|
Từ hơn một năm qua, giá
xăng dầu tiếp tục tăng dần trên thế giới và hiện tại vẫn chưa có
chỉ dấu nào cho thấy sự sụt giảm trong tương lai gần đây. Có
những nguyên do chính để giải thích hiện tượng nầy. Đó là tình
hình chính trị chung trên thế giới đang bất ổn với cuộc chiến
tranh Iraq, và cuộc chiến chống khủng bố. Nhưng nếu nhìn xa hơn
nữa, thế giới đang lo ngại trữ lượng toàn cầu đang có nguy cơ bị
cạn kiệt.
Trữ lượng dầu hỏa trên thế
giới, qua nhiều thăm dò và nghiên cứu của những cơ quan khác
nhau như: Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (1997), Báo Washington Post
(1996), Kỷ yếu Năng lượng quốc tế 1998 (International Energy
Annual), Phòng Thống kê LHQ (1994). Hầu hết đều kết luận là trữ
lượng dầu thô hiện chiếm vào khoảng 1.000 tỷ thùng (barrel) hay
1,5 1011 m3. Cũng cần biết: 1 barrel = 42 Gallon =
159 lít = 0,16 m3.
Cũng theo ước tính của Cơ
quan Địa chất HK (US GS) thì với trữ lượng nầy, nhân loại chỉ có
triển vọng xử dụng trong vòng 50 năm tới mà thôi.
Nếu căn cứ theo mức sản
xuất của OPEC và các quốc gia sản xuất dầu độc lập thì đúng như
vậy. Nhưng trên thế giới hiện tại, còn có nhiều quốc gia đang
tiếp tục truy tìm và khai thác những khu vực có triển vọng có
mõ dầu ở trong đất liền cũng như ở trong trầm tích của thềm lục
địa như ở Việt Nam, Alaska (Hoa Kỳ), Nam Dương, Venezuela, Liên
bang Nga v.v... Do đó trên thực tế, có thể cho phép chúng ta
ước tính một cách lạc quan hơn con số 50 năm. Đó là chưa kể đến
những phương pháp và nguyên liệu khác đang được nghiên cứu để
thay thế xăng dầu.
OPEC là
chữ viết tắt của “The Organization of Petroleum Exporting
Countries” hay “Tổ chức các Quốc gia Sản xuất Dầu”. Có tất cả 9
quốc gia trong tổ chức nầy, đó là: Algeria, Nigeria, Indonesia,
Iran, Iraq, Kuwait, Qatar, Saudi Arabia, và Venezuela. Tổ chức
nầy định mức sản xuất dầu hàng năm cho các thành viên, từ đó
gián tiếp quy định giá dầu cho các quốc gia khác trên thế giới.
Do đó,
tùy theo tình hình biến động mà giá dầu có thể tăng bất ngờ do
tình trạng “tạm ngưng” sản xuất của OPEC làm cho khủng hoảng
năng lượng trên thế giới vào năm 1973. Hiện nay, chúng ta đang
sống trong giai đoạn của một hình thức khủng hoảng vì giá dầu đã
tăng gần gấp đôi so với năm ngoái. Tuy nhiên cuộc khủng hoảng
thực sự chưa xảy ra vì giá dầu hiện tại vẫn còn thấp so với giá
của năm 1973 cộng thêm mức lạm phát hàng năm tương với giá
$100/thùng hiện tại.
Nguyên liệu thay thế dầu
Đứng
trước những bất trắc có thể xảy ra bất cứ lúc nào để tạo nên
cuộc khủng hoảng năng lượng xăng dầu trên thế giới, các nhà khoa
học đã có những bước tiên liệu để ngăn chặn hay hạn chế các bất
trắc có thể xảy ra. Thế giới đã nhìn thấy hiểm họa của việc xử
dụng dầu thô làm nguồn nguyên liệu chính cho công nghệ phát
triển và di chuyển. Vì đó là: 1- nguồn nguyên liệu có trữ lượng
giới hạn và đã báo hiệu trước thời gian bị cạn kiệt không xa; 2-
mức ô nhiễm môi trường đặc biệt là sự hâm nóng toàn cầu là một
nguy cơ thật sự mà thế giới cần phải giải quyết; 3- sau cùng,
phương hướng tập trung để giải quyết hai vấn nạn trên là: truy
tìm nguyên liệu để thay thế xăng dầu và biện pháp giải quyết mới
để giảm thiểu việc phóng thích khí monoxide carbon (CO) và thán
khí (CO2) vào không khí.
Hai
hướng giải quyết trên là hai định hướng tối ưu trong hiện tại để
tiến đến việc ngăn ngừa khủng hoảng năng lượng xăng dầu, và giảm
thiểu được lượng thán khí, tác nhân chính của sự tăng nhiệt độ
của bầu khí quyển.
Trước
hết, xin nhắc lại quá trình khai thác công nghệ dầu khí.. Cho
đến thập niên 80, phẩm chất xăng dầu không được tốt vì công nghệ
nầy chưa khử được dư lượng chì (Pb) trong xăng, và phóng thích
nhiều khí CO và CO2 vì động cơ của các phương tiện giao thông
không đốt hết lượng xăng dầu trong máy. Chì là tác nhân làm cho
trí não của trẻ em sơ sinh chậm phát triển.. Và CO, CO2 là động
lực chính cho sự ô nhiễm không khí và sự hâm nóng toàn cầu.
Qua
nghiên cứu, vào dầu thập niên 90, các nhà khoa học đã tìm ra
công nghệ chưng cất (cracking) dầu khí tinh vi hơn và đã giải
quyết được sự hiện diện của chì trong xăng. Hiện nay vấn đề tồn
đọng còn lại là làm thế nào để hoàn chỉnh việc xử dụng toàn
lượng xăng dầu trong động cơ.
Thêm
nữa, Hoa Kỳ đã cho thêm chất hóa học MTBE gọi là chất “trợ oxy”
vào trong xăng trong vòng một thập niên qua để trợ giúp việc
tiêu thụ hoàn toàn lượng xăng dầu bơm vào động cơ. Nhưng vào năm
2002, chính chất trợ oxy nầy là nguyên nhân của một nguy cơ mới.
Đó là mầm mống của một loại ung thư cho con người, và chất nầy
đã được tìm thấy trong nguồn nước ở nhiều tiểu bang. Do
đó, từ cuối năm 2003, chất MTBE hoàn toàn bị cấm xử dụng làm
chất trợ oxy cho xăng dầu. Để thay thế, Cơ quan Bảo vệ Môi
trường HK (US EPA) cho phép áp dụng rượu cồn hay ethanol để trộn
vào xăng dầu chạy xe. Có thể pha trộn đến tỷ lệ 70% rượu trong
xăng. Vì vậy mà mức sản xuất rượu cồn ở Hoa Kỳ trong năm 2004 là
12,5 tỷ lít, 17% cao hơn so với năm 2003. Các tiểu bang trồng
bắp để sản xuất ra rượu ethanol ở Hoa Kỳ là Iowa, North và South
Dakota, Nebraska, Wisconsin.
Công nghệ chế biến
ethanol từ ngũ cốc
Rượu ethanol đã được điều
chế từ gạo, nếp, bắp...từ hàng ngàn năm trước qua sự lên men
rượu do vi khuẩn. Hiện nay, với nhu cầu giải quyết nạn khan hiếm
năng lượng xăng dầu và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, ethanol
quả thật là một nhu cầu cấp bách cho thế giới.. Do đó tiêu chuẩn
đặt ra cho công nghệ lên men nầy là : 1- Truy tìm loại vi khuẩn
làm tăng tiến trình lên men nhanh hơn và cho hiệu suất cao; 2-
Và giảm thiểu tối đa các phó phẩm khác không cần thiết trong quy
trình.
Công cuộc nghiên cứu nầy
đã dược khắp thế giới thực hiện từ những năm 1970. Kết quả là
qua hơn 1.400 báo cáo khoa học về vi khuẩn Zymomonas mobolis
đăng tải trong suốt thời gian nầy, Kang và các cộng sự mới vừa
hoàn tất mô hình di truyền (genome) của vi khuẩn nầy vào cuối
năm 2004. Và từ mốc thời gian trên, công nghệ chuyển bắp thành
ethanol đã tiến một bước dài góp phần vào công cuộc làm giảm ô
nhiễm môi trường và giải quyết phần nào nạn khan hiếm năng lượng
xăng dầu trong tương lai.
Hoa Kỳ đã đánh giá cao
chương trình nầy, cho nên trong một Báo cáo của Ủy hội Quốc gia
về Chính sách Năng lượng của HK, một tổ chức phi chính phủ (NGO)
do William và Flora Hewlett tài trợ, trong đó quy tụ nhiều chính
trị gia, khoa học gia, kỹ nghệ gia, giáo sư và đăc biệt có GS
Molina, khôi nguyên giải Nobel. Trong báo cáo nầy, chỉ riêng
chương trình dùng năng lượng thay thế, trong đó việc sản xuất
ethanol là quan trọng nhất. Và theo như đã dự trù, trong năm
2025, HK sẽ giảm lượng tiêu thụ xăng dầu từ 10 đến 15% so với
mức dùng hiện tại năm 2004 do việc xử dụng ethanol trong các
phương tiện di chuyển.
Mức xử dụng rượu dùng
cho năng lượng
Ấn Độ:
Quốc gia nầy
dùng đường mía để sản xuất ra rượu ethanol. Đây là một chính
sách quốc gia của Ấn Độ, dùng rượu pha trộn với xăng dưới nhiều
tỷ lệ khác nhau để cung cấp nhiên liệu cho các phương tiện di
chuyển trong nước với mục đích giảm thiểu được ngoại tệ nặng
dùng cho việc nhập cảng xăng dầu. Thêm nữa, việc nầy đã tạo thêm
nhiều công ăn việc làm cho nông dân trồng mía, và công nhân nhà
máy sản xuất rượu và hạn chế được ô nhiễm môi trường.
Ấn Độ cũng đã áp dụng công
nghệ mới trong việc điều chế rượu trực tiếp từ nước mía ép, chứ
không qua giai đoạn cô nước mía thành mật đường (molasse). Kỹ
thuật nầy làm giảm chi phí sản xuất. Năm 2001, Ấn Độ sản xuất
7,6 triệu tấn rượu ethanol nguyên chất, và trung bình có 5%
lượng rượu được pha trong xăng dầu căn cứ theo Viện Định chuẩn
Ấn Độ về xăng dầu (BISP).
Ba Tây:
Đây là một
quốc gia có diện tích trồng mía lớn nhất thế giới với gần 80.000
Km2 và cũng là quốc gia có mức sản lượng rượu lớn nhất. Công
nghệ sản xuất rượu từ mía được chính phủ tài trợ cũng như mức
thuế cao áp dụng cho xăng dầu nguyên chất là hai yếu tố làm cho
người dân có khuynh hướng dùng rượu làm nhiên liệu cho xe cộ.
Hầu hết các trạm xăng ở Ba Tây đều có hai trạm bơm: một cho xăng
và một cho rượu nguyên chất.
Ba Tây là quốc gia đầu
tiên đã áp dụng toàn quốc quy định trộn rượu trong xăng với tỷ
lệ 24/76 kể từ khi có nạn khủng hoảng xăng dầu năm 1973. Trong
thời gian nầy, ngoài cây mía ra, Ba Tây cũng đã thực hiện việc
lên men rượu từ cây khoai mì. Ba Tây cũng đã tận dụng cây mía để tạo
ra năng lượng trong quá trình sản xuất rượu. Xác mía (bagasse)
sau khí ép nước mía được xấy khô, và được dùng làm nguyên liệu
cho việc chưng cất, thậm chí còn được chuyển đổi thành nhiệt
điện để chạy máy. Việc làm nầy đã giải quyết được nhu cầu năng
lượng cần thiết cho công nghệ sản xuất toàn quốc cũng như lượng
điện dư thừa còn lại đã được dùng trong những dịch vụ công cộng
ngoài xã hội. Theo thống kê năm 2003, tổng lượng điện sản xuất
từ công nghệ nầy ước tính khoảng 1.600 MW, tương đương với hai
lò điện nguyên tử hạng trung. Một nhà máy trung bình tiêu thụ
một triệu tấn mía có thể cung cấp 5 MW điện cho thị trường bên
ngoài (5 MW là lượng điện đủ cung cấp điện năng cho 5 ngàn nhà
theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ).
Riêng tại Ba Tây, xe cộ
tiêu thụ 100% rượu đã được sản xuất từ đầu thập niên 80. Năm
2005, có 80% xe lưu thông ở nước nầy là loại xe dùng xăng pha
rượu, so với chỉ có 17% vào năm 2004. Thậm chí máy bay nhỏ dùng
để phun xịt hoa màu cũng xài hổn hợp xăng-rượu. Mức sản xuất
rượu hàng ngày của Ba Tây là 27 ngàn m3 trong đó 40% dùng làm
nhiên liệu cho xe. Và sau cùng, Ba Tây đã bắt đầu dự án chuyển
đổi gen DNA của cây mía trong cố gắng tạo ra một giống mía cho
nhiều đường hơn từ hàng chục năm qua.
Giá thành của một gallon
rượu rẻ hơn xăng độ 0.50 Mỹ kim tính theo thời giá 2006. Mặc dù
1 gallon xe chạy bằng rượu đạt được ít dặm hơn xe chạy bằng
xăng, nhưng nhiên liệu rượu vẫn cho nhiều hiệu quả kinh tế hơn
xăng, chưa kể đến mức lợi không nhỏ về việc môi trường bớt được
ô nhiễm không khí do sự phát thải khí carbonic của xăng.
Hoa Kỳ: Năm 2006,
HK sản xuất 5 tỷ gallon rượu ethanol và dự kiến tăng mức sản
xuất lên 9 tỷ năm 2008. Tùy nhiên, lượng ethanol nầy cũng chưa
thể thay thế được mức tiêu thụ xăng dầu của HK là 140 tỷ
gallon/năm. Hai số trên cho thấy lượng rượu thay thế chỉ đủ nhu
cầu cho 4,3% tổng lượng xe của Hoa Kỳ mà thôi (số liệu đã được
chiết tính sau khi khấu trừ hiệu năng của rượu chỉ bằng 2/3 hiệu
năng của xăng).
Muốn đạt được 9 tỷ gallon
rượu cần phải có một diện tích đất là 20 triệu mẫu (acre, tương
đương với 90.000 KM2), chiếm 25% tổng diện tích trồng bắp của
HK. Số lượng bắp còn lại được dùng làm thực phẩm cho gia súc
(50%), xuất cảng (20%), và cho kỹ nghệ chế biến thực phẩm 5%.
Những công ty chưng cất bắp thành rượu chính của HK là: Cty
Archer Daniels Midland (ADM), Monsanto, Dupont, và BP. ADM dự
định xây thêm cơ sở chưng cất để tăng năng xuất lện 50% cho năm
2007 av Monsanto dự địnhtăng năng xuất thu hoạch bằng loại bắp
chứa diếu tố lai tạo (hybrid) từ 150 lên 300 thùng/mẫu.
Lợi điểm của rượu
ethanol dùng trong năng lượng
Đây là một trợ thủ đắc lực
cho xăng dầu. Nó làm tiêu đốt hết lượng xăng dầu đã được bơm vào
động cơ xe. Do đó, không còn phát sinh ra khí CO nữa. Lợi điểm
thứ hai là do sự đốt cháy hoàn toàn nầy, hiệu quả kinh tế của
việc xử dụng phương tiện di chuyển bằng xăng dầu giảm từ 7 đến
10% tùy theo tỷ lệ lượng ethanol thêm vào. Lợi điểm sau cùng nầy
càng làm cho các nhà khoa học cố gắng thêm trong việc truy tìm
những phương pháp hữu hiệu để hầu tăng năng suất điều chế rượu
cồn từ ngũ cốc, đặc biệt từ bắp.
Vài suy nghĩ về năng
lượng từ rượu
Như tất cả chúng ta đều
biết, hiện tại trên thế giới, việc dùng ngũ cốc để tạo ra năng
lượng thay thế dầu hỏa được chú ý đến như là một giải pháp cung
cấp năng lượng trong hiện tại và tương lai. Ngũ cốc đang được
dùng nhiều nhất là bắp và mía. Ở một số quốc gia việc dùng cây
khoai mì (manioc), đậu nành, hay dầu hướng dương (sunflower)
cũng đáp ứng được nhu cầu chế biến thành rượu. Nhưng hiệu quả
kinh tế lớn nhất vẫn là việc dùng
bắp (400 lít rượu / 1 tấn bắp) và sau đó là mía (250 lít / 1 tấn
mật đường).
Đứng về mặt bảo vệ môi
trường, việc dùng nguyên liệu để chạy xe tiết giảm được mức ô
nhiễm không khí ở các thành phố lớn. tuy nhiên việc trồng trỉa
độc canh về mía hay bắp ở một diện tích lớn để có thể cung ứng
đủ cho nhu cầu quốc gia lại nảy sinh ra một vấn nạn môi trường
mới cho nông dân, công nhân sống trong những vùng trồng tỉa và
sản xuất rượu.
-
Trước khi
bắt đầu một mùa vụ mới, nông dân phải đốt cỏ khô, và gốc mía,
gốc mì để dọn đất. Việc nầy đã tạo ra nhiều đám khói che phủ bầu
trời và làm ô nhiễm không khí. Nông dân và công nhân ở những
vùng nầy mắc bệnh về đường hô hấp cao so với nông dân ở vùng
khác. Như vậy, vô hình chung, công nghệ nầy đã chuyển dịch ô
nhiễm từ các thành phố về nông thôn, nghĩa là làm lợi cho người
thành phố và hại cho nông thôn. Từ đó, làm tăng thêm khoảng cách
giàu nghèo giữa nông thôn và thành phố.
-
Vì là độc
canh ở một vùng lớn, do đó đa dạng sinh học (biodiversity) dần
dần bị biến mất, vì các chủng loại cây cỏ thiên nhiên khác không
còn tồn tại trong vùng trồng tỉa. Hệ sinh thái lần lần bị cải
đổi. và hậu quả của việc độc canh là vi khuẩn, nấm mốc sẽ nẩy
sinh và có sức đề kháng cao vì môi trường thiên nhiên không còn
giữ được tính sinh diệt hổ tương giữa cây cỏ và sinh vật. Do đó,
đứng trên tầm nhìn chiến lược quốc gia, các nước có nhu cầu cần
xử dụng năng lượng từ rượu qua việc trồng tỉa bắp hay cây mía
cần phải cải đổi kỹ thuật để làm tăng năng suất cây trồng và sức
đề kháng của cây bằng phân bón thích hợp và xử dụng hóa chất bảo
vệ thực vật để tránh việc gây ô nhiễm không khí qua việc đốt
đồng dọn cỏ cho mùa vụ sau.
-
TS David
Pimentel, Giáo sư về nông nghiệp ĐH Cornell, đưa ra kết luận rất
tiêu cực về việc xử dụng năng lượng đến từ rượu như sau:
“Chiến lược phát triển năng lượng từ rượu không phải là một
chiến lược bền vững”. Ông đưa ra những số liệu nghiên
cứu để chứng minh cho lập luận trên là:
o
Nếu dùng bắp
để biến chế rượu, phải cần thêm 29% năng lượng so với dầu thô để
chuyển đổi thàng năng lượng chạy xe.
o
Nếu dùng đậu
nành để biến chế rượu, cần thêm 27% năng lượng.
o
Và nếu dùng
hạt hoa hướng dương cần thêm 118% năng lượng.
Do đó, nếu kết toán tổng
cộng, có nhiều yếu tố làm cho việc sản xuất rượu để làm ra năng
lượng không là một phát triển bền vững vì:
o
Lượng nước
dùng cho việc tưới tiêu và biến chế chưng cất rượu sẽ ảnh hưởng
đến mức dự trử nước ngọt trên thế giới đang trên đà cạn kiệt.
o
Hóa chất như
phân bón và thuốc bảo vệ thực vật sẽ làm ô nhiễm môi trường.
Và sau cùng, TS David
Pimentel đã khuyến cáo chính phủ Hoa Kỳ như sau:
“Hoa Kỳ cần có nhu cầu
thay thế dầu trong tương lai để cung cấp năng lượng. Nhưng việc
sản xuất rượu ethanol và biodiesel từ thực vật để làm năng lượng
thay thế là một hướng đi sai lầm, vì công nghệ nầy đòi hỏi năng
lượng để sản xuất ra rượu hay biodiesel nhiều hơn là hưởng được
số lượng năng lượng mà chúng cung cấp cho con người”.
Và sau cùng, “việc sản
xuất năng lượng thay thế từ rượu sẽ không mang lại lợi ích cho
quốc gia đứng về phương diện an toàn năng lượng, về nông nghiệp,
hay kinh tế và môi trường. Các nguồn năng lượng thay thế dầu khí
sau đây cần phải khai triển thêm, đó là năng lượng mặt trời,
năng lượng gió, năng lượng sinh khối (biomass), và năng lượng
chuyển đổi hydrogen”
Mai Thanh Truyết
Orange, 01/2007
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |