|
Lời Mở Ðầu:
Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch
(MK:DSNM) là tựa đề một quyển sách của Nhà văn Bác sĩ Ngô Thế
Vinh (NTV) mới vừa được nhà xuất bản Văn Nghệ Mới phát hành tại
California, Hoa Kỳ trong tháng 1 năm 2007. Qua “Lời Dẫn Nhập”
của tác giả NTV, đây là một “ký sự” bao gồm “... những
hình ảnh và các trang bút ký sống động của tác giả viết về các
chuyến đi... ‘quan sát thực địa’ từ Vân Nam Trung Quốc xuống các
quốc Lào Thái Cam Bốt và Ðồng Bằng Sông Cửu Long Việt Nam
[ÐBSCL]” trong các năm 2000 và 2001. Nhưng các chuyến đi
“quan sát thực địa” của tác giả dường như không chỉ có bấy
nhiêu, vì tác giả NTV đã “Tường trình từ Vân Nam đến với con đập
Mạn Loan” vào tháng 09/2002 và đi “Từ cầu Mỹ Thuận 2000 tới cây
cầu Cần Thơ 2008” vào tháng 09/2006!
MK:DSNM
không chỉ bao gồm “những hình ảnh và các trang bút ký” mà
dường như còn mang cả một “thông điệp riêng tư của tác giả” để
cảnh báo rằng: “Tiếp theo chuỗi những con đập thủy điện khổng
lồ Vân Nam đã và đang gây tác hại trên đời sống của hơn 60 triệu
cư dân hạ nguồn, thì sự cố nầy [việc vận chuyển 300 tấn dầu từ
Chang Rai lên một giang cảng tỉnh Vân Nam] được coi như một đòn
giáng chí tử thứ hai trên sinh mệnh của con sông Mekong, khi
dòng sông được khai thác sử dụng như một thủy lộ chiến lược vận
chuyển dầu khí từ Trung Ðông tiếp tế cho các tỉnh vùng kỹ nghệ
tây nam Trung Quốc thay vì phải đi qua eo biển Malacca.”
Với sự phụ họa của “Nhóm Bạn Cửu Long” (www.vietecology.org),
những dự án thủy điện và thủy vận mà Trung Hoa đã, đang, và sẽ
thực hiện trong lưu vực sông Mekong được hình dung như là một
thứ “chất độc da cam/dioxin dã man” đã, đang, và sẽ tiếp tục
gieo rắc “hậu quả kinh hoàng” trên khắp ÐBSCL, cũng như chất da
cam đã bị cáo buộc là tác nhân của hầu hết bệnh tật đang xảy ra
trên khắp ba miền của đất nước, từ ải Nam Quan cho đến mũi Cà
Mau. ”Cho dù chưa có dự án nào tới giai đoạn kết thúc, nhưng
nơi các quốc gia hạ nguồn và nhất là Ðồng Bằng Sông Cửu Long
(ÐBSCL) đã bắt đầu chịu những hậu quả ‘nhãn tiền’: như những cơn
lũ bất thường trong mùa mưa... sông Cửu thì đang cạn dòng, thêm
ngập mặn, ngày càng ô nhiễm và nguồn thủy sản thiên nhiên từ
sông vốn rất phong phú cách đây ba thập niên thì nay hầu như
không còn đáng kể...”
Nếu
MK:DSNM cũng được viết theo dạng “... ‘dữ kiện tiểu thuyết-
faction: facts & fiction’, với một số ít nhân vật như những hình
tượng văn học và phần dự phóng là hư cấu [nhấn
mạnh của HKHKTVN] để cùng với người đọc đi tới những vùng
đất, nơi có con sông Mekong hùng vĩ chảy qua...” (giống như
đàn anh của nó là Cửu Long Cạn Dòng-Biển Ðông Dậy Sóng
(CLCD-BÐDS)), chắc chúng ta sẽ cảm nhận được cái “dân tộc tính”
hào hùng của một người dân Việt có “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu”
lúc nào cũng canh cánh bên lòng những “ưu tư” khi nhìn về phương
Bắc, cái “nhiệt tình” nóng bỏng của một nhà hoạt động môi trường
đầy hoài nghi (skeptical environmentalist) lúc nào cũng canh
cánh bên lòng những “quan tâm” về hậu quả của các dự án mà không
màng đến phúc lợi của chúng, cái “lãng mạn” cách mạng của một
nhà văn lớn lúc nào cũng canh cánh bên lòng những “dự phóng cho
tương lai” trong tình huống bi thảm nhất (worst-case scenario),
và cái “lòng nhân đạo” không biên giới của một “lương y như từ
mẫu” lúc nào cũng canh cánh bên lòng những “âu lo” cho an nguy
không những của cư dân mà còn cho cá Pla Beuk và Irrawaddy
Dolphin ở “Lưu Vực Dưới.”
Thế
nhưng MK:DSNM, dù không phải là một “dữ kiện tiểu thuyết,” lại
có nhiều “thông tin” và dữ kiện rất chuyên ngành, để “... qua
các thông tin có được ấy, để thấy rằng sự suy thoái của con sông
Mekong là do những bước ‘khai thác tự hủy’ như một phản ứng dây
chuyền với tàn phá sinh cảnh, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, gây
ô nhiễm môi trường... tất cả đã và đang diễn ra nhanh và sớm hơn
dự kiến của nhiều người.” Liệu các thông tin và dữ kiện
chuyên ngành trong MK:DSNM - mà quan trọng nhất là dữ kiện thủy
học - có đầy đủ, chính xác, và khả tín (adequate, accurate, and
reliable) để “dự phóng” như tác giả NTV đã trình bày hay không?
Mekong Nghẽn Mạch?
Trong
phần “Thắt nghẽn mạch sống – Trung Quốc ngăn sông,” chương “Thay
kết từ câu chuyện của dòng sông,” tác giả NTV viết: “Chiến
lược ngăn sông Mekong để xây 14 con đập bậc thềm Vân Nam của
Trung Quốc đã có từ thập niên 70, đây có thể coi là một đòn
giáng chí tử trên mạch sống của dòng sông. Trong ba thập niên
vừa qua, Trung Quốc đã ào ạt khai thác con sông Lan Thương [tên
Trung Quốc của con sông Mekong], bằng cách xây các đập thủy điện
khổng lồ chắn ngang dòng chính làm ảnh hưởng tới nguồn nước,
nguồn cá, nguồn phù sa và cả gây ô nhiễm cho hạ nguồn. Tuy chỉ
mới có 2 con đập hoàn tất [Mạn Loan 1500 MW, Ðại Chiếu Sơn 1350
MW], 2 đang xây [Tiểu Loan 4200 MW, Cảnh Hồng 1350 MW] trong dự
án Mười Bốn Con Ðập Vân Nam, vậy mà chưa bao giờ trong Mùa Khô,
mực nước con sông Mekong lại có thể xuống thấp đến như vậy.
[Hình II] Ở một số nơi, có những khúc sông hầu như cạn dòng và
đã trơ đáy. Nguồn cá và nông nghiệp đã trực tiếp bị ảnh hưởng.
Không chỉ đơn giản vì ‘thiếu mưa’, sự kiện sông Mekong cạn dòng
năm 1993 mà không vào Mùa Khô, trùng hợp với thời điểm Trung
Quốc bắt đầu lấy nước vào con đập thủy điện đầu tiên Mạn Loan
ngang dòng chính sông Mekong trên Vân Nam. Ðể có đủ nước vận
hành 2 đập thủy điện Mạn Loan và Ðại Chiếu Sơn, Trung Quốc đã
thường xuyên đóng các cửa đập khiến mực nước sông đã xuống tới
mức thấp nhất. Tại Lào, trong tháng 3/2004, tổ chức du lịch đã
phải hủy bỏ 10 chuyến du ngoạn trên sông chỉ vì những khúc sông
quá cạn. Phía bên Thái Lan, Odd Bootha 38 tuổi, anh lái đò bến
Chiang Khong Bắc Thái Lan đã phải than thở: “Nếu Trung Quốc cứ
xây thêm đập thì sông Mekong chỉ còn là một con lạch.”
Quả
thật, khúc sông Mekong ở ngay phía dưới đập Mạn Loan (Manwan) đã
“cạn dòng” do việc trữ nước cho hồ chứa vào năm 1993; nhưng đây
có lẽ là thời điểm duy nhất mà sông Mekong bị... “nghẽn mạch.”
Thật vậy, năm 2003, Kỹ sư Nguyễn Minh Quang (NMQ), một chuyên
viên thủy lợi quen thuộc với ÐBSCL và cũng là thành viên của Hội
Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (HKHKTVN), đã dùng mực nước đo đạc
hàng ngày tại trạm Chiang Saen để nghiên cứu ảnh hưởng thủy học
của các đập thủy điện ở thượng nguồn. Ông kết luận: “Dữ kiện
đo đạc từ 1961 đến 2000 cho thấy việc xây cất và điều hành đập
Manwan đã có ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng thủy học (mực nước
và lưu lượng) ở trạm quan trắc Chiang Saen, cửa ngỏ của hạ lưu
vực sông Mekong. Việc đóng đập Manwan có lẽ làm cho mực nước
cao nhất và thấp nhất trong mùa khô tại trạm nầy hạ thấp đến mức
kỷ lục trong năm 1992 và 1993. Tuy nhiên, lưu lượng trong mùa
khô (từ tháng 11 đến tháng 4) tại trạm nầy tăng đáng kể sau khi
đập Manwan hoàn tất, kể từ năm 1994: lưu lượng cao nhất trung
bình tăng từ 979 m3/sec đến 1.490 m3/sec
hay 52%, lưu lượng thấp nhất trung bình tăng từ 477 m3/sec
đến 807 m3/sec hay 69%, và lưu lượng trung bình trung
bình tăng từ 654 m3/sec đến 1.055 m3/sec
hay 61%” (Quang M. Nguyen. June 28, 2003. “Hydrologic
Impacts of China’s Upper Mekong Dams on the Lower Mekong River.”
www.mekonginfo.org).
Mực
nước đo đạc hàng ngày tại trạm Chiang Saen từ 2001 đến 2006 cũng
không có một dấu hiệu nào cho thấy sông Mekong “cạn dòng” trong
tháng 3 năm 2004 như lời tác giả NTV. Theo dữ kiện của Ủy hội
sông Mekong (MRC) (www.mrcmekong.org),
mực nước tại trạm nầy đã xuống đến mức thấp nhất 0,88 m vào ngày
27 tháng 3; thế nhưng mực nước nầy vẫn còn cao hơn mực nước thấp
nhất hàng năm quan sát được từ năm 1960 đến 1986 khi mà các đập
ở thượng nguồn chưa được xây cất. Trong khoảng thời gian nầy,
mực nước thấp nhất hàng năm tại Chiang Saen giao động từ 0,22 m
đến 0,81 m, cho đến năm 1987 thì đạt 0,97 m.
Còn lời
than thở của anh lái đò Odd Bootha ở bến Chiang Khong? Trên
phương diện thủy học, lời than thở cũng chỉ là... lời than thở!
Những Cơn Lũ Bất Thường ở ÐBSCL
“Nhóm
Bạn Cửu Long” rất chính xác nhưng tế nhị khi đánh giá những cơn
lũ “bất thường” ở ÐBSCL trong mùa mưa. Ðây là những cơn lũ, mà
theo lời Phó giáo sư Ðào Công Tiến (ÐCT), nguyên hiệu trưởng
trường Ðại học Kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh, “... vốn hiền
lành trở nên hung tợn, tàn phá nhiều hơn, xói lở sông ngòi, khu
dân cư” (TTCN. “Lũ ở đồng bằng sông Cửu Long. Ðề phòng tác
hại lâu dài của đê bao.” Báo Tuổi Trẻ ngày 15 tháng 10
năm 2005). Nhưng gán cho “những con đập thủy điện khổng lồ
[của Trung Hoa] chắn ngang dòng chính sông Mekong” là thủ
phạm của những cơn lũ “bất thường” ở ÐBSCL thì hoàn toàn thiếu
cơ sở khoa học.
Trên
thực tế, không ai có thể chối cãi rằng tình hình lũ lụt ở ÐBSCL
càng ngày càng trở nên “bất thường” sau tháng 4 năm 1975; nhưng
chưa có một nghiên cứu khoa học nào liên kết “tình trạng bất
thường” với việc xây cất và điều hành các đập thủy điện ở thượng
nguồn sông Mekong. Ngược lại, kết quả nghiên cứu năm 2003 của
NMQ cho thấy: “Ảnh hưởng của việc xây cất và điều hành đập
thủy điện Manwan đối với tình trạng thủy học ở trạm Chiang Saen
thì chưa nhận thấy ở trạm Tân Châu và Châu Ðốc, là hai trạm quan
trắc cuối cùng của hệ thống trạm quan trắc trong hạ lưu vực sông
Mekong. Nhận xét nầy phù hợp với sự liên kết rất lỏng lẽo (very
weak correlation) giữa mực nước ở hai trạm Chiang Saen và Tân
Châu. Hệ số liên kết (correlation coefficient) giữa hai trạm
Chiang Saen và Tân Châu là 0,46 cho mực nước cao nhất hàng năm
và 0,12 cho mực nước thấp nhất hàng năm. Sự liên kết được xem
là hoàn hảo nếu hệ số liên kết bằng 1.”
Nhưng
có dấu hiệu cho thấy “tình trạng bất thường” của lũ lụt ở ÐBSCL
có liên hệ đến việc xây cất và điều hành các đập thủy điện trên
cao nguyên miền Trung, Việt Nam như đập Yali và Se San 3.
“Thí dụ như việc xả lũ từ đập thủy điện Yali ở Việt Nam vào đầu
tháng 8 năm 2005. Việc xả lũ nầy đã gây lũ lụt ở hạ lưu sông Se
San trong tỉnh Ratanakiri của Kampuchia (32) và có lẽ đã làm mực
nước nội đồng ÐTM [Ðồng Tháp Mười] đang tăng nhanh lại càng tăng
nhanh hơn trong trung tuần tháng 8 (33)” (NMQ. Tháng 9 năm
2006. “Những Vấn đề Thủy lợi ở Ðồng bằng sông Cửu Long.”
www.vastvietnam.org).
Một sự
kiện “bất thường” đã đi vào lịch sử lũ lụt ở ÐBSCL và được trình
bày trong bài viết năm 2006 của NMQ: “Một sự kiện thủy học
nổi bật được quan sát lần đầu tiên trong lịch sử, đó là, trong
23 trạm của hệ thống đo đạc thủy học ở hạ lưu vực sông Mekong,
do Ủy hội sông Mekong điều hành, chỉ có 5 trạm có mực nước vượt
quá mức báo động do Ủy hội ấn định trong năm 2005. Ðó là các
trạm Thakhek và Pakse ở Lào, Mukdahan ở Thái Lan, và Tân Châu và
Châu Ðốc ở Việt Nam. Tuy nhiên, sông Mekong vượt quá mức báo
động chỉ có 5 ngày ở Thakhek, 7 ngày ở Pakse, và 9 ngày ở
Mukdahan, nhưng kéo dài đến 30 ngày ở Tân Châu và 60 ngày ở Châu
Ðốc.” Và trong năm 2006, một lần nữa, lịch sử thủy học hạ
lưu vực sông Mekong lại ghi thêm một kỷ lục mới: mực nước tại
trạm Tân Châu đã vượt mức báo động và mực nước tại trạm Châu Ðốc
đã vượt mức lụt do Ủy hội sông Mekong ấn định, trong khi mực
nước ở tất cả các trạm quan trắc còn lại ở thượng nguồn chưa
vượt quá mức báo động của chúng. Mực nước tại Tân Châu cao hơn
mức báo động 3,50 m trong suốt 88 ngày (từ 15 tháng 8 cho đến 10
tháng 11) và đạt mức cao nhất 4,17 m (xấp xỉ mức nước lụt 4,20
m) vào ngày 17 tháng 10. Mực nước tại Châu Ðốc cao hơn mức báo
động 2,50 m trong suốt 89 ngày (từ 18 tháng 8 đến 14 tháng 11)
và cao hơn mức lụt 3,50 m trong suốt 18 ngày (từ ngày 12 đến 29
tháng 10) và đạt mức cao nhất 3,71 m vào ngày 21 tháng 10.
Nếu
những con đập thủy điện khổng lồ ở Vân Nam không phải là thủ
phạm của các cơn lũ “bất thường” ở ÐBSCL, thì ai là thủ phạm?
Ðể bảo đảm tính khách quan, chúng ta hãy nghe sự đánh giá của
các cơ quan và giới chức có thẩm quyền trong nước. “Trong
hai thập kỷ vừa qua con người đã tác động mạnh mẽ lên vùng ngập
lụt của châu thổ sông Mekong. Nhiều kênh mới đã được đào, nhiều
kênh cũ đã được nạo vét, mạng lưới kênh cấp II ngày càng được
đan dày đã làm tăng khả năng chuyển lũ qua các vùng ngập. Mặc
khác các hệ thống giao thông đường bộ cũng được đan dày và tôn
cao nhưng khẩu độ cầu cống chưa đủ đã làm ách tắc việc thoát lũ,
làm dâng mực nước lũ một số vùng, trong đó đáng chú ý ở vùng ÐTM
và TGLX [Tứ giác Long Xuyên] của Việt Nam” (Phân viện Khảo
sát Quy hoạch Thủy lợi Nam bộ. 1999. Ðề tài: Nghiên cứu Khoa
học cấp Nhà nước, Xây dựng Cơ sở Dữ liệu Thống nhất cho Mô hình
Toán Tính lũ lụt ở Ðồng bằng sông Cửu Long, Báo cáo Tổng kết Ðề
tài. Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam). Phó giáo sư ÐCT,
trong tờ Tuổi Trẻ ngày 15 tháng 10 năm 2005, cho rằng:
“Có nhiều nguyên nhân, song cái chính là sự tác động của con
người vào tự nhiên để kiểm soát lũ thiếu tuân thủ qui luật. Các
hệ thống kênh mương dẫn lũ về sớm, rồi hệ thống giao thông, bờ
kênh lại làm lũ rút chậm hơn bình thường. Việc phát triển đê
bao cục bộ tràn lan đến mức không còn là... cục bộ làm con lũ
vốn hiền lành trở nên hung tợn, tàn phá nhiều hơn, xói lở sông
ngòi, khu dân cư.”
Cửu Long Cạn Dòng?
Ở nhiều
nơi trong MK:DSNM, tác giả NTV trình bày một số “thông tin” và
“dữ kiện” thủy học để minh chứng rằng những con đập thủy điện ở
Vân Nam chính là nguyên nhân của tình trạng “sông Cửu cạn
dòng” đang xảy ra ở ÐBSCL. Nhưng những thông tin và dữ kiện
nầy không phù hợp với các dữ kiện thủy học đo đạc ở các trạm
quan trắc hoặc được công bố trong các tài liệu chuyên môn.
Trong
phần “Con đập đầu tiên, con đập lịch sử,” chương “Tường trình từ
Vân Nam đến với con đập Mạn Loan,” tác giả viết: “Chỉ riêng
với con đập Manwan mà đã giữ tới 20% nguồn nước trên dòng chính
khúc sông Mekong chảy qua Vân Nam.” Nhưng con đập Manwan,
thực sự, giữ được bao nhiêu nước của sông Mekong? Theo tài liệu
“Downstream Implications of China’s Dams on the Lancang Jiang
(Upper Mekong) and their Potential Significance for Greater
Regional Cooperation, Basin-Wide” (E.C. Chapman and He Daming.
1996), hồ chứa Manwan có dung tích 0,92 tỉ m3 tổng
cộng và 0,25 tỉ m3 khả dụng. Theo tài liệu
Overview of the Hydrology of the Mekong Basin (MRC. November
2005), sông Mekong có lưu lượng trung bình 15.000 m3/sec,
trong đó, thượng lưu vực (tức khúc sông Mekong ở Trung Hoa)
chiếm 16%; như vậy, lưu lượng nước trung bình của sông Mekong
chảy qua Vân Nam là 2.400 m3/sec hay khoảng 75,68 tỉ
m3/năm. Do đó, hồ chứa Manwan chỉ có thể giữ khoảng
0,3-1,2% số lượng nước sông Mekong chảy qua Vân Nam hàng năm.
Trong mùa khô, vẫn theo tài liệu của Chapman và Daming, lưu
lượng nước trung bình từ tháng 11 đến tháng 4 của sông Mekong
tại đập Manwan là 689 m3/sec hay 10,86 tỉ m3/mùa
khô. Do đó, hồ chứa Manwan chỉ có thể giữ khoảng 2,3-8,5% số
lượng nước sông Mekong chảy qua Vân Nam trong mùa khô.
Trong
phần “Mae Nam Khong – sông Mẹ cạn dòng,” chương “Lào PDR.Com đi
ra từ lãng quên,” tác giả viết: “Bây giờ mới là giữa tháng
Chạp [2000] - vừa hết Mùa Mưa, chưa vào cao điểm Mùa Khô (khoảng
tháng 4 tháng 5) vậy mà khúc sông Mekong chảy qua Vạn Tượng như
đã khô cạn với ngổn ngang những cồn và bãi... Dòng chảy của con
sông Mekong nơi hạ lưu sẽ ra sao khi cả chuỗi 14 con đập bậc
thềm Vân Nam (khởi đầu 7 nay 14) được hoàn tất trong hai thập
nhiên [niên] đâu của thế kỷ 21.” Rất tiếc, vì thiếu dữ kiện
mực nước tại trạm quan trắc Vientiane (Vạn Tượng), nên “thông
tin” về mực nước của khúc sông Mekong chảy qua Vạn Tượng vào
giữa tháng 12 năm 2000 mà tác giả NTV cung cấp không thể được
kiểm chứng một cách trực tiếp. Tuy nhiên, thông tin nầy có vẻ
không trung thực nếu dựa trên dữ kiện mực nước tại trạm Chiang
Saen, cách trạm Vientiane khoảng 650 km về phía thượng lưu.
Trong tháng 12 năm 2000, mực nước thấp nhất tại trạm Chiang Saen
là 2,45 m, cao hơn mực nước thấp nhất trung bình từ năm 1960 đến
2000 là 2,25 m. Về phương diện thủy học, nếu sông Mekong “không
cạn dòng” ở Chiang Saen thì nó không thể nào “cạn dòng” ở Vạn
Tượng!
Trong
phần “Ô nhiễm trên những xa lộ nâu,” chương “Từ cầu Mỹ Thuận
2000 tới cây cầu Cần Thơ 2008,” tác giả viết: “Có một hiện
tượng khách quan là dòng chảy sông Cửu Long ngày càng yếu đi ở
nhiều khúc sông nhất là vào mùa khô, dòng chảy đo được ở Nam
Vang chỉ còn 1,600 m3/giây thay vì 2,000 m3/giây như trước đây,
khi xuống tới ÐBSCL chắc còn yếu hơn.” Tác giả không cho
biết dữ kiện nầy được trích dẫn từ đâu, nhưng theo tài liệu
Report, Analysis of Sub-Area 10V, Basin Development Plan
(Viet Nam National Mekong Committee. November 2003), thì
“Trong mùa khô, lưu lượng ở ÐBSCL rất thấp. Lưu lượng trung
bình hàng tháng tại Nam Vang từ tháng 2 đến tháng 4 là 2000-4000
m3/s. Trong những năm trung bình, lưu lượng đạt mức
thấp nhất 2380 m3/s vào tháng 4. Trong những năm
hạn, lưu lượng có thể thấp hơn 2000 m3/s.” Ngay
trong năm 1998, là một trong những năm hạn hán gay gắt nhất, lưu
lượng sông Mekong tại Tân Châu và Châu Ðốc cũng không xuống dưới
1815 m3/sec.
Có một
“sự cố” thủy học lịch sử khác hiện đang xảy ra ở ÐBSCL mà có lẽ
tác giả NTV chưa được biết: mực nước trong mùa khô tại Tân Châu
và Châu Ðốc tụt xuống thấp một cách “bất thường” kể từ năm 2001
cho đến nay! Dữ kiện đo đạc của MRC cho thấy mực nước thấp nhất
hàng năm dao động từ 0.00 đến -0.23 m tại Tân Châu (so với mực
nước thấp nhất trung bình 0.27 m trong khoảng 1979-2000) và
từ -0.11 đến -0.39 m tại Châu Ðốc (so với mực nước thấp
nhất trung bình 0.18 m trong khoảng 1979-2000). Nhưng sự kiện
nầy thì không thể cáo buộc là do các đập thủy điện ở Vân Nam gây
ra, vì mực nước thấp nhất hàng năm tại Chiang Saen vẫn duy trì
từ 0.88 đến 1.30 m, cao hơn mực nước thấp nhất trung bình 0.70 m
trong khoảng 1960-2000. HKHKTVN đang tiếp tục theo dõi và
nghiên cứu để tìm hiểu nguyên nhân.
Thay Lời Kết
Phải
khẳng định rằng, không một ai có thể phủ nhận nhiệt tình của tác
giả NTV với dòng sông Mekong qua MK:DSNM, nhưng những thông tin
và dữ kiện thủy học mà tác giả trình bày trong quyển sách thì
không đầy đủ, thiếu chính xác, và không đáng tin cậy. Những
thông tin và dữ kiện khác thì không được phối kiểm, nhưng làm
thế nào để sử dụng dòng sông “... như một thủy lộ chiến lược
vận chuyển dầu khí từ Trung Ðông [chỉ qua lãnh thổ Thái Lan]
tiếp tế cho các tỉnh vùng kỹ nghệ tây nam Trung Quốc...” mà
không phải qua eo biển Malacca?
Trong
MK:DSNM, chúng ta thấy nhiều chi tiết và lập luận giống như
những chi tiết và lập luận trong tài liệu River at risk: the
Mekong and the water politics of Southeast Asia (RAR) do
Tiến sĩ (TS) Milton Osborne soạn cho Viện Chánh sách Quốc tế
Lowy (Lowy Institute for International Policy) ở Australia vào
năm 2004. Ðây không phải là một ngạc nhiên, vì quyển CLCD-BÐDS
cũng có một số chi tiết, lập luận, và cách trình bày giống như
quyển The Mekong: turbulent past, uncertain future cũng
của TS Osborne xuất bản năm 2000.
Trong
RAR, TS Osborne trình bày “ưu tư” của ông về tình trạng “bất
thường” của mực nước sông Mekong ở Thái Lan và Lào trong tháng 3
năm 2004 dựa trên các “thông tin và dữ kiện” đăng tải trên báo
The Nation (Bangkok), Asia Times Online, News
Scientist, The Bangkok Post, The South China Morning Post, The
Economist, và The Guardian. Theo các thông tin và dữ kiện
nầy thì các con đập thủy điện ở Vân Nam là nguyên nhân chính của
tình trạng dao động lạ kỳ (bizarre) đó. Nhưng theo kết quả
nghiên cứu của MRC dựa trên dữ kiện mực nước và lượng mưa đo đạc
trong nhiều thập niên, được trình bày trong buổi họp của Ủy ban
Hỗn hợp MRC (MRC’s Joint Committee) tại Thành phố Hồ Chí Minh
ngày 26 tháng 3 năm 2004, thì “... tình hình hạn hán hiện nay
không có liên hệ trực tiếp đến đập Manwan hoặc các đập khác của
Trung Hoa” mà do “... thiếu mưa từ năm trước” (MRC
Press Release No. 03/04. 26 March 2004). Trong một bức thơ đề
ngày 9 tháng 1 năm 2007 gởi cho tờ The Bangkok Post để
lên tiếng về bài báo “Kế hoạch xây đập mới gây báo động (New dam
plan sparks warning)” ngày 25 tháng 12 năm 2006, TS Oliver
Cogels, Giám đốc Ðiều hành Văn phòng MRC viết: “Trong buổi
gặp gở với giới truyền thông Thái ngày 19 tháng 12 năm 2006, tôi
có nói rằng, trong khi các ảnh hưởng cục bộ phải luôn được cứu
xét và khắc phục thích đáng, ảnh hưởng chung ở hạ lưu của các
đập thủy điện trên sông Lan Thương ở Trung Hoa thì thường bị
phóng đại trong dư luận quần chúng. Thật vậy, tổng số lượng
nước có thể giữ lại đàng sau hai hồ chứa Manwan và Dachaoshan
thì nhỏ hơn ít nhất 30 lần lưu lượng sông Mekong chảy ra khỏi
Trung Hoa hàng năm. Và mặc dù dung tích hồ Xiaowan sẽ quan
trọng hơn, nó vẫn nhỏ hơn ít nhất ¼ tổng số lưu lượng hàng năm.
Hơn nữa, nếu các đập nầy không dùng cho thủy nông mà chỉ dùng
cho thủy điện, chúng không ‘tiêu thụ (consume)’ nước và có
khuynh hướng làm tăng lưu lượng của sông trong mùa khô và giãm
lưu lượng của sông trong mùa lũ. Chúng tôi có đủ bằng chứng
(evidence) để tin rằng các con đập của Trung Hoa không có trách
nhiệm đối với tình trạng hạn hán mà các quốc gia ở hạ lưu đang
đối mặt trong các năm vừa qua” (www.mrcmekong.org).
MK:DSNM, phương tiện chuyên chở “thông điệp riêng tư của tác
giả” - một giấc mộng lớn - để cảnh báo với mọi người rằng các
con đập thủy điện khổng lồ trên sông Lan Thương ở Trung Hoa đã,
đang,và sẽ làm cho sông Mekong “nghẽn mạch” ở Vân Nam và “cạn
dòng" ở Tân Châu và Châu Ðốc. Qua lăng kính thủy học, giấc mộng
lớn đó có lẽ chỉ là... một giấc mộng lỡ!
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |