kỳ đã tổng kết tất cả các thành quả của
Hóa học xanh tại nước nầy từ năm 1996 đến 2002, là trung bình
hàng năm , Hoa Kỳ đã:
·
Loại bỏ 800.000 tấn hóa chất trong đó có
Chlorofluorocarbon (CFC)(Chất làm vỡ từng ozone của bầu khí
quyển), hợp chất hữu cơ nhẹ, độc hại và không bị sinh thoái hóa;
·
Giảm 650 triệu gallon dung môi hữu cơ;
·
Giảm 138 tỷ gallon nước dùng trong việc sản xuất
các kỹ nghệ dệt, phim ảnh, chất bán dẫn;
·
Giảm được 90.000 tỷ đơn vị năng lượng tiêu thụ
Btu và 430.000 tấn thán khí (CO2) thải hồi vào không khí;
·
Giải quyết được 19 triệu tấn phế thải độc hại đã
được xử lý hay tái sinh.
Cản ngại trong việc chuyển đổi quy trình sạch
Đứng trên căn bản lợi nhuận, việc chuyển đổi các
quy trình cổ điển qua quy trình sạch thích hợp với tiến trình
toàn cầu hóa là một việc không dễ dàng. Vì thế, tích cách “bảo
thủ trong sản xuất” là một trong những cản ngại căn bản cho việc
chuyển đổi nầy.
Lấy một thí dụ trong kỹ nghệ dược phẩm. Theo ước
tính, nếu một công ty trong kỹ nghệ nầy đã nghiên cứu thành công
dây chuyền sản xuất sạch, thì trong giai đoạn chuyển tiếp, công
ty có thể bị gián đoạn hay giảm 50% sản xuất; từ đó việc mất mức
lợi nhuận sẽ phải là những con số đáng kễ mà khó có công ty nào
chấp nhận hy sinh được.
Do đó, để giảm bớt tính bảo thủ trên, các công
ty, ngoài việc nghiên cứu quy trình sạch cần phải thực hiện song
hành với việc nghiên cứu tài chính và thị trường trong công cuộc
chuyển đổi nấy.
Những điểm “tối” trong hóa học xanh
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |