|
Đứng
trước tình trạng gia tăng dân số ngày càng nhanh, mức tăng
trưởng phát triển xã hội cũng như tiến trình đô thị hóa tiếp tục
được đẩy mạnh mau chóng, một vấn đề lớn của Việt Nam hiện tại là
giải quyết tình trạng ối đọng nguồn phế thải rắn, trong đó rác
sinh hoạt gia cư chiếm tuyệt đại đa số. Tc KH&MT kỳ nầy trở lại
với TS MTT về vấn đề cấp bách nầy.
Hỏi
1: Trước hết xin TS cho thính giả của Đài ACTD biết tổng quát về
tình trạng phế thải rắn ở Việt Nam hiện tại.
Đáp
1: Thưa Anh. Theo ước tính trung bình, trong hiện tại một người
dân ở các thành phố phát thải từ 0,9 đến 1,0 Kg rác/ngày, và
người dân ở các đô thị nhỏ và nông thôn phát thải tử 0,5 đến
0,65 Kg rác/ngày. Tổng lượng chất thải sinh hoạt thải hồi vào
môi trường được ước tính là khoảng 8 triệu tấn/năm. Tại các đô
thị hiện tại, quá trình đô thị hoá, mức gia tăng dân số, và việc
đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ, công thêm khả năng
tiêu thụ của người dân ngày càng tăng, trong lúc đó, công nghệ
xây dựng bãi rác, cũng như quá trình xử lý nước rỉ không theo
kịp đà gia tăng lượng rác gia cư. Vì vậy tình trạng môi trường
xuống cấp ở các thành phố lớn rất nhanh ở khắp nơi, đặc biệt ở
những thành phố lớn như TpHCM, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng.
Hỏi
2: Thưa ông, hiện nay Việt Nam đã dùng phương pháp hay kỹ thuật
nào để giải quyết rác gia cư cũng như tiến trình xử lý nước rỉ
của rác.
Đáp
2: Hai công nghệ được xử dụng rộng rãi ở Việt Nam hiện tại là
chôn lấp rác, và biến rác hữu cơ đã được phân loại trong rác
thành phân compost. Nước rỉ của rác được tập trung vào các nhà
máy xử lý dựa theo phương pháp vi sinh. Qua kinh nghiệm của
những quốc gia tiên tiến, việc chôn rác phải được tiến hành qua
những lớp plastic phía bên dưới đáy bãi rác, để sau khi chôn lấp
rác, nước rỉ không thoát ra được và không thấm vào mạch nước
ngầm phía bên dưới. Nhưng điều nầy không xảy ra ở Việt Nam.
Có
thể nói, tuyệt đại đa số các bãi rác hiện hữu vẫn được giải
quyết theo thói quen của người dân tự ngàn xưa là đổ rác ra bất
kỳ khu đất trống nào, hay đổ ra sông rạch, ao hồ hay khá hơn hết
là chôn lấp và phủ lên mặt rác một lớp đất mõng ở các thành phố
lớn hiện tại.
Theo
thống kê năm 2005, cả nước có 97 địa điểm làm bãi rác chôn lấp
đất lên trên. Các bãi nầy được xây dựng qua nguồn vốn ODA, do đó
được xem như tương đối phù hợp tiêu chuẩn an tòan của công nghệ
chôn rác. Tuy nhiên chỉ có 17 điạ điểm có bãi rác an toàn, nhưng
công nghệ xử lý nước rỉ của rác vẫn chưa hoàn thiện. Nước rỉ vẫn
tiếp tục làm tăng thêm mức độ ô nhiễm cho tòan vùng. Còn các
„nhà máy“ phân loại rác hữu cơ để chế biến thành phân compost
chỉ chiếm 7% trên tổng số bãi rác hiện có mà thôi.
Hỏi
3: Ông vừa nói việc xây dựng qua nguồn vốn ODA tuy phù hợp với
tiêu chuẩn chôn rác, nhưng sao tiến độ thi công chậm chạp như
thế thưa ông?
Đáp
3: Đầu tư vào công nghệ xây dựng bãi rác đúng tiêu chuẩn và hợp
vệ sinh, cũng như thiết lập hệ thống xử lý nước rỉ là một chính
sách quốc gia, chứ không phải là một quyết định của địa phương
như hiện tại. Vì đây là một vấn nạn môi trường chung cho cả
nước. Việt Nam đã có nhiều nguồn vốn ODA từ nước ngoài cho công
việc nầy. Tuy nhiên có những trường hợp vừa khách quan vừa chủ
quan khiến cho việc xử dụng nguồn vốn ODA gặp nhiều khó khăn và
thử thách như:
- Việc quản lý và thi hành rất chậm chạp qua thủ tục
giấy tờ;
- Nhân sự không đủ chuyên môn và kinh nghiệm để giải
quyết xuyên suốt việc thiết lập một đồ án phù hợp với quy trình
kỹ thuật và tài chính;
Hậu
quả của hai trở ngại trên là có nhiều thay đổi trong tiến trình
xây dựng nhà máy như: 1/ thay đổi thiết bị như đã ghi trong dự
án vì thiết bị không phù hợp với điều kiện Việt Nam; 2/ vì đây
là nguồn vốn do nhà nước quản lý, cho nên thủ tục hành chánh
chậm chạp cũng đã tiếp tay không ít trong việc làm trì trệ các
dự án.
Hỏi
4: Với số lượng khoảng 8 triệu tấn rác phát thải hàng năm ở các
đô thị lớn và tiến độ thiết lập bãi rác không theo kịp với đà
gia tăng của rác như hiện nay, ông nhận thấy nguy cơ ô nhiễm môi
trường như thế nào trong tình trạng hiện tại?
Đáp
4: Thưa Anh. Người dân sống ở thành phố chiếm gần 1/4 dân số,
nhưng nhịp độ phát thải rác gia cư ở những nơi nầy rất cao,
tương đương với phân nủa lượng rác toàn quốc. Thêm nữa, tuy cùng
mang tên là rác sinh hoạt chung, nhưng rác phát thải từ người
dân thành phố lớn mang tính độc hại cao, so với rác từ các đô
thị nhỏ hay nông thôn. Vì dân thành phố ngoài số lượng rác hữu
cơ trong công việc chế biến thức ăn hàng ngày, trong rác còn có
một số vật dụng phế thải như kim loại, pin cũ, các thùng chứa
dung môi hữu cơ, các vật dụng không hay khó bị phân hủy như túi
nylon, nhựa không tái sinh, lon, hộp, kính bể v. v.. . Do đó
việc xử lý số lượng rác nầy đòi hỏi một quy trình xử lý cao hơn
cũng như hệ thống xử lý nước rỉ phải hoàn chỉnh hơn. Cũng can
nói thêm là, ngoài rác sinh hoạt, ở các thành phố lớn còn có
thêm phế thải rắn công nghệ và phế thải y tế. Hai loại phế thải
sau nầy cũng được mang đổ vào các bãi rác gia cư vì những cơ sở
sản xuất công nghiệp và bịnh viện không có điều kiện xây dựng
nhà máy xử lý hay lò đốt. Vì vậy nguy cơ ô nhiễm và truyền bịnh
ở các bãi rác nầy càng cao hơn nữa.
Tóm
lại, hầu hết những bãi rác ỡ Việt Nam không được xử lý một cách
an tòan và hợp vệ sinh. Một bãi rác điển hình hiện tại vẫn
thường thấy khắp nơi vẫn là một bãi rác lộ thiên, không được xây
dựng đúng quy cách. Do đó mỗi bãi rác là một trung tâm của những
bịnh truyền nhiễm. Và vì bãi rác nằm gần khu dân cư, cho nên
người dân sống ở những vùng nầy phải chịu một áp lực lớn qua
việc môi trường bị ô nhiễm như: ô nhiễm không khí, chịu đựng mùi
hôi thúi thường xuyên, ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm ảnh
hưởng lên việc sản xuất nông nghiệp. Sau cùng nơi đây cũng là
nguồn ruồi muỗi, chuột bọ và có thể trở thành một ổ dịch bất cứ
lúc nào.
Hỏi
5: Đứng trước một vấn nạn quốc gia lớn như vậy, VN gần đây có
những quyết định nào tích cực để nhằm giải quyết vấn đề nầy
không thưa ông?
Đáp
5: Thưa Anh. Ngay sau khi Đại hội X kết thúc, một số vấn đề quốc
gia được đem bàn ra ngoài dư luận rộng rãi qua báo chí và truyền
thanh như vấn đề y tế, giáo dục và môi trường trong đó những nơi
bị ô nhiễm trầm trọng được phơi bày trên báo chí nhiều nhất, nào
là „làng arsen Hồ Tây“, „thị trấn ung thư Minh Đức“, ô nhiễm
sông Thị Vải, Đồng Nai, Sài Gòn, Sông Nhuệ, Sông Đáy v.v... Lãnh
đạo VN qua ông Triệu Văn Bé, Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi
trường Báo Lao Động phỏng vấn ngày 27/7/2006 có phát biểu như
sau: „Có thể nhận định ô nhiễm môi trường là vấn đề „nóng“ trên
phạm vi toàn quốc, việc cải thiện môi trường không thể chậm dù
là một phút“. Tuy nhiên, ngoài phát biểu trên, chúng tôi hoàn
toàn không thấy ô. Thứ trưởng đưa ra đề nghị giải quyết nào cả
ngoài việc hy vọng Bộ sẽ cố gắng đẩy mạnh các cơ quan chức năng
và chính quyền địa phương làm việc cật lực hơn nữa. Hiện tại,
dân chúng ở thành phố bắt đầu đứng lên phản đối , như tại Đà
Nẵng vào cuối tháng 7 vừa qua, dân chúng đổ xô ra chận đường
không cho xe rác đi vào bãi rác chính của thành phố làm ứ động
xe cộ suốt một ngày tại đây. Tình trạng tương tự đã xảy ra ở bãi
ráx Gò Cát vào cuối tháng ngày 23/8, dân chúng đã ngăn chặn
không cho hàng trăm xe chở rác đi vào bãi rác.
Hỏi
6: Trước viễn tượng về mức độ đô thị hóa qua việc gia tăng dân
số và sự tăng trưởng phát triển xã hội, từ đó số lượng rác phát
thải ngày càng cao, TS có tiên liệu được giải pháp nào khả dĩ có
thể giải quyết tình trạng gần như bế tắc trên hay không?
Đáp
6: Thưa Anh. Với đà gia tăng dân số hiện tại, ước tính đến năm
2010, số dân sống ở đô thị sẽ tăng 10%, nhưng lượng rác sinh
hoạt phát thải ra sẽ tăng 60%, do số dân tăng, và do mức sống
của người dân ngày càng cao, tiêu thụ càng nhiều. Với tiền độ
xây dựng bãi rác đúng tiêu chuẩn và hợp vệ sinh như hiện tại,
chắc chắn nguy cơ ô nhiễm môi trường sẽ không tránh khỏi và sẽ
không còn biện pháp cứu chữa nào khác. Số lượng ruồi muỗi sinh
sản từ các bãi rác sẽ che lấp bầu khí quyển; nạn dịch bịnh sẽ
xảy ra thường xuyên hơn và ngày càng trầm trọng hơn vì cơ quan y
tế trong nước sẽ không còn đủ khả năng và nhân sự để phòng chống
nữa.
Do
đó, một phương cách giải quyết vấn đề để tháo gở những trì trệ
trên trong việc xử dụng nguồn vốn ODA là đầu tư nguồn vốn nầy
vào công nghệ bãi rác và xử lý nước rỉ. Quan trọng hơn cả là cần
thay đổi não trạng „ù lì“, „chờ đợi cấp trên quyết định“ trong
cung cách giải quyết những vấn nạn môi trường trước mắt. Trong
lãnh vực xây dựng các bãi rác, tốt hơn hết là giao cho tư nhân.
Qua kinh nghiệm của Bãi rác Đông Thạnh năm 2002, thành phố đã
tiêu tốn 32 triệu Mỹ kim để xây dựng nhà máy xử lý nước rỉ sau
khi có nhiều tai nạn bể bờ hồ chứa xảy ra nơi đây. Nhưng nhà máy
chỉ hoạt động chưa đầy một tháng rồi phải đóng cửa vĩnh viễn vì
xây dựng không đúng quy cách. Trong lúc đó công nghệ xây dựng
bãi rác trong năm qua đã được một số công ty tư nhân đãm trách
như: 1/ Cty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Xây dựng Môi trường (ICEC)
đang tiến hành xây dựng nhà máy xử lý Hà Nam; 2/ Cty Cổ phần
Công nghệ Môi trường Xanh xây dựng nhà máy xử lý Sơn Tây. Tiến
độ thi công ở hai nơi đấy rất nhanh và sắp sữa đi vào hoàn tất.
Việc
đem tư nhân góp phần tham gia vào dịch vụ bảo vệ môi trường
chung là một việc làm thích hợp với điều kiện Việt Nam hiện tại,
it ra là làm tăng tiến độ thi công công trình, cũng như tránh
được những vấn nạn đáng tiếc như nhà máy không hoạt động được
ngay sau khi nghiệm thu vì những nguyên nhân căn bản như việc
làm tắc trách của người quản lý công trình và cơ quan có trách
nhiệm, nhất là nạn tham ô đã phá vỡ biết bao công trình có tính
cách quốc gia trong hàng chục năm qua.
Làm
được việc trên, Việt Nam có thể hạn chế hay ngăn chặn được phần
nào nguy cơ môi trường ô nhiễm thêm trong những năm sắp đến.
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |