|
Vào đầu năm 2006,
Diễn đàn Kinh tế Thế giới diễn ra taị Davos, Thụy Sĩ ngày 27-1, một tam giác
quyền lực kinh tế được nhắc đến ở Á Châu là Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ. Và
cũng tại đây, Ấn Độ lại một lần nữa nổi bật lên với khẩu hiệu: „Ấn Độ tuyệt vời:
Biểu tượng của thế giới phát triển thị trường tự do nhanh nhất trong năm“.
Hơn nữa, gần đây
nhất, lần đầu tiên một tổng thống Hoa Kỳ đến viếng quốc gia nầy vào tháng
3/2006. TT Bush còn ký kết với chính phủ Ấn một thỏa ước về nguyên tử, điều nầy
là một ngoại lệ cho HK, vì Ấn Độ chưa hề ký tên vào Hội đồng nguyên tử năng thế
giới.
Hai sự kiện nổi bật
trên cho thấy rằng kể từ nay, Ấn Độ đã thực sự bước vào và dự phần vào cuộc chơi
kinh tế toàn cầu. Làm được như thế là vì Ấn Độ đã đáp ứng được yêu cầu của thế
giới qua lời kêu gọi của Ộ. Kofi Annan, TTK LHQ, trong Diễn đàn Kinh tế thế giới
năm nay là: „Cần phải có một não trạng mới, trong đó những liên hệ quốc tế không
khác gì hơn là liên hệ giữa các quốc gia và sự hợp tác thương mại tòan cầu“.
Để tìm hiểu tại sao
một quốc gia đông dân thứ nhì trên thế giới lại được thế giới nhìn như là một
cường quốc kinh tế qua quá trình phát triển quốc gia cũng như những tiềm lực
cùng những điểm mạnh của chính sách triển kinh tế của quốc gia nầy.
Đất nước Ấn Độ
Theo thống kê vào
tháng 7/2005, dân số Ấn Độ được ước tính khoảng 1.080.264.388. Người dân có tuổi
trung bình là 24,66 năm. Mức độ gia tăng dân số 1,4% (2005). Tỷ lệ giới tính là
1,06 Đàn ông/1,00 Đàn bà. Đời sống trung bình cho đàn ông là 63,57 năm và 65,16
năm cho đàn bà. Mức lạm phát hàng năm trung bình từ 3 đến 5 %. Ước tính tăng
trưởng kinh tế trong năm 2006 là 7,5%. Về tôn giáo, Ấn Độ hiện có các tôn giáo
chính sau đây: Hindu 80,5%, Thiên chúa giáo 2,3%, Sikh 1,9% và 2,0% còn lại cho
những tôn giáo khác.
Về ngôn ngữ, tiếng
Anh là ngôn ngữ chính trong mọi giao thiệp về chính trị và kinh tế. Hindi là
ngôn ngữ quốc gia chiếm khoảng 30% dân số. Ngòai ra còn có 14 ngôn ngữ chính
thức khác như Bengali, Tamil, Malayalam, Kashmiri, Sanskrit v. v..
Ấn Độ có khoảng 60%
dân số biết đọc và biết viết từ 15 tuổi trở lên.
Cung cách phát triển
quốc gia
Về định mức sự phát
triển quốc gia cho đến nay vẫn còn căn cứ vào thuyết Tam khu của Colin Clark,
trong đó gồm khu nông nghiệp, khu công nghiệp, và khu dịch vụ. Từ đó qua sự phát
triển và qua từng giai đọan, chỉ số phát triển của một quốc gia được tính tóan
qua từng khu vực.
Tiến trình phát triển
quốc gia của Ấn Độ được ghi nhận vào các giai đoạn sau đây: 1- Ấn Độ là một quốc
gia lấy nông nghiệp làm chính; 2- Một khi mức sản xuất nông nghiệp đáp ứng được
cán cân cung cầu trong nước, quốc gia nầy đẩy mạnh công cuộc sản xuất công
nghiệp; 3- Và sau giai đoạn công nghiệp, dịch vụ cao cấp sẽ là trọng tâm trong
phát triển. Do đó, đối với một quốc gia một khi tỷ lệ công nghiệp và dịch vụ
càng cao, sự phát triển của quốc gia càng tăng thêm mức bền vững và giảm thiểu
được nguy cơ khủng hoảng.
Ấn Độ đã bắt đầu mở
cửa từ năm 1990 sau một giai đoạn dài dưới chính sách bế quan tỏa cảng và chịu
sự quản lý không hiệu năng dưới các chính phủ chạy theo chính sách và đường lối
xã hôị chủ nghĩa. Trong suốt 15 năm qua, nhờ sự thay đổi đường lối kinh tế, Án
Độ đã đạt được những thành quả sau đây:
- Lợi tức
đầu người tăng từ $280 năm 1980 lên $650 cho năm 2005;
- Tỷ lệ lao
động: 55% cho nông nghiệp, 20% cho kỹ nghệ, và 25% cho dịch vụ cao cấp theo
thống kê 2003.
Nhìn chung, mức tăng
trưởng của quốc gia nầy trong 10 năm trở lại đây đã đứng vào những quốc gia có
tăng trưởng nhanh trong vùng Á Châu.
Về dân số, Ấn Độ vẫn
không kềm hãm được mức gia tăng nầy với mức sinh sản 1,4% (2005). Do đó, nếu
không có biện pháp kềm hãm sự gia tăng dân số, theo ước tính vào năm 2025, Ấn Độ
sẽ qua mặt TQ với 1,5 tỷ so vớ 1,4 tỷ.
Những bước phát triển
của Ấn Độ
Từ những năm đầu của
thập niên 80, AĐ bắt đầu gữi sinh viên ồ ạt qua các nước Tây phương đặc biệt là
Anh Quốc và Hoa Kỳ, và có thể nói cho đến ngày nay, AĐ đã dành địa vị độc tôn ở
Á Châu về việc cung cấp dịch vụ và công nhân chuyên nghiệp cho Tây phương. Thung
lũng về điện tử ở vùng San Jose (California) từ năm 2001 trở đi bị khốn đốn vì
hàng trăm ngàn chuyên viên cao cấp trong ngành nầy đã đồng loạt trở về AĐ. Dĩ
nhiên, AĐ trở thành trung tâm cung cấp dịch vụ điện toán cho toàn cầu. Theo dự
tính cho đến năm 2008, AĐ có khả năng cung cấp 4 triệu công nhân loại nầy cho
thế giới. Và chính mức tăng trưởng của AĐ đã góp phần lớn vào dịch vụ điện toán
trên.
Trước khi bắt đầu mở
cửa năm 1990, AĐ vẫn còn đeo đuổi chính sách „tự quản“ „tự túc“, nghĩa là cố
gắng tạo đủ sản phẩm vật chất để xử dụng cho nội địa. Do chính sách phát triển
khép kín trên đã làm chùng bước mọi ý muốn đầu tư của những nhà đầu tư ngoại
quốc. Do đó công nghiệp sản xuất của AĐ không thể nào phát triển và theo kịp đà
tiến bộ chung trên thế giới.
Mặc dù AĐ có nhiều
lợi thế khi chuyển sinh viên và chuyên viên ra ngoại quốc vì họ thông thạo Anh
ngữ, nhưng AĐ chỉ đẩy mạnh vai trò dịch vụ và tin học mà không phát triển các
công kỹ nghệ sản xuất các mặt hàng gia dụng. Trong lúc đó nông nghiệp vẫn giữ
vai trò quan trọng trong cán cân sản xuất. Điều nầy tạo ra hai giai cấp bất bình
đẳng trong xã hội: AĐ có 7% dân số có trình độ Tiến sĩ và 42% dân số không biết
chữ.
Nhưng từ khi có chính
sách đổi mới, mọi sự bắt đầu thay đổi, luật đầu tư giản dị hơn, chính sách thuế
quan có phần dễ dãi và giảm bớt phiền toái cho thương nhân ngoại quốc...và đó là
hai điều kiện đầu tiên để thu hút đầu tư. Và cũng từ đó nạn chợ đen và tham
nhũng cũng giảm dần theo mức độ du nhập của ngoại quốc vào chính quốc gia nầy.
Và cũng từ mốc thời gian trên, các công ty đa quốc gia ồ ạt chiếm lĩnh thị
trường và hôm nay, thủ phủ Karnataka ở phía Nam AĐ trở thành một thung lũng
silicon mới của Á Châu.
Đồng thời với đầu tư
ngoại quốc, Ấn Độ đã đẩy mạnh cuộc cách mạng xanh trong kỹ nghệ sản xuất, với mục
đích làm giảm thiểu việc ô nhiễm môi trường, và sau nữa dần dần đẩy lui nạn đói
nghèo qua chính sách mở cửa tiếp cận với hầu hết các quốc gia trên thế giới để
áp dụng việc đẩy mạnh công nghệ tiên tiến cho nhu cầu trong nước. Đây là một
chính sách thật sự mềm dẽo, và là một bài học cho những quốc gia còn mang nhiều
định kiến về ý thức hệ chính trị trong giao thương kinh tế và phát triển.
Kết quả, sau 15 năm
đổi mới Ấn Độ có mức dự trử ngoại tệ nặng cho năm 2003 là 100 tỷ Mỹ kim. Tuy nhiên
với mức lợi tức đầu người cho năm 2005 là $650 và mãi lực tính theo đầu người là
$2.900/năm, 30% dân số AĐ vẫn phải chịu sống dưới mức đói nghèo tuyệt đối theo
định nghĩa của LHQ là $1/ngày/người. Do đó, Ấn Độ cần phải đẩy mạnh hơn nữa về kỹ
nghệ sản xuất và dịch vụ để thu hút lực lượng lao động cho nông nghiệp hiện đang
chiếm tỷ lệ 55% trên cả nước.
Nhìn chung, trong
thời gian đầu khi mở cửa, Ấn Độ chú trọng vào việc tập trung đào tạo chất xám „cao
cấp“ mà không chú trọng nhiều việc phát triển công nghệ sản xuất và dịch vụ ở hạ
tầng cơ sở cho nên sự phát triển không cân đối và đạt được chỉ tiêu như ý muốn
so với nội lực thực sự của Ấn Độ . Và phát triển bắt đầu tăng nhanh khi Ấn Độ đã chuyển
hướng và đẩy mạnh dịch vụ cùng đầu tư ngoại quốc.
Những nét chuyển biến
mới của Ấn Độ trong phát triển
Không giống như các
quốc gia đang phát triển khác là tập trung vào phát triển nông nghiệp và chăn
nuôi thủy sản để xuất cảng, cũng như quy nạp đầu tư ngoại quốc và quốc gia vào
những công nghệ tiêu dùng không cần kỷ năng cao của người công nhân, Ấn Độ đã
chọn một cung cách phát triển đặc biệt là nâng cao trình độ chuyên môn của người
dân và chọn những ngành phát triển cao cấp như tin học và những ứng dụng của
mạng lưới tòan cầu làm mũi nhọn để phát triển quốc gia.
Làm như thế Ấn Độ
chấp nhận sự phát triển chậm lúc ban đầu và phải tiêu tốn nhiều ngân sách và
nhân lực trong lúc đầu tư. Đối với ngành công nghiệp thủy sản và nông nghiệp, Ấn
Độ chỉ phát triển để thoả mãn nhu cầu trong nước, chứ không đặt trọng tâm vào
sản xuất cho xuất cảng.
Chính nhờ suy nghĩ
chuyển hướng trên, Ấn Độ đã đạt được những thành quả cao sau 15 năm cải cách
đồng thời cân bằng được mức phát triển quốc gia và việc bảo vệ môi trường. Ấn Độ
đã không biến quốc gia mình thành bãi rác của thế giới như Pakistan TQ, và Việt
Nam. Trong việc khai thác phát triển hóa chất kỹ nghệ và dược phẩm, Ấn Độ đã có
nhiều cố gắng trong quản lý và xử lý ô nhiễm. Có thể nói ngày hôm nay Ấn Độ đã
đứng ngang tầm với những quốc gia tiến tiến trên thế giới về công nghệ dược phẩm
và phát triển những công nghệ xanh và sạch.
Có thể nói, Ấn Độ là
một quốc gia duy nhất thu hút chất xám từ Hoa Kỳ và các quốc gia trên thế giới.
Ngoại quốc bắt đầu đầu tư tài sản và nhân lực vào Ấn Độ ngày càng nhiều thêm. Lý
do là họ tìm thấy nơi đất nước nầy có một thị trường tự do, dân chủ, cũng như có
một sự phát triển bền vững, cộng thêm nguồn nhân lực dồi dào, có kỷ luật và kỷ
năng cao. Chính nhận định trên đây có thể được tóm tắt qua phát biểu của TS
Yarnell, Phu tá Chủ bút của tuần báo lớn nhất thế giới về Hoá học là Chemical &
Engineering News: „ Ấn Độ đã có một lực lượng lao động rất cao, do đó hiện tại
Ấn Độ có nhiều khả năng thách thức Hoa Kỳ và LH Âu Châu trong lãnh vực sản xuất
nguyên liệu cho dược phẩm, cùng những hoá chất tổng hợp cao cấp khác trong kỹ
nghệ. Hiện tại, Ấn Độ còn có khả năng sáng tạo những sáng kiến trong lãnh vực
khám phá nguồn dược dược phẩm mới, về công nghệ sinh học, cùng các khoa học siêu
vi nano“.
Thêm một điểm đặc
biệt nữa trong lãnh vực đại học và nghiên cứu, giáo dục Ấn Độ tạo thêm điều kiện
dễ dàng cho nghiên cứu bằng cách tăng thêm ngân khoản nghiên cứu và phát triển
(R&D) trong học đường, cũng như dễ dàng cung cấp học bổng cho những sinh viên ưu
tú đi tu nghiệp ở các quốc gia tiến bộ về khoa học.
Ấn Độ ngày nay đã
hòan tòan phá vở cung cách „bế quan tỏa cảng“ trong những năm trước 1990, những
năm xã hội Ấn phải còn chịu ảnh hưởng nhiều áp lực như não trạng phong kiến và
nạn thư lại.
Tiến bộ và phát triển
xã hội của Ấn Độ đang đi theo con đường tiệm tiến, chậm nhưng chắc chắn và bền
vững khác hẳn với sự phát triển của Việt Nam và TQ. Trong lúc Bắc Kinh và Việt
Nam trải thảm đỏ để mới thế giới đầu tư thì Ấn Độ không làm như thế nhưng những
nhà đầu tư vẫn muốn bước vào. Và khi những nhà đầu tư Ấn Độ đủ sức về nhân sự và
tài chính họ sẽ thay thế những nhà đầu tư ngoại quốc để phát triển đất nước qua
bàn tay của người bản xứ. Do đó Ấn Độ có khu vực tư nhân rất mạnh và vững vàng,
Ấn Độ có một hệ thống tài chính tương đối dồi dào và minh bạch cũng như một nền
pháp trị rõ rệt và cứng rắn, hòan tòan traí ngược hẳn với mô hình phát triển của
TQ và Việt Nam.
Một thí dụ điển hình
là qua giải thưởng Derming của Nhật Bản về các sáng kiến quản trị danh tiếng
trên thế giới. Từ 4 năm qua, giải nầy đều lọt về các công ty Ấn Độ, hơn cả số
giải dành cho các công ty nhật Bản.
Một thí dụ thứ hai về
phát triển bền vững là công nghiệp về thẻ tín dụng tăng 35% hàng năm và mức tiêu
thụ cá nhân chiếm 67% tổng sản lượng quốc gia, trong lúc đó con số nầy của TQ là
42%. Trên thế giới trong lãnh vực nầy, Ấn Độ chỉ đứng sau Hoa Kỳ với 70% mà
thôi. Mức tiêu thụ cao chứng tỏ người dân tin tưởng vào chính sách phát triển
quốc gia của chính quyền. Trái ngược lại, người dân Việt luôn luôn giữ và tiết
kiệm tài lực trong nhà, không dám tiêu xài vì mang tâm cảm sợ sệt, luôn đề phòng
sự bất ổn định của xã hội có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Điều nầy chứng tỏ rằng
dân chúng không có niềm tin nơi sự quản lý của nhà nước VN và do đó sẽ khó thúc
đẩy cho kinh tế tăng vọt được.
Trước tiến trình tòan
cầu hóa, Ấn Độ đang đi những bước chắn chắn là kiện tòan nền kinh tế, làm tăng
thêm tính hữu hiệu, tỏa rộng giao thương với các nước trên thế giới, và tăng
cường khả năng cạnh tranh bằng cách áp dụng công nghệ sạch, vừa xử dụng ít năng
lượng và giảm giá thành, đồng thời bảo vệ được môi trường sống chung quanh.
Ấn Độ thành công được
như thế vì đã biết gieo hạt giống „hiểu biết“ đúng cách và người dân tin tưởng
để tiếp thu hạt giống hiểu biết trên. Đó là sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa chính
quyền và dân chúng trong sự phát triển xã hội chung cho quốc gia.
Nói chung, câu châm
ngôn cho nhân loại trước tiến trình tòan cầu hóa ở thế kỷ 21 là: „Nhu cầu sản
phẩm và dịch vu cần phải có là phải đáp ứng được hai điều kiện: giảm thiểu năng
lượng và yêu cầu môi trường nhạy cảm“.
Dư kiến trong tương
lai của Ấn Độ theo tiên đoán của Golman Sachs trong 50 năm tới là Ấn Độ sẽ là
nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới. Chỉ trong 10 năm tới, Ấn Độ sẽ vượt
qua Ý, 15 năm nữa sẽ vướt qua Anh. Và đến năm 2040 Ấn Độ có thể sẽ là một lực
lượng kinh tế thứ ba chỉ sau Hoa Kỳ và TQ. Và vào năm 2050, tổng sản lượng của
Ấn Độ sẽ gấp 5 lần của Nhật Bản và mức lợi tức đầu người sẽ tăng gấp 35 lần so
với hiện tại.
Thay lời kết
Qua những phân tích
trên đây, chúng ta thấy quả thật Ấn Độ đã đi đúng đường mặc dù trong hiện tại,
Ấn Độ vẫn còn có hơn 300 triệu dân sống dưới mức nghèo đói là 1 Mỹ Kim/ngày.
Cũng như Ấn Độ cũng là nơi tập trung tới 40% số người nghèo trên thế giới, cũng
như số người bị nhiễm HIV là khoảng 6 triệu, và hàng năm có trên 300 ngàn người
chết vi hiểm họa nầy.
Tuy nhiên để bù lại,
Ấn Độ đã cho thế giới thấy một sự phát triển quốc gia bền vững trong vòng 15 năm
trở lại đây qua sự tăng trưởng đều đặn của giới trung lưu. Chính tỷ lệ của giới
trung lưu mới xác định thực sự mức tăng trưởng và phát triển của một quốc gia.
Hiện nay, giới trung lưu của Ấn Độ chiếm 30% trên tòan quốc so với 85% của Hoa
kỳ và ước tính chưa tới 10% của Việt Nam.
Trong 15 năm qua,
những bước ngoặt có tính chất quyết định để Ấn Độ có được sự phát triển bền vững
trước các thách thức của tương lai là:
- Lấy lại
niềm tin công cộng và các công ty tư nhân, điều nầy chứng tỏ rằng cộng đồng quốc
dân đã tín nhiệm cung cách quản lý của chính phủ;
- Lãnh đạo
và quản lý hữu hiệu trước những nguy cơ cho quốc gia như thiên tai, hay khủng
hoảng kinh tế;
- Có sáng
kiến, tăng cường sự sáng tạo, và hoạch định kế hoạch phát triển bằng cách áp
dụng sáng kiến mới và xử dụng công nghệ sạch trong sản xuất.
Và rốt ráo lại trong
ba đáp ứng trên, mấu chốt quan trọng hơn cả là hai tiêu chuẩn đầu tiên. Điều nầy
đưa đến niềm tin của dân chúng và khả năng lãnh đạo quốc gia của chính quyền.
Tình trạng của Việt
Nam ngay sau khi chấm dứt chiến tranh năm 1975, cũng giống như tình trạng của
Nhật Bản 60 năm về trước ngay sau đệ nhị thế chiến. Vào năm 1947, chính phủ Nhật
đã công bố một bạch thư nói lên tình trạng kinh tế kiệt quệ của đất nước sau
chiến tranh để kêu gọi tòan dân chung sức. Và chính biểu tượng thành thật nầy đã
khiến cho người dân Nhật sát cánh với chính quyền trong những năm xây dựng laị
đất nước. Từ năm 1946 đến 1951, Nhật đã nhận được viện trợ không hoàn lại từ Hoa
Kỳ. Tiền nầy đã được quản lý hết sức chặt chẽ và chỉ dùng để nhập cảng những
nguyên liệu cần thiết cho sản xuất mà thôi. Trong lúc đó Nhật cũng vay vốn ưu
đãi từ Ngân hàng Thế giới để dùng vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng và để phát
triển một số ngành công nghiệp can thiết như sắt thép, xe hơi, hàng không… Nhật
cố gắng huy động nguồn vốn trong nước để hạn chế tiền vay của nước ngoài; do đó
kiềm giữ được mức nợ ngoại quốc chỉ khoảng 5% ngân sách quốc gia mà thôi. Và chỉ
10 năm sau, Nhật đã hòan trả tất cả nợ và trở thành một quốâc gia thành viên của
Tổ chức hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).
Trở lại Việt Nam,
không kể các nợ cũ của Liên Sô và TQ, Việt Nam đã bắt đầu nhận viện trợ từ các
tổ chức quốc tế từ năm 1993. Cho đến nay, những món nợ vay mượn đó đã bắt đầu
đáo hạn , và từ nay cho đến năm 2010, mỗi năm Việt Nam phải trả 2 tỷ Mỹ kim và
tiền lời của các món nợ khác. Để đổi lại, mức phát triển của Việt Nam đã đem lại
được gì cho đất nước ngày hôm nay ngoài món nợ khổng lồ mà tất cả người dân bắt
buộc phải trả. Tính đến năm 2010, nợ ngoại quốc sẽ chiếm 40% ngân sách quốc gia.
Đây là những món nợ các thế hệ sau phải gánh chịu, một khi chính „con nợ“ là
những người đang quản lý đất nước phủi tay trong việc nhận lấy trách nhiệm ngày
hôm nay.
Qua hai trường hợp
Nhật Bản và Ấn Độ, qua quyết tâm giải quyết vấn đề phát triển bằng cách gây tin
tưởng vào người dân. Do đó kết quả hai quốc gia nầy đã đạt được ngày hôm nay chỉ
là hệ quả của một sự quản lý đất nước lấy thành tín làm đầu.
Tiếc thay, những điều
kiện đã mang đến thành công cho Ấn Độ và Nhật Bản, nhưng không đem laị thành
công cho Việt Nam, vì nơi đây thiếu vắng tất cả sự thành tín và thành tâm của
nhà cầm quyền. Và dĩ nhiên sẽ làm thui chột niềm tin của người dân. Nơi đây, sự
tham nhũng và quản lý quốc gia tồi tệ, nhất là trong lãnh vực tài chính và ngân
hàng đã làm mất niềm tin của người dân Việt. Và một khi đã mất niềm tin rồi, làm
sao có được sự hợp tác keo sơn giữa chính quyền và người dân. Và cuộc khủng
hoảng niềm tin chắc chắn sẽ kéo theo những tác động xáo trộn trong xã hội và lan
dần đến những xáo trộn chính trị trong một tương lai không xa.
Hiện tượng nầy đang
bắt đầu manh nha ở Việt Nam trong hiện tại và lãnh đạo VN sẽ phải chấp nhận
những hậu quả khó lường có thể xảy ra trong những ngày sắp tới.
Mai Thanh Truyết
West Covina 30/4/2006
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |