|
Vào ngày 1/3/2005,
một hội nghị do Cơ quan cảnh sát toàn cầu (Interpol) chủ xướng tại Lyon, Pháp
Quốc và cũng là trụ sở chính của cơ quan nầy.. Hội nghị đã quy tụ trên 500 cảnh
sát và chuyên viên chống khủng bố đến từ 155 quốc gia trên thế giới. Ngày buổi
sáng khai mạc, Ông Ronald K. Noble, Tổng thu ký interpol tuyên bố:“ Mối đe dọa
của khủng bố sinh học là có thật“ khi được tin là al Qaida đã đưa lên mạng lưới
toàn cầu những chỉ dẫn về việc chế tạo các vũ khí sinh học.
Hội nghị đã nhấn mạnh
điểm cần lưu ý là hệ thống interpol cũng như tình trạng nhân sự hiện nay không
được huấn luyện và trang bị đầy đủ để kịp thời ngăn chặn hoặc ứng phó với những
tấn công sinh học.
Các tham dự viên đã
được học tập qua Hội nghị những kinh nghiệm trong quá khứ như những vụ khủng bố
qua đường bưu điện trong các bao thư có chứa mầm bịnh than (anthrax) đã từng gây
chấn động tại Hoa Kỳ sau vụ 9/11. Cuộc tấn công hệ thống xe điện ngầm ở Tokyo,
Nhật Bản năm 1995 bằng hơi độc sarin do một giáo phái Islam cũng được diễn lại.
Sau cùng, trong hai
ngày hội nghị, các cuộc thảo luận đều dẫn đến những biện pháp phòng ngừa cũng
như huấn luyện nghiệp vụ đặc biệt cho cảnh sát interpol. Cũng cần nên biết
interpol được thành lập qua một nghị quyết của LHQ và ngân sách hàng năm vào
khoảng 50 triệu Mỹ kim qua sự đóng góp của 182 thành viên trên thế giới.
Bài viết có mục đích
trình bày một vài diển tiến mới trong việc phòng chống khủng bố sinh học và một
vài quan điểm liên quan đến vấn đề đang gây sôi động trên thế giới hôm nay.
Tiêu chuẩn ngăn ngừa
khủng bố sinh học: An ninh khoa học
Trước hết, từ năm
2002, Hoa Kỳ đã đi đầu về hoạch định kế hoạch để ngăn ngừa khủng bố sinh học.
Trước khi xảy ra vụ 9/11, các nhà nghiên cứu sinh học Hoa Kỳ chỉ cần thông báo
cho chính phủ khi có dịch vụ di chuyển các mầm bịnh nguy hiểm mà thôi. Nhưng từ
khi đạo luật An ninh Công cộng và luật Chuẩn bị và Đáp ứng trước Khủng bố Sinh
học được quốc hội phê chuẩn năm 2002 thì các khoa học gia cần phải liệt kê tất
cả các tác nhân nghiên cứu trong sinh học như: định mức tiêu thụ trong thời gian
thí nghiệm, mục tiêu thí nghiệm v.v... ngoài báo cáo di chuyển hay trao đổi với
các trung tâm nghiên cứu khác như trước kia. Cũng theo hai luật nầy, mọi thủ tục
cần phải có Cơ quan Kiểm soát Dịch tể (CDC) chấp thuận trước khi di chuyển và
khoa học gia chủ xướng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hồ sơ di dời và mục
đích chuyển tải.
Tại hoa Kỳ, có tất cả
hơn 800 cơ quan chính phủ, đại học, cơ quan nghiên cứu tư nhân, và các trung tâm
sản xuất sinh hóa chất đều phải đăng bộ với Cơ quan Kiểm soát Dịch tể và Bộ Nông
nghiệp để kiểm soát 80 tác nhân sinh học được xem là độc hại và có nguy cơ làm
chết người nhất.
Một thí dụ trước và
sau khi khủng bố 9/11 là GS Theresa Koehler, Viện Đại học Texas đã nghiên cứu
chất anthrax trong suốt 20 năm vừa qua. Trước kia, chỉ cần 1 hoặc 2 ngày để di
chuyển một lượng nhỏ tác nhân nầy đi đến một trung tâm nghiên cứu khác. Mà nay,
phải cần đến 5 tháng mới làm xong các thủ tục di dời.
Lợi và Bất lợi trong
Luật An ninh khoa học
Trước hết, an ninh
khoa học có thể ngăn chặn và kiểm soát được mầm mống khủng bố nhưng đây cũng thể
hiện nhiều bất lợi trong việc phát triển nghiên cứu:
- Thời gian
trao đổi giữa các trung tâm nghiên cứu quá dài; do đó làm chậm đi tiến trình
khai triển và thông đạt kết quả nghiên cứu giữa các trung tâm. Từ đó làm cho
công tác bị khựng lại;
- Ngoài bất
lợi vừa kể trên, chính sách nầy đã gây nên một ngân khoản phụ trội quá tốn kém
ảnh hưởng lên tiến độ của nghiên cứu;
- Chính sách
trên cũng còn một sơ hở căn bản là, mặc dù kiểm soát chặt chẻ hồ sơ lý lịch của
từng khoa học gia, nhưng theo lời của TS Ted Jones, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát
Dịch tể (CDC), nếu một nhà làm khoa học cố ý làm sai trái...thì nhân viên kiểm
soát của cơ quan trên khó phát hiện được vì không nắm vững hết các yếu tố trong
cuộc nghiên cứu. Do đó, việc kiểm soát lý lịch cần phải có sự trợ giúp của cơ
quan Cảnh sát Liên bang (FBI). Nhưng cho đến nay (2004), FBI cũng chỉ hoàn tất
được 85% hồ sơ của gần 11.000 khoa học gia trong lãnh vực sinh học đã đăng bộ.
Số còn lại vẫn nằm trong vòng điều tra và đành phải ngưng nghiên cứu trong lãnh
vực nầy cho đến khi được chấp thuận. Đó là chưa kể đến trên 1.800 hồ sơ bị bác
bỏ vì lý lịch còn nhiều nghi vấn.
- Thêm một
kẽ hở khác là, dù có được kiểm kê chặt chẻ đi nữa, nhưng nếu có một khoa học gia
nào có ý niệm xấu như có thể lấy đi một phần nhân tố độc hại trong một ống
nghiệm đã được kiểm nghiệm mà vẫn không bị phát giác ra. Chỉ cần một vi lượng
như thế cũng đủ tạo nên một tai họa lớn.
Phân loại độc hại
Sau những biện pháp
tổng quát vừa đan cử trên đây, một bước kế tiếp là việc phân loại độc hại. Theo
luật nầy, có tất cả 80 loại vi khuẩn, vi rút, nấm móc, và các độc chất được kể
như là những nhân tố có khả năng dùng trong khủng bố sinh học. Cũng theo luật
trên, Bộ Nông nghiệp và Trung tâm Kiểm soát Dịch tể chịu trách nhiệm về việc thi
hành luật qua việc tuyển chọn và xếp loại các nhân tố độc hại, thiết lập các
trung tâm thí nghiệm, nghiên cứu, và xét nghiệm lý lịch những người bị nghi ngờ
và khả năng tạo ra khủng bố. Về cung cách bảo quản các vi khuẩn trên, hai cơ
quan nầy phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về các công đoạn xử dụng, kiểm kê, tàng
trử, chuyển vận, và thải hồi. Và tất cả cần phải có hồ sơ với đầy đủ chi tiết
trên.
Sở dĩ có sự phối hợp
giữa hai cơ quan trên vì việc phân nhiệm rất rõ ràng. Cơ quan Kiểm soát Dịch tể
có nhiệm vụ thiết lập danh sách và thông báo nguy cơ ảnh hưởng lên sức khỏe của
từng loại độc chất như vi khuẩn gây bịnh truyền nhiễm chẳng hạn. Còn Bộ Nông
nghiệp HK sẽ công bố những luật định về các nguy cơ lên súc vật và cây cỏ có thể
ảnh hưởng hàng loạt đến đàn gia súc của quốc gia.
Đứng trên bình diện
thế giới, Cơ quan Y tế Thế giới (WHO) phối hợp với các quốc gia qua Chương trình
An toàn Sinh học (Bio-Safety Programme) có nhiệm vụ theo dõi các tai nạn và
những hành động cố ý gây khủng bố có tầm vóc quốc gia hay ảnh hưởng lên một vùng
rộng lớn trên thế giới qua sự phối hợp với các quốc gia tài trợ và tham dự
chương trình nầy.
Tiêu chuẩn độc hại
Các tiêu chuẩn độc
hại được chia làm 3 loại: A, B,và C căn cứ theo mức độ độc hại và lây lan. Tiêu
chuẩn A được xếp vào các loại có tác hại nguy hiểm nhất cho công cộng như :
- Vi khuẩn
gây bịnh than (anthrax) có thể lây truyền qua đường hô hấp và da;
- Vi khuẩn
Clostnidium botulinum từ trong đất tiết ra độc chất làm tê liệt các bắp thịt và
hệ thần kinh và có thể đưa đến tử vong;
- Vi khuẩn
gây ra bịnh đậu mùa (smallpox);
- Vi khuẩn
gây bịnh dịch hạch (plague).
Tiêu chuẩn loại B gồm
có các nhân tố có khả năng lan truyền và gây tử vong tương đối cho con người và
thú vật như ricin (tinh dầu đu đủ tía), vi khuẩn gây bịnh cúm Q và Brucellosis.
Đây là hai loại vi khuẩn truyền qua việc tiếp xúc trực tiếp từ gia súc như trâu,
bo,ø nai, heo, chó... qua con người gây nên nóng lạnh, đau lưng, ảnh hưởng lên
hệ thần kinh trung ương làm cho mệt mõi dài hạn.
Tiêu chuẩn C được xem
như là nhẹ nhất ít có khả năng được dùng như một vũ khí sinh học. Đó là: virus
bịnh cúm vàng (yellow fever) gây ra bịnh sốt vàng da, vi khuẩn Hantavirus có thể
gây tử vong qua việc lây truyền từ các loài gậm nhấm như chuột, bọ, sóc do sự
tiếp xúc trực tiếp.
Việc chọn lựa và phân
loại các nhân tố trên đây là một yếu tố quan trọng trong công cuộc phòng chống
khủng bố sinh học. Từ 3 tiêu chuẩn trên, các nhân tố độc hại được chia ra làm 4
Nhóm gọi là Nhóm Nguy cơ (Risk Group) có danh số từ 1 đến 4: GR1, 2,3,4. Tùy
theo mức độ độc hại như: nhân tố ảnh hưởng đến hệ thần kinh, độc chất từ thực
hay động vật, hóa chất giết người như cyanur, hay nhân tố ảnh hưởng lên bộ hô
hấp và khí quản.
Nhóm Nguy cơ 1 (RG1)
được xếp vào loại có nguy cơ gây bịnh cho người lớn. Nhóm RG2 là nhóm có liên
quan đến bịnh tật của con người và có thể được chửa lành. Nhóm RG3 là những tác
nhân lan truyền qua không khí và đường hô hấp, có thể gây tử vong trước mắt. Và
sau cùng Nhóm RG4 là nhóm kịch độc, gây tử vong và có thể gây ra bịnh dịch ảnh
hưởng đến những vùng rộng lớn. Do đó Nhóm 3 và 4 là những tác nhân khủng bố sinh
học nguy hiểm nhất.
Về các trung tâm thí
nghiệm, tại HK hiện có 4 Trung tâm tối tân nhất có tên là Phòng thí nghiệm An
ninh Sinh học cấp 4 (BSL-4) có mức an toàn và an ninh cao nhất. Đó là Trung tâm
kiểm soát Dịch tể và Phòng ngừa (CDCP) tại Atlanta, Goergia, Viện Quốc gia về
Bịnh truyền nhiễm và Dị ứng (NIAID), Frederic, Maryland, Viện Đại học Texas,
Galveston, Texas, và Viện Nghiên cứu Sinh Y học, San Antonio, Texas.
Từ những biện pháp
phòng bị và ngăn ngừa khủng bố sinh học trên tại Hoa Kỳ, nếu được các quốc gia
khác trên thế giới tuân thủ, chúng ta hy vọng nạn khủng bố sinh học có thể được
ngăn chận phần nào. Nhưng tiếc thay, những quốc gia còn lại trên thế giới, ngoài
một số trong Liên hiệp Âu châu có khả năng tài chính và nhân sự để chạy theo
hướng trên. Những quốc gia còn lại, trước hết vì không đủ điều kiện, sau nữa vì
tầm nhìn của mổi quốc gia về vấn nạn khủng bố sinh học có thể khác biệt với quan
niệm của các quốc gia Tây phương qua vấn đề chủng tộc, tôn giáo, và quyền lợi
dân tộc.
Do đó, trên thực tế,
không thể nào có một sự đồng thuận dù tương đối cho việc truy tìm một giải pháp
chống khủng bố sinh học nầy. Trước mắt là các quốc gia Hồi giáo Trung Đông vẫn
còn xem vũ khí sinh học là biện pháp hữu hiêu nhất để đối đầu với sức mạnh của
Tây phương. Từ đó, thế giới vẫn còn bất ổn dài dài dù Hoa Kỳ có thực thi thêm
nhiều biện pháp nghiêm ngặt hơn nữa để phòng chống khủng bố sinh học.
Mai Thanh Truyết
Hội KH&KTViệt Nam
(VAST) 7/2005
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |