|
Kỹ
nghệ thức ăn nhanh (fast food) đang là một kỹ nghệ phát triển
rất mạnh ở Hoa Kỳ. Hàng năm, có thêm trên dưới 10 ngàn tiệm mới
được tung ra khắp nơi trên toàn quốc, trong đó khoai nhúng trong
dầu là một món thông dụng của kỹ nghệ nầy. Khoai nhúng trong dầu
có nhiều tên gọi khác nhau như French Fries hay Fries ở Hoa Kỳ,
Chips ở Anh Quốc và Liên hiệp Anh. Trong lúc đó chữ Chips ở Bắc
Mỹ dùng để chỉ những lát khoai cắt thật mõng, và món nầy ở bên
Anh gọi là Crips. Quý vị nếu có đi du lịch qua Anh nhớ cẩn thận
khi mua hàng.
Khoai nhúng trong dầu là
những que khoai được cắt theo nhiều kích thước khác nhau do đó
mang những tên khác nhau tùy theo thương hiệu riêng của từng
công ty.
Lịch sử
của khoai nhúng trong dầu
Khoai nhúng trong dầu
thường được người Việt gọi là khoai chiên để chỉ các loại French
Fries. Thực ra khoai chiên nầy đã xuất hiện lần đầu tiên tại Bỉ
(Belgium) vào thế kỷ thứ 18, và tên French Fries có từ thế kỷ
19, do động từ “frire” của Pháp dịch qua tiếng Anh là “fry” và
có nghĩa là “deep-fat frying”. Nhưng tên gọi đúng nhất của món
nầy là “pommes de terre fritées” (deep-fried potatoes). Trong
lúc đó, chữ “French fried” dùng để chỉ những cách nấu như gà
chiên (fried-chicken), hành chiên (fried onion ring) v.v… chứ
không hẳn là món khoai chiên.
Khi thưởng thức món nầy
lần đầu tiên trong lúc viếng thăm Pháp Quốc, Tổng thống Hoa Kỳ
Thomas Jefferson (1801- 1809) có để lại thủ bút ghi lại tên của
món khoai chiên là “potatoes deep-fried while raw, in small
slices”.
Vào ngày 11 tháng 3 năm
2003, Cty nhà hàng Beaufort, North Carolina, nơi cung cấp thức
ăn cho các văn phòng của Hạ viện Hoa Kỳ đã đổi tên French Fries
thành tên Freedom Fries để phản đối thái độ của chính phủ Pháp
phê phán và kết án việc tấn công Iraq của Hoa Kỳ. Mãi cho đến
ngày 2 tháng 8, 2006, tên French Fries mới được gọi trở lại. Tuy
nhiên, kể từ đó, trong dân gian (Hoa Kỳ) danh từ French ghép
trong thức ăn được đổi lại là Freedom như Freedom Bread thay vì
bánh mì Pháp, hoặc Freedom kiss (nụ hôn tự do!) thay vì French
Kiss.
Theo thống kê vào năm
1960, một người Mỹ trung bình hàng năm ăn 81 cân Anh khoai nhúng
dầu làm bằng khoai tươi, và chỉ độ 4 cân Anh, khoai đông lạnh.
Nhưng đến năm 2004, họ chỉ còn ăn 49 cân khoai tươi và 34 cân
khoai đông lạnh.
Cách
làm khoai nhúng dầu (khoai chiên)
Tùy theo công ty thức ăn
nhanh, nguyên liệu khoai được chuẩn bị khác nhau như: Cty Mc
Donalds và Burger King dùng khoai đã cắt sẳn, để đông lạnh nhiều
ngày; cũng như một số cty nhỏ mới xuất hiện trong vòng 10 năm
trở lại dùng nguyên liệu khoai tươi trước khi nhúng vào chảo dầu
sôi như cty In-N-Out Burger.
Sau đó, khoai nhúng dầu
được thêm muối, bột bắp, bột tỏi, bột hành, tiêu bột, bột
paprika và nhiều mùi khác nhau để sau cùng cho ra một hượng vị
đặc biệt cho mỗi thương hiệu. Các phụ gia nầy cũng như cân lượng
của chúng trong khi pha trộn là một bí mật cho mỗi công ty. Tùy
theo hình dạng của khoai nhúng dầu, chúng có tên khác nhau như:
khoai cắt dầy (thick cut), khoai dây giày (shoestring), khoai
quắn (curly) v.v…
Tuy các phụ gia dự phần
vào việc gây ra hương vị đặc biệt cho từng công ty, nhưng yếu tố
dầu xử dụng trong việc nấu khoai là một yếu tố quyết định mang
lại hương vị đặc biệt cho khoai. Và cả hai yếu tố trên cũng mang
lại nguy cơ ảnh hưởng lên sức khỏe của người tiêu dùng, đặc biệt
là trẻ em ở lứa tuổi đi học vì đại đa số các thức ăn trưa đều có
French Fries hay Chips trong thực đơn của nhà trường.
Trước năm 1990, Cty Mc
Donalds dùng hổn hợp dầu gồm 7% dầu từ hột bông vải và 93% dầu
trích từ các mô mở của bò (beef tallow); do đó, trong French
Fries của Cty nầy chứa rất nhiều chất béo bảo hòa của bò, nhiều
hơn cả chất béo trong chính món hamburger bò.
Vì vậy, Mc Donalds bị chỉ
trích rất nhiều trên toàn quốc qua cung cách nấu khoai nhúng dầu
trên. Nhưng kể từ năm 1990 trở đi, Cty đã chuyển hướng và dùng
toàn dầu thực vật.
Nhưng vấn đề nảy sinh từ
đây là làm thế nào để giữ được hương vị của khoai giống như
trong thời gian dùng dầu mở bò! Do cần phải cố gắng giử đúng
hương vị như đã quảng cáo trước kia là “hương liệu tự nhiên”
(natural flavor), Mc Donalds phải thêm một số phụ gia khác nữa
để không làm thay đổi mùi vị khi thay thế dầu mở bò.
Chất phụ gia để thêm vào
cho mỗi cty là một bí mật, cho nên kỹ nghệ tạo mùi vị và màu
khác nhau là một kỹ nghệ có thương vụ cao trong kỹ nghệ thức ăn
nhanh. Cty International Flavors & Fragrances (IFF) ở New Jersey
là một cty sản xuất hương liệu lớn nhất thế giới. Do tính cách
bí mật của thương vu, cho nên chỉ có cấp lãnh đạo của công ty
mới có thể biết được tất cả giai đoạn để tổng hợp một mùi vị đặc
biệt do cty đặt hàng mà thôi. Cty IFF sản xuất đủ mọi hương liệu
cho thực phẩm, mang lại thương vụ cho Hoa Kỳ lên đến 1,4 tỷ Mỹ
kim hàng năm, gồm hương liệu cho bánh mì, khoai từ bắp, các loại
bánh ăn chơi (crackers), ngũ cốc ăn sáng (cereals), thậm chí
những mùi đặc biệt cho thức ăn chó, mèo nữa. IFF còn làm mùi đặc
biệt cho cà rem, các loại bánh ngọt cookies, đèn sáp (nến), kem
đánh răng, nước súc miệng, các dung dịch dùng cho vệ sinh cơ thể
như dầu gội đầu, thuốc giặt, thuốc rữa chén, thuốc khử mùi
(deodorant). Trong kỹ nghệ nước giải khát như nước trà, trái
cây, nước có hơi carbonic, sữa đậu nành, bia, các loại rượu cất
(liquors) từ ngũ cốc v.v… cũng có sự hiện diện của Cty IFF. Nên
nhớ, Cty IFF cũng là tác giả của một số thương hiệu nước hoa nổi
tiếng trên thế giới là Estée Lander’s Beautiful, Clinique’s
Happy, Lancôme’s Trésor, và Calvin Klein’s Eternity.
Trở lại các mùi cho thêm
vào trong French Fries, chính những mùi nầy sẽ tạo ra hương vị
đặc biệt cho từng thức ăn để có vị ngọt, vị chua, vị đắng, vị
mặn, và vị tạo ra mùi tự nhiên của các mô hữu cơ (astringent).
Và còn có một mùi đặc biệt nữa là mùi umami do các nghiên cứu
gia người Nhật khám phá ra. Mùi nầy cho chúng ta có cãm giác ăn
một thức ăn giàu protein và amino acid như nấm, sò, hến, và các
loại rong biển.
Ảnh
hưởng của mùi lên thói quen ăn uống
Hệ thống thần kinh khứu
giác (olfactive system) của con người bị kích thích khi có một
mùi lạ qua hương vị của thức ăn (hay nước hoa, hay mùi hương đặc
biệt của mỗi người). Các hương vị đó là do hơi bốc ra sau khi
chúng ta cho thức ăn vào miệng, và hương vị nầy dự phần đến 90%
trong mùi của thức ăn.
Khi chúng ta ăn uống, mút
cà rem, hay nhai kẹo, mùi hương thoát ra từ mỗi động tác. Cấu
tạo của các mùi nầy là những chất hữu cơ nhẹ, chúng bay ra từ
miệng, lên đến mũi, hay thoát ra từ đốc vọng của miệng (khi ợ
ra). Mùi nầy kích thích tế bào biểu bì thần kinh khứu giác có
tên là olfactive epithelium, nằm dưới mũi gần mắt chúng ta. Ngay
sau đó, óc sẽ tiếp nhận những tín hiệu phức tạp từ lưởi và mũi;
từ đó cho chúng ta biết có phải là mùi vị mà chúng ta muốn ăn
hay không?
Một món ăn được gọi là
thích khẩu thường thường được xác định từ những năm đầu trong
đời sống của con người. Từ đó, con người có thể xác định được cá
tính và cung cách hội nhập vào xã hội khi lớn lên, sau khi tiếp
nhận những hương vị khác nhau của thực phẩm ở những giai đoạn
khác của đời sống.
Thông thường trẻ con thích
ngọt và không chấp nhận các vị đắng. Lớn lên một chút, các em
thích thử thức ăn nóng và cay, tùy thuộc vào cha mẹ hay những
người cùng ăn trong gia đình. Bộ óc của mỗi người trong chúng ta
có những phản ứng hoàn toàn không giống nhau trước cùng một mùi.
Mùi thích hợp cho người nầy có thể gây dị ứng cho người khác và
ngược lại. Sự cảm nhận về mùi rất phức tạp do nhiều yếu tố tâm
lý và điều kiện bên ngoài. (Chính vì vậy mới có những mùi đặc
biệt tiết ra từ giống đực và giống cái, từ đó đưa đến việc phối
hợp thành vợ chồng, phải không các bạn?)
Có những mùi hương làm
chúng ta nhớ mãi, nhất là khi đến tuổi trưởng thành. Do đó,
trong kỹ nghệ thực phẩm như fast food, mùi hương cố định sẽ giữ
khách lại, vì, người trưởng hành, một khi đã trở thành thói
quen, họ sẽ khó thay đổi để đi qua các tiệm ăn khác. (Có thể
điều nầy đúng với kỹ nghệ ăn uống, nhưng không đúng với phái
nam. Vì bản chất của đa số phái nam là thích mùi hương lạ (?),
từ đó đưa đến “của” lạ chăng?)
Một thí dụ là, khi còn
nhỏ, các em được cha mẹ thường cho ăn Happy Meals của Mc
Donalds. Điều nầy có nghĩa là (không phải tuyệt đối) khi lớn
lên, các em nầy sẽ thường xuyên đi đến Mc Donalds. Trung bình
một người Mỹ ăn bốn túi khoai nhúng dầu trong một tuần lễ.
Cũng cần nên nói thêm là
kỹ nghệ tạo mùi là một công nghệ sinh hóa cao cấp. Sự tổng hợp
và cân lượng có thể được tính đến một phần tỷ của nhiều hóa chất
hợp lại. Thí dụ như mùi dâu (strawberry) là mùi tổng hợp của
trên 350 hóa chất xuất hiện cùng một lúc qua khứu giác của chúng
ta. Do đó, kỹ nghệ nầy cũng cần có những người ngữi mùi đặc biệt
gôi là flavorist để thử các mùi vừa tổng hợp ở phòng thí nghiệm
xem có giống như mùi “tự nhiên” không. Từ đó mới có những danh
xưng như “lỗ mũi một triệu (million –dollar nose) trong việc thử
mùi rươu chát.
Tóm lại, chúng ta sẽ không
ngạc nhiên khi thấy gà Mc Nuggets của Mc Donalds có mùi bò, cũng
giống như sandwich gà của Wendy. Trong lúc đó mùi của ức gà của
Burger King lại có mùi khói tự nhiên (natural smoke flavor).
Ảnh
hưởng lên sức khỏe của thức ăn nhanh
Như đã nói ở phần trên,
việc chuẩn bị và nấu nướng những thức ăn trong các nhà hàng ăn
nhanh hoàn toàn khác hẳn với cung cách nấu nướng của một nhà
hàng thông thường. Nguyên liệu nấu nướng có thể là những nguyên
liệu có thể đã được trử trong phòng lạnh từ nhiều tháng trước
đó. Việc pha chế đòi hỏi phải có thêm các phụ gia hay hương liệu
phức tạp. Do đó, dù muốn dù không, một khi tiêu thụ những thức
ăn nầy thường xuyên trong một thời gian dài, sức khỏe của người
tiêu dùng có thể bị ảnh hưởng trong một thời gian dài sau đó.
Đối với khoai chiên, có
chứa nhiều chất béo bảo hòa dưới dạng “trans” sẽ làm tăng nguy
cơ của các bịnh về tim mạch nhiều lần hơn so với những người ít
ăn fast food. Bác sĩ Walter Willert, Đại học Harward đã ước
lượng hiện tượng ăn thức ăn fast food là nguyên nhân của trên 30
ngàn trẻ em chết thiếu tháng (premature death) hàng năm.
Dĩ nhiên, một số thức ăn
chơi khác cũng chứa chất béo bảo hòa như khoai lát mõng, các
loại bánh nướng (cookies), nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu cùng
đưa đến một kết luận đồng thuận là khoai tây nhúng dầu đã chuyển
tải lượng chất béo bảo hòa vào cơ thể nhiều nhất so với các thức
ăn khác.
Vào cuối tháng sáu, 2002,
Cơ quan Y tế Thế giới (WHO) đã triệu tật một phiên họp khẩn cấp
để xem lại mức ảnh hưởng lên sức khỏe của những loại thức ăn
nhanh như khoai tây nhúng dầu, khoai lát mõng, và một số thức ăn
nhúng dầu hay nướng. Hai thức ăn đầu tiên là hai món ăn căn bản
trong thực đơn của các em học sinh tiểu học. Theo các nhà dinh
dưởng, thức ăn trên cung cấp rất nhiều chất béo nhưng không tạo
ra năng lượng cho cơ thể (calories).
Dường như ai cũng thông
hiểu những điều kể trên, nhưng câu chuyện ăn uống cũng giống như
“câu chuyện thường ngày ở huyện”, nghĩa là, biết để mà biết,
nhưng vẫn tiếp tục ăn và cho con cái ăn như thường lệ vì đở mất
thì giờ nấu nướng. Trong các học khu trường học chẳng hạn, nhà
trường vẫn tiếp tục để nhà thầu cung cấp thức ăn chẳng những
không bổ dưỡng mà còn độc hại cho trẻ em.
Cũng như hầu như mọi người
đều biết, dầu trong khi nấu sôi, một số phân tử dầu đã biến thể
và chuyển hóa thành hóa chất acrylamide, một hóa chất đã được
EPA chứng minh là nguyên nhân gây nguy hại cho chuổi DNA, ảnh
hưởng lên sự sinh sản và nguy cơ gây ung thư. Chất nầy hoàn toàn
bị cấm hiện diện trong nước uống, nhưng Cơ quan Quản lý Thực
phẩm và Dược phẩm (FDA) vẫn không đưa ra giới hạn nồng độ của
hóa chất trên trong thực phẩm. Theo nhiều kết quả nghiên cứu,
acrylamide hiện diện trong khoai chiên có hàm lượng cao gấp 500
lần hơn định mức cho phép của hóa chất nầy có trong nước uống.
Theo thống kê, 30% trên
tổng số bịnh ung thư là kết quả của thói quen ăn uống hàng ngày.
Có thể acrylamide là tác nhân chính của những chứng bịnh ung thư
nầy. Cũng tại hội nghị khẩn cấp của LHQ vừa nêu trên, các nhà
nghiên cứu của phái đoàn Thụy Điển, Na Uy, Anh, Đức, và Hoa Kỳ
đều đưa ra những nhật xét tương tự. Hội đồng cũng khuyến cáo
rằng các nhà khoa học cần nghiên cứu thêm về nguy cơ của hóa
chất acrylamide, một chuyển hóa chất trong dầu nấu sôi, cũng như
nghiên cứu thâm sâu và định lượng mầm móng ung thư của hóa chất
đó.
Đồng thời, Hội đồng WHO
cũng khuyến cáo các nhà sản xuất thức ăn nhanh, đặc biệt là các
thực phẩm được chế biến từ phương pháp nhúng trong dầu sôi cần
phải cải tổ quy trình sản xuất để hạn chế sự hiện diện của
acrylamide trong thức ăn.
Qua những thông tin vưà kể
trên, người viết hy vọng từ đó, mỗi người trong chúng ta tự rút
ra được kết luận trong việc ăn uống cho chính mình và những
người thân trong gia đình, ngõ hầu có được một cơ thể không
vướng bận những bịnh thường xảy ra cho tuổi già như cholesterol
cao, áp huyết cao, lượng đường trong máu cao có thể đưa đến
những chứng bịnh làm cho chúng ta dở sống dở chết trong những
ngày cuối của cuộc đời, và nhất là không làm phiền con cháu
trong thời gian còn lại nầy.
Mai Thanh
Truyết
West
Covina, 5/2007
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |