|
Hàng
năm đến ngày 22 tháng 3, LHQ và các quốc gia trên thế giới tổ
chức Ngày Nước Thế giới để duyệt xét lại tình trạng phân bổ và
tình hình trong năm qua ở các quốc gia có nhu cầu được trợ giúp
về nguồn nước sinh hoạt. Ngày Nước Thế giới đã được Đại hội đồng
LHQ quyết định vào ngày 22/3/1993. Cứ mỗi 3 năm, thế giới lại
nhóm họp dưới danh nghĩa Diễn đàn Nước Thế giới, và Diễn đàn kỳ
5 sẽ diễn ra vào năm 2008.
Chủ đề của năm nay là “Năm quốc tế về vệ sinh cá
nhân” (International Year of Sanitation) và cũng là năm thứ ba
Thập kỷ Hành động Quốc tế 2005- 2015 về nước để đánh dấu quyết
tâm của LHQ về việc cung cấp nguồn nước sạch cho mọi người trên
thế giới vào năm 2015. Đặc biệt cho năm nay, Đại hội đồng LHQ sẽ
tuyên bố Ngày Nước Thế Giới vào ngày thứ năm 20 tháng 3 tại New
York. Những yêu cầu thảo luận cho Ngày Nước năm nay là: 1- Khởi
xướng và kích thích vệ sinh cá nhân; 2- Thiết lập hệ thống vệ
sinh cá nhân công cộng và tại tư gia; 3- Xử lý nước thải từ
nguồn vệ sinh cá nhân nầy; 4- Hoàn chỉnh hệ thống cống rảnh; 5-
Chính sách và thiết lập các khung giáo dục về vấn đề trên; 6-
Quốc sách về an toàn vệ sinh cá nhân.
Cũng cần nên nhắc lại là chủ đề của năm 2007 là
Nạn khan hiến nước (Water Scarcity). Trong đó, LHQ luôn nhắc nhở
đến vấn đề quyền lợi và sự bình đẳng trong việc sử dụng nguồn
nước, sự bất cân đối giữa cung và cầu, sự thoái hoá của nguồn
nước ngầm trên nhiều quốc gia trên thế giới. Để rồi sau cùng đối
mặt với vấn đề khan hiếm nước toàn cầu.
Trước đó năm 2006, Ngày Nước thế giới lại đặt vấn
đề Nước và Văn hoá (Water and Culture), trong đó nêu lên nhu cầu
dùng nước của từng quốc gia cũng như kinh tế quốc dân tuỳ thuộc
vào sức mạnh của việc chuyển vận nước cho nhu cầu dân dụng và
phát triển.
Liên Hiệp Quốc
Tại diễn đàn LHQ Geneva, Hội Hồng thập tự và Hội
Lưỡi liềm đỏ Quốc tế đã kêu gọi khẩn thiết nhu cầu có một nguồn
nước sạch cho mọi người. Bức tranh dùng làm chủ đề cho năm nay
là hình ảnh hai học sinh tiểu học đang đăm chiều về tương lai.
LHQ cũng nhắc nhở nhu cầu thiếu nước “mãn tính” của các quốc gia
đang phát triển, đặc biệt là ở Phi châu với những số liệu đáng
bi quan là: 1,1 tỷ người trên thế giới không có nguồn nước an
toàn, và 2,4 tỷ không có hệ thống phóng uế hợp vệ sinh. Điều nầy
dẫn đến hàng năm có trên 3 triệu người chết vì hai tình trạng
trên trong đó trẻ em dưới 5 tuổi chiếm đa số.
TS Lee Jong Wook, Chủ tịch Tổ chức Y tế thế giới
(WHO) đã phải phát biểu như sau:”Có nhiều người trên thế giới đã
lạm dụng nguồn nước sạch để uống, nấu nướng, tắm giặt, trong lúc
đó trên một tỷ đồng loại không có chọn lựa nào khác hơn là một
nguồn nước ít ỏi và không hợp vệ sinh”.
Sau cùng, LHQ đề ra mục tiêu phấn đấu để tất cả
mọi người trên thế giới đều có nguồn nước sạch, và hệ thống
phóng uế hợp vệ sinh vào năm 2015. Cơ quan nầy chỉ thị cho các
quốc gia trong Ủy ban Phát triển Bền vững lần thứ 13 nhóm họp
tại New York vào tháng 4, 2005 phải hoạch định chính sách và
biện pháp cụ thể thích hợp để bảo đảm đều cam kết trên. Nghị
trình cũng yêu cầu Ủy ban lưu ý việc bảo vệ nguồn nước trong
tương lai cũng như hệ sinh thái toàn cầu, như bảo tồn đa dạng
sinh học ở sông, núi, hồ, vùng ngập nước (wetlands), thềm lục
địa biển v.v...
Trở lại ngày Nước Thế Giới cho năm 2008, Quỹ Nhi
đồng LHQ (UNICEF) nhấn mạnh rằng vệ sinh cá nhân và hệ thống
phóng uế là chìa khoá của sinh mạng trẻ em, của sự tăng trưởng
cơ thể và sự lớn mạnh. Cải thiện hệ thống phóng uế cần phải
thực hiện cho 2,6 tỷ con người ở các quốc gia đang phát triển
trên thế giới, trong đó trẻ em dưới 18 tuổi chiếm 980 triệu.
Hàng triệu trẻ em chết hàng năm vì những chứng bịnh liên quan
đến vệ sinh cá nhân có thể ngừa trước được.
Năm nay, vệ sinh an toàn hệ thống phóng uế được
UNICEF cổ suý nhằm mục tiêu:
-
Giảm thiểu tỷ lệ chết non trong dân số toàn cầu;
-
Giảm thiểu tỷ lệ chết non vì bịnh tiêu chảy
(diarrhoea);
-
Tạo điều kiện trẻ em có mức dinh dưỡng khá hơn;
-
Làm sạch môi trường;
-
Có nguồn thực phẩm an toàn và cải tiến nguồn nước
sạch;
-
Giáo dục an toàn vệ sinh cho học sinh tiểu học;
-
Tăng niềm tự trọng và quyền riêng tư cho mọi
người nhất là đàn bà và con gái;
-
Tăng cường mức lưu tâm và quan trọng của vấn đề
vệ sinh cá nhân và khai triển một chính sách hành động trường
kỳ.
Tiêu đề thảo luận cho năm 2008
Với những mục tiêu vừa kể trên, 5 tiêu đề sau đây
là những gợi ý cho các quốc gia trên thế giới để khai triển và
kỷ niệm Ngày Nước Thế Giới năm nay. Đó là:
-
Hệ thống phóng uế là huyết mạch cho sức khoẻ:
Có vào khoảng 120 triệu trẻ em được sinh ra hàng
năm ở các quốc gia đang phát triển, trong đó hơn phân nửa sống
trong điều kiện không có hệ thống phóng uế hợp vệ sinh, có nguy
cơ ảnh hưởng lên sự phát triển và sự sống còn. Nguy cơ nầy đưa
đến 88% trẻ em chết vì bịnh tiêu chảy. Theo một nghiên cứu của
WHO, Cơ quan về Sức khoẻ LHQ, tại Phi Châu có thể tránh được
hàng năm 173 triệu trường hợp bịnh tiêu chảy nếu hệ thống phóng
uế đúng tiêu chuẩn được thiết lập. Hàng năm có 1,5 triệu trẻn em
chết vì bịnh nầy;
-
Hệ thống phóng uế mang lại phát triển xã hội:
Trường học có hệ thống trên thúc đẩy sự liên tục
đi học của học sinh nhất là nữ sinh. Một trong 4 nữ sinh bỏ học
so với tỷ lệ một trên 7 so với nam sinh vì trường học không có
hệ thống phóng uế. Nữ sinh phải đi xa nhà để lấy nước do đó
không còn năng lực để đi đến trường, cộng thêm nhu cầu dùng nước
cho nữ sinh nhiều hơn so với nam sinh vì điều kiện sinh
lý của phái nữ;
-
Hệ thống phóng uế là một nguồn đầu tư kinh tế
quốc gia:
Các cuộc nghiên cứu cho thấy, cứ mỗi tăng trưởng
10% trong số phụ nữ biết đọc, lợi tức kinh tế quốc gia sẽ tăng
0,3%. Phụ nữ được giáo dục sẽ biết nuôi con lành mạnh hơn, có
sức khoẻ hơn, và có khả năng giáo dục con cái để tránh các bịnh
hiễm nghèo như AIDS và các chứng bịnh xã hội khác. Tại
Bangladesh, số nữ sinh ghi danh học liên tục tăng 11% khi có
chương trình chính phủ xây dựng hệ thống phóng uế ở các trường
học nơi đây;
-
Hệ thống phóng uế giúp cho môi trường sạch hơn:
Hiện tại, hàng năm thế giới sản xuất trên 200
triệu tấn phân người, và một số lượng lớn vô số phế thải lỏng và
rắn không được xử lý và đi thẳng vào môi trường thiên nhiên. Có
được hệ thồng phóng uế hợp vệ sinh sẽ giảm thiểu được sự thoái
hóa của môi trường, hạn chế sự huỷ diệt hệ thống sinh thái và đa
dạng sinh học cùng mang lại sự an toàn vệ sinh cho trẻ em cùng
bảo đảm tương lai của chúng;
-
Sau cùng hệ thống phóng uế có thể thực hiện dđược
cho thế giới:
Đã đến lúc thế giới cần phải
hành động. Ước tính 10 tỷ Mỹ kim tiêu xài hàng năm trên thế giới
cho đến 2015 để thiết lập hệ thống phóng uế hợp vệ sinh trên
toàn thế giới có thể thực hiện được nếu chúng ta biết vận động
hành lang các nguyên thủ quốc gia của các nước Tây Phương. Chi
phí nầy chỉ chiếm dưới 1% của chi phí quốc phòng của các quốc
gia trên thế giới.
Nguồn nước trên thế giới
Để có thêm khái niệm về tình trạng nước trên thế
giới, xin đan cử ra đây vài số liệu cần nên biết. Tổng sản lượng
nước trên thế giới gồm: 97,5% nước biển (mặn) và chỉ 2,5% nước
ngọt. Trong 2,5% nầy chỉ có 0,4% nước mặt gồm sông ngòi, ao hồ
và hơi nước trong không khí, 30,1% nước ngầm, và phần còn lại là
những tảng băng trải rộng ở Bắc và Nam cực. Và sau cùng trong
0,4% nước mặt đó, có 67,4% nước ao hồ, 1,6% sông ngòi, 12,2%
nước đã thấm vào đất, 9,5% hơi nước trong không khí, và phần còn
lại gồm các vùng đất ngập nước (wetland). (dữ kiện từ National
Geographic 9/02). Trử lượng nước ở địa cầu không nhiều như chúng
ta tưởng.
Sự phân bổ nước trên thế giới hoàn toàn không
đồng bộ do điều kiện địa lý từng vùng, do sự lạm dụng của những
quốc gia kỹ nghệ, và sự “nhắm mắt làm ngơ” không giúp đở các
quốc gia nghèo của các “nước lớn”. Theo ước tính, có 70% lượng
nước trên thế giới được xử dụng cho nông nghiệp, 20% cho kỹ
nghệ, và 10% cho sinh hoạt gia đình. Hàng ngày, trong nhiều vùng
ở Phi Châu, phần đông cư dân không có hơn một lít nước dùng cho
sinh hoạt cá nhân; trong lúc đó ở Hoa kỳ, mức tiêu thụ nước cho
mỗi người dân có thể lên đến 700 lít cho một ngày; và người dân
Paris tiêu thụ 100L/ngày.
Thêm nữa, sự gia tăng dân số kéo theo nhu cầu cần
phải phát triển nông nghiệp, do đó việc tận dụng nguồn nước,
nhất là nước ngầm sẽ là một nguy cơ làm cạn kiệt nguồn nước
trong tương lai. Theo tính tóan, muốn sản xuất 1 kg gạo cần phải
tiêu tốn 6.000 lít nước. Trước mắt, các quốc gia đang phát triển
phải trực diện với nạn gia tăng dân số vì không có khả năng ngăn
chặn mức sinh sản của người dân, các nước nầy sẽ là những nạn
nhân đầu tiên của nạn khan hiếm nguồn nước trên thế giới.
Riêng tại Việt Nam, nguồn nước tương đối dồi dào.
Tổng sản lượng nước mặt trung bình vào mùa mưa hàng năm là 800
tỷ m3, phần lớn do sông Hồng và sông Cửu Long cung cấp. Tuy
nhiên, vào các tháng khô hạn, lượng nước chỉ còn lại khoãng 15 –
30% mà thôi. Về lượng nước ngầm, theo ước tính Việt Nam chứa
khoảng 48 tỷ m3/năm và trung bình hàng năm, người dân xử dụng
khoảng 1 tỷ m3. Theo báo cáo của Chương trình Môi trường LHQ,
nhu cầu tưới tiêu trong năm 2000 ở Việt Nam hàng năm là 76,6 tỷ
m3 chỉ đủ cung ứng cho 80% đất trồng trọt trên toàn quốc (9,7
triệu hecta). Do đó, nhiều nơi tình trạng thiếu nước cho nhu cầu
nông nghiệp vẫn còn là một yếu tố cần phải giải quyết.
Tiêu chuẩn nước sạch
Nước là một nhu cầu không thể thiếu của con
người. Trung bình nước chiếm độ 75% trọng lượng của cả cơ thể.
Nói về nước “sạch”, theo định nghĩa, nước sạch là nước chỉ chấp
nhận sự hiện diện của các hợp chất hữu cơ, kim loại và các ions
hòa tan với một vi lượng rất nhỏ tuỳ theo độc chất của các chất
kể trên. Và định mức nầy đã được LHQ cũng như các quốc gia trên
thế giới chấp nhận tùy theo điều kiện phát triển của từng quốc
gia. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn cho nước uống ở các nơi cũng gần
giống nhau. Căn cứ theo Code of Federal Regulations thuộc EPA
Hoa kỳ, các tiêu chuẩn cần có cho nước uống gồm:
Ions: nồng độ của Fluor trong nước không được quá
2mg/L; Chlor, 250 mg/L; Sulfate, 250 mg/L; Nitrate, 45 mg/L….. .
Kim loại: Aluminum, 0,2 mg/L; Antimony, 0,006
mg/L; Arsenic, 0,010 mg/L; Chromium, 0,050 mg/L; Thủy ngân,
0,002 mg/L; Nickel, 0,100 mg/L; Selenium, 0,050 mg/L; Đồng, 1,0
mg/L; Sắt, 0.3 mg/L; Manganese 0,050 mg/L; Bạc, 0,100 mg/L; Kẽm,
5.0 mg/L.
Ngòai ra, tiêu chuẩn còn có ghi thêm trên 100 hợp
chầt hữu cơ với hàm lượng cho phép hiện diện trong nước rất thấp
tính từ phần tỷ đền phần ức (ppb và ppt).
Về các yếu tố vật lý thì độ dẫn điện (specific
conductance) không được vượt quá 900 microhmos. Lượng chất rắn
hòa tan (TDS) cũng không được quá 550 mg/L.
Cũng cần phải kể thêm tiêu chuẩn vi sinh, tức
tổng lượng Coliforms không quá 23 MPN/100mL (most probable
number-MPN).
Nói chung, nước được gọi là sạch và hợp vệ sinh
khi đạt được các tiêu chuẩn yêu cầu trên và có độ pH trong
khoảng từ 6,5 đến 7,5 (pH trung hòa trong nước là 7,0). Các tiêu
chuẩn kễ sau đây tuy không nằm trong định mức của tiêu chuẩn quy
định cho nước sạch, nhưng là những chỉ dấu đầu tiên để xét
nghiệm phẩm chất của nước. Đó là Độ oxy hòa tan (DO), và Nhu cầu
oxy hóa học (COD); chỉ số sau cùng nầy để ước tính mức độ hợp
chất hữu cơ có trong nước.
Nước và Việt Nam
Trong Ngày Nước Thế giới năm 2003, Việt Nam cũng công bố một báo
cáo về tình hình Nước ở Việt Nam, Ban Chỉ Đạo Quốc Gia (BCĐQG)
đã công bố một báo cáo tương đối đầy đũ, trong đó tình trạng về
việc cung cấp nguồn nước sạch cũng như vệ sinh môi trường được
diễn đạt bằng những số thống kê cùng một số dự phóng tương lai
cho hai vấn nạn trên.
Nhìn chung, theo báo cáo, thì nguồn nước ở Việt
Nam đang bị ô nhiễm. Trên cả nước, chỉ có 40% dân chúng sống ở
nông thôn xử dụng nguồn nước sạch. Ngoài ra cần phải kễ: 1) hàng
ngày có 19.315 tấn chất thải đi thẳng vào nguồn nước, trong đó
có 10.162 tấn chất thải công nghiệp, 211 tấn chất thải bịnh
viện, và 8.941 tấn chất thải gia cư. Riêng tại Hà Nội có trên 20
bịnh viện thải hồi 11 tấn và hàng trăm m3 nước thải chứa vi
khuẩn và hoạt chất độc hại; 2) Cả nước có 13 triệu người không
có cầu tiêu tiểu, và 30 triệu không có điều kiện vệ sinh phóng
uế; 3) 100% trẻ em miền Bắc từ 4 đến 14 tuổi bị sán lải, từ 50
đến 80% có sên, sán trong gan , ruột.. .; 4) Các hoạt chất độc
hại như thuốc bão vệ thực vật, hóa chất phế thải của bịnh viện
và các viện bào chế… tạo ra ung thư, quái thai.
Từ những vấn nạn vừa kể trên, BCĐQG cũng đã công
bố một dự phóng tương lai góp phần vào việc giải quyết hoặc cải
thiện một số tồn đọng về những ảnh hưởng của môi trường lên đời
sống dân chúng. Về nước sạch, ngân sách dự trù cho đến năm 2005
là 16.339 tỷ Đồng để tái tạo nguồn nước sạch và xử lý môi
trường. Nếu tính trung bình cho 80 triệu dân, mỗi đầu người được
chi là 279 Đồng/ngày. Trong ngân sách trên, 490 tỷ đã được trích
ra để xây dựng nhà máy xử lý nước rỉ của bãi rác Đông Thạnh (Hốc
Môn), và nhà máy nầy đã được khánh thành vào tháng 6,2003, và
chỉ vận hành được 6 ngày! Và từ đó đến nay, (2008) nước rỉ vẫn
còn tồn đọng tại Đông Thạnh và một phần lớn nước rỉ đã tràn vào
sông Rạch Tra, sau đó chảy ra sông Sài gòn. Trường hợp của bãi
rác Gò cát I, II, III, IV cũng khôngtránh khỏi tình trạng trên.
Trong lúc đó, chỉ tiêu của BCĐQG cho đến năm 2005
là toàn vùng nông thôn sẽ có được 80% nước sinh hoạt. Nhưng cho
đến nay, 2008, chỉ tiêu nầy chỉ là một con số nằm trong kế hoạch
nhà nước mà thôi.
Đứng trước vấn nạn về nước thải kỹ nghệ, BCĐQG
nhận định rằng, trên toàn quốc có tất cả gần 80 khu công nghiệp,
tuy nhiên chỉ có khu chế xuất Tân Thuận và Sông Bé có vài nhà
máy xử lý nhỏ. Tuyệt đại đa số còn lại đều không dự trù ngân
sách cho công cuộc bảo vệ môi trường nầy. Cũng theo dự tính, khu
xử lý chất thải đầu tiên sẽ dự định xây dựng tại khu công nghiệp
Biên Hòa với ngân sách 1,88 triệu Mỹ kim trong đó dự trù xây
dựng: - một nhà kho chứa chất thải rắn, - hai bãi chôn lấp gồm
26.000 m2, - và một trạm quan trắc kiểm soát.
Kết luận
Nguồn nhiễm bịnh mang lại từ phân của con người
rất nhiều, từ các bịnh thiên thời (cholera) đến thương hàn
(typhoid), từ các bịnh về gan như Viêm gan A,B, đến bịnh tê liệt
(polio), và một số mầm bịnh do ký sinh trùng, vi khuẩn, cầu
trùng khác v.v…Mặc dù mục tiêu của LHQ là luôn đặt trọng tâm
vào việc cung cấp nước sạch và xử lý nước sinh hoạt của các quốc
gia nghèo, nhưng trên thực tế, theo các thông tin trên rõ ràng
là sự phân bổ viện trợ cho hai vấn đề nước và hệ thống phóng uế
hợp vệ sinh không được trong sáng và còn nhiều chỉ dấu bất công
trong việc điều hàng ngân khoản của LHQ trong việc trợ giúp nầy.
Cũng cần kể thêm là LHQ cũng đã vấp phải nhiều quyết định sai
lầm trong việc cung cấp nước sạch cho Bangla Desh qua việc đào
trên 4 triệu giếng vào thập niên 70, để rồi sau cùng kết quả
hiện tại là hàng năm tại xứ nầy có trên hàng trăm ngàn người
chết và hàng triệu người đang phải chịu đau đớn vì bị nhiễm độc
arsenic do nước giếng gây nên. Điều nầy đã được tái lập ở Việt
Nam hiện tại với trên 400.000 giếng đào và đã có chỉ dấu bịnh
arsenicosis do bị nhiễm độc arsenic trên người dân Hà Nội và
ĐBSCL.
Tháng 6 năm 2002, một phương án đã được UNICEF đề
ra tại Hội nghị Thế giới về Arsenic ở San Diego (CA) nhằm giảu
quyết nạn nhiễm độc arsenic tại Bangla Desh là thực hiện những
hồ chứa nước vào mùa mưa mặc dù vũ lượng nơi đây chỉ có 250 mm
nước mưa/năm mà thôi. Và chương trình nầy đã hạn chế số lượng
nạn nhân bị chết hàng năm vì bị nhiễm độc arsenic ở xứ nầy. Cũng
theo một tin tức mới vừa công bố ở Thụy Điển là một công ty Ấn
Độ, Trung Tâm Khoa Học Mội Trường (Center of Science
Environment) vừa đạt được giải thưởng Nước Sạch do tổ chức Nước
Sạch Stockholm (Stockholm Clean Water) trao tặng qua công trình
cải thiện nguồn nước dưới đề án:” Việc trữ nước mưa trong mùa
khô”. Giải nầy có gía trị 150.000 Mỹ kim và sẽ được Quốc Vương
Thụy Điển trao tặng trong một buổi lễ diễn ra vào tháng 8/2005
tại Thụy Điển.
Qua hai thông tin trên, một lần nữa, biện pháp
thiết lập hồ chứa nước mưa ở ĐBSCL đã được Hội KH&KT Việt Nam
tại Hoa Kỳ cổ súy từ nhiều năm qua, với mục đích tránh nguy cơ
nhiễm độc arsenic ở vùng nầy, càng có thêm căn bản vững chắc hơn
nữa vì vũ lượng nơi đây là 2.000 mm nước mưa hàng năm. Đây là
một biện pháp an toàn, dễ dàng thực hiện, và rẽ tiền nhất để hạn
chế việc đào giếng, nguyên do của nạn nhiễm độc arsenic trong
tương lai.
Nhìn chung, tình trạng nước và môi trường nước trên thế giới
cũng như ở Việt Nam không được sáng sủa. Do đó hàng năm, nhân
Ngày Thế Giới Về Nước, LHQ luôn luôn cảnh giác tất cả các quốc
gia nhất là những nước đang phát triển cần phải chú trọng hơn
nữa việc mang lại nguồn nước sinh hoạt sạch cho người dân, cùng
hệ thống vệ sinh phóng uế cũng như những phương hướng bảo vệ sức
khỏe bằng cách gìn giữ vệ sinh cá nhân và ngăn ngừa ô nhiễm.
Riêng tại Việt Nam, vì nhu cầu phát triển quốc gia cho nên một
số biện pháp bảo vệ môi trường cần thiết không được chú tâm đúng
mức. Và chính tình trạng nầy ngày càng làm cho vấn đề môi sinh ở
Việt Nam bị xuống cấp trầm trọng. Nếu không thực hiện việc thay
đổi chính sách và quyết tâm bảo vệ môi sinh ngay từ bây giờ,
chắc chắn Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn về nhiều mặt của chính
sách phát triển quốc gia trong một tương lai rất gần.
Mai Thanh Truyết
Hội KH&KT Việt Nam (VAST) 3/2008
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |