|
Đứng trước tình trạng gia tăng dân số ngày càng
nhanh, mức tăng trưởng phát triển xã hội cũng như tiến trình đô
thị hóa tiếp tục được đẩy mạnh mau chóng, một vấn đề lớn của
Việt Nam hiện tại là giải quyết tình trạng ối đọng nguồn phế
thải rắn, trong đó rác sinh hoạt gia cư chiếm tuyệt đại đa số.
Theo ước tính trung bình, trong hiện tại một
người dân ở các thành phố phát thải từ 0,9 đến 1,0 Kg rác/ngày,
và người dân ở các đô thị nhỏ và nông thôn phát thải từ 0,5 đến
0,65 Kg rác/ngày. Tổng lượng chất thải sinh hoạt thải hồi vào
môi trường được ước tính là khoảng 8 triệu tấn/năm.
Tại các thành phố lớn hiện tại, quá trình đô thị
hoá, mức gia tăng dân số, và việc đẩy mạnh phát triển công
nghiệp, dịch vụ, công thêm khả năng tiêu thụ của người dân ngày
càng tăng, trong lúc đó, công nghệ xây dựng bãi rác, cũng như
quá trình xử lý nước rỉ không theo kịp đà gia tăng lượng rác gia
cư. Vì vậy tình trạng môi trường xuống cấp ở các thành phố lớn
rất nhanh ở khắp nơi, đặc biệt ở những thành phố lớn như Tp Sài
Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng.
Hiện nay, Việt Nam đã dùng hai công nghệ được xử
dụng rộng rãi ở Việt Nam hiện tại là chôn lấp rác, và biến rác
hữu cơ đã được phân loại trong rác thành phân compost. Nước rỉ
của rác được tập trung vào các nhà máy xử lý dựa theo phương
pháp vi sinh. Qua kinh nghiệm của những quốc gia tiên tiến, việc
chôn rác phải được tiến hành qua những lớp plastic phía bên dưới
đáy bãi rác, để sau khi chôn lấp rác, nước rỉ không thoát ra
được và không thấm vào mạch nước ngầm phía bên dưới. Nhưng điều
nầy không xảy ra ở Việt Nam.
Có thể nói, tuyệt đại đa số các bãi rác hiện hữu
vẫn được giải quyết theo thói quen của người dân tự ngàn xưa là
đổ rác ra bất kỳ khu đất trống nào, hay đổ ra sông rạch, ao hồ
hay khá hơn hết là chôn lấp và phủ lên mặt rác một lớp đất mõng
ở các thành phố lớn hiện tại.
Theo thống kê năm 2005, cả nước có 97 địa điểm
làm bãi rác chôn lấp đất lên trên. Các bãi nầy được xây dựng qua
nguồn vốn ODA, do đó được xem như tương đối phù hợp tiêu chuẩn
an tòan của công nghệ chôn rác. Tuy nhiên chỉ có 17 điạ điểm có
bãi rác an toàn, nhưng công nghệ xử lý nước rỉ của rác vẫn chưa
hoàn thiện. Nước rỉ vẫn tiếp tục làm tăng thêm mức độ ô nhiễm
cho tòan vùng. Còn các “nhà máy” phân loại rác hữu cơ để chế
biến thành phân compost chỉ chiếm 7% trên tổng số bãi rác hiện
có mà thôi.
Việc đầu tư vào công nghệ xây dựng bãi rác đúng
tiêu chuẩn và hợp vệ sinh, cũng như thiết lập hệ thống xử lý
nước rỉ là một chính sách quốc gia, chứ không phải là một quyết
định của địa phương như hiện tại. Vì đây là một vấn nạn môi
trường chung cho cả nước. Việt Nam đã có nhiều nguồn vốn ODA từ
nước ngoài cho công việc nầy. Tuy nhiên có những trường hợp vừa
khách quan vừa chủ quan khiến cho việc xử dụng nguồn vốn ODA gặp
nhiều khó khăn và thử thách như:
-
Việc quản lý và thi hành rất chậm chạp qua thủ
tục giấy tờ;
-
Nhân sự không đủ chuyên môn và kinh nghiệm để
giải quyết xuyên suốt việc thiết lập một đồ án phù hợp với quy
trình kỹ thuật và tài chính;
Hậu quả của hai trở ngại trên là có nhiều vấn nạn
trong tiến trình xây dựng nhà máy như: 1/ thay đổi thiết bị như
đã ghi trong dự án vì thiết bị không phù hợp với điều kiện Việt
Nam; 2/ vì đây là nguồn vốn do nhà nước quản lý, cho nên thủ tục
hành chánh chậm chạp cũng đã tiếp tay không ít trong việc làm
trì trệ các dự án.
Đứng về mức độ ô nhiễm do nguồn rác phát sinh ra,
người dân sống ở thành phố tuy chỉ chiếm gần 1/4 dân số, nhưng
nhịp độ phát thải rác gia cư ở những nơi nầy rất cao, tương
đương với phân nửa lượng rác toàn quốc, do đó phải chịu nhiều áp
lực do số lượng rác rất lớn, ảnh hưởng lên sức khoẻ và môi
trường sống chung quanh.
Thêm nữa, tuy cùng mang tên là rác sinh hoạt
chung, nhưng rác phát thải từ người dân thành phố lớn mang tính
độc hại cao, so với rác từ các đô thị nhỏ hay nông thôn. Vì dân
thành phố ngoài số lượng rác hữu cơ trong công việc chế biến
thức ăn hàng ngày, trong rác còn có một số vật dụng phế thải như
kim loại, pin cũ, các thùng chứa dung môi hữu cơ, các vật dụng
không hay khó bị phân hủy như túi nylon, nhựa không tái sinh,
lon, hộp, kính bể v. v.. . Do đó việc xử lý lượng rác nầy đòi
hỏi một quy trình xử lý cao hơn cũng như hệ thống xử lý nước rỉ
phải hoàn chỉnh hơn. Cũng cần nói thêm là, ngoài rác sinh hoạt,
ở các thành phố lớn còn có thêm phế thải rắn công nghệ và phế
thải y tế. Hai loại phế thải sau nầy cũng được mang đổ vào các
bãi rác gia cư vì những cơ sở sản xuất công nghiệp và bịnh viện
không có điều kiện xây dựng nhà máy xử lý hay lò đốt. Vì vậy
nguy cơ ô nhiễm và truyền bịnh ở các bãi rác nầy càng cao hơn
nữa.
Tóm lại, hầu hết những bãi rác ỡ Việt Nam không
được xử lý một cách an tòan và hợp vệ sinh. Một bãi rác điển
hình hiện tại vẫn thường thấy khắp nơi vẫn là một bãi rác lộ
thiên, không được xây dựng đúng quy cách. Do đó mỗi bãi rác là
một trung tâm của những bịnh truyền nhiễm. Và vì bãi rác nằm gần
khu dân cư, cho nên người dân sống ở những vùng nầy phải chịu
một áp lực lớn qua việc môi trường bị ô nhiễm như: ô nhiễm không
khí, chịu đựng mùi hôi thúi thường xuyên, ô nhiễm nguồn nước mặt
và nước ngầm ảnh hưởng lên việc sản xuất nông nghiệp. Sau cùng
nơi đây cũng là nguồn ruồi muỗi, chuột bọ và có thể trở thành
một ổ dịch bất cứ lúc nào.
Đứng trước một vấn nạn quốc gia lớn như vậy, ngay
sau khi Đại hội XI kết thúc, một số vấn đề quốc gia được đem bàn
ra ngoài dư luận rộng rãi qua báo chí và truyền thanh như vấn đề
y tế, giáo dục và môi trường trong đó những nơi bị ô nhiễm trầm
trọng được phơi bày trên báo chí nhiều nhất, nào là “làng arsen
Hồ Tây”, “thị trấn ung thư Minh Đức”, ô nhiễm sông Thị Vải, Đồng
Nai, Sài Gòn, Sông Nhuệ, Sông Đáy v.v... Lãnh đạo VN qua ông
Triệu Văn Bé, Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường Báo Lao
Động phỏng vấn ngày 27/7/2006 có phát biểu như sau:”Có thể
nhận định ô nhiễm môi trường là vấn đề “nóng” trên phạm vi toàn
quốc, việc cải thiện môi trường không thể chậm dù là một phút”.
Tuy nhiên, ngoài phát biểu trên, chúng tôi hoàn toàn không
thấy ô. Thứ trưởng đưa ra đề nghị giải quyết nào cả ngoài việc
hy vọng Bộ sẽ cố gắng đẩy mạnh các cơ quan chức năng và chính
quyền địa phương làm việc cật lực hơn nữa.
Hiện tại, dân chúng ở các thành phố lớn bắt đầu
đứng lên phản đối , như tại Đà Nẵng vào cuối tháng 7 vừa qua,
dân chúng đổ xô ra chận đường không cho xe rác đi vào bãi rác
chính của thành phố làm ứ động xe cộ suốt một ngày tại đây. Tình
trạng tương tự đã xảy ra ở bãi rác Gò Cát vào ngày 23/8, dân
chúng đã ngăn chặn không cho hàng trăm xe chở rác đi vào bãi
rác. Tình trạng xảy ra tương tụ như ở Phan Thiết và Nha Trang
vào tháng 9/2007 vừa qua.
Viễn tượng về mức độ đô thị hóa qua việc gia tăng
dân số và sự tăng trưởng phát triển xã hội mang đến số lượng rác
phát thải ngày càng cao là điều không thể tránh khỏi. Việt Nam
với đà gia tăng dân số hiện tại, ước tính đến năm 2010, số dân
sống ở đô thị sẽ tăng 10%, nhưng lượng rác sinh hoạt phát thải
ra sẽ tăng 60%, do số dân tăng, và do mức sống của người dân
ngày càng cao, tiêu thụ càng nhiều.
Với cung cách xây dựng bãi rác không đúng tiêu
chuẩn và hợp vệ sinh như hiện tại, chắc chắn nguy cơ ô nhiễm môi
trường sẽ không tránh khỏi và sẽ không còn biện pháp cứu chữa
nào khác. Số lượng ruồi muỗi sinh sản từ các bãi rác sẽ che lấp
bầu khí quyển; nạn dịch bịnh sẽ xảy ra thường xuyên hơn và ngày
càng trầm trọng hơn vì cơ quan y tế trong nước sẽ không còn đủ
khả năng và nhân sự để phòng chống nữa.
Do đó, một phương cách giải quyết vấn đề để tháo
gở những trì trệ trên trong việc xử dụng nguồn vốn ODA là đầu tư
nguồn vốn nầy vào công nghệ bãi rác và xử lý nước rỉ. Quan trọng
hơn cả là cần thay đổi não trạng “ù lì”, “chờ đợi cấp trên quyết
định” trong cung cách giải quyết những vấn nạn môi trường trước
mắt. Trong lãnh vực xây dựng các bãi rác, tốt hơn hết là giao
cho tư nhân. Qua kinh nghiệm của Bãi rác Đông Thạnh năm 2002,
thành phố đã tiêu tốn 32 triệu Mỹ kim để xây dựng nhà máy xử lý
nước rỉ sau khi có nhiều tai nạn bể bờ hồ chứa xảy ra nơi đây.
Nhưng nhà máy chỉ hoạt động chưa đầy một tháng rồi phải đóng cửa
vĩnh viễn vì xây dựng không đúng quy cách. Trong lúc đó công
nghệ xây dựng bãi rác trong năm qua đã được một số công ty tư
nhân đãm trách như: 1/ Cty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Xây dựng Môi
trường (ICEC) đang tiến hành xây dựng nhà máy xử lý Hà Nam; 2/
Cty Cổ phần Công nghệ Môi trường Xanh xây dựng nhà máy xử lý Sơn
Tây. Tiến độ thi công ở hai nơi đấy rất nhanh và sắp sữa đi vào
hoàn tất.
Việc đem tư nhân góp phần tham gia vào dịch vụ
bảo vệ môi trường chung là một việc làm thích hợp với điều kiện
Việt Nam hiện tại, it ra là làm tăng tiến độ thi công công
trình, cũng như tránh được những vấn nạn đáng tiếc như nhà máy
không hoạt động được ngay sau khi nghiệm thu vì những nguyên
nhân căn bản như việc làm tắc trách của người quản lý công trình
và cơ quan có trách nhiệm, nhất là nạn tham ô đã phá vỡ biết bao
công trình có tính cách quốc gia trong hàng chục năm qua.
Làm được việc trên, Việt Nam có thể hạn chế hay
ngăn chặn được phần nào nguy cơ môi trường ô nhiễm thêm trong
những năm sắp đến.
Mai Thanh Truyết
West Covina 11/2007
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |