|
Đứng trước vấn nạn thán khí hay khí carbonic
CO2 ngày càng phát thải vào không khí nhiều hơn qua
phát triển, mặc dù thế giới, ngoại trừ Hoa Kỳ, đã bắt đầu áp
dụng Nghị định thư Kyoto vào tháng hai năm 2007, trong đó mỗi
quốc gia phải giảm thiểu mức khí CO2 phát thải ở năm
2012 thấp hơn lượng khí thải hồi trong năm 1990.
Câu hỏi
được đặt ra là làm thế nào để giảm lượng khí CO2
trong khi nhu cầu phát triển ngày càng tăng và lượng năng lượng
cần thiết cho nhu cầu trên cũng phải tăng theo.
Để giải
quyết tình trạng trên, hiện nay, các nhà khoa học và quản lý
quốc gia đã đi đến nhiều kết luận và những phương pháp giảm
thiểu đang áp dụng như sau:
-
Cải thiện quy trình sản xuất sạch hơn và ít
dùng năng lượng so với những phương pháp cũ đã lỗi thời;
-
Cải thiện quy trình sản xuất để tạo ra nhiều
của cải vật chất hơn, do đó mức năng lượng dùng cho một đơn vị
sản xuất sẽ ít hơn;
-
Nghiên cứu và áp dụng các nguồn năng lượng
mới ít/không tạo ra khí thải CO2 như: Năng lượng gió,
hạch nhân, hydrogen, mặt trời, năng lượng sinh khí, năng lượng
từ rong, từ thực vật, năng lượng Ethanol. Methanol v.v… (xin đọc
các bài viết nầy trên web
www.vastvietnam.org);
Và từ
năm 1993, khoa học gia trên thế giới đã nghĩ và đang thí nghiệm
làm thế nào để hấp thụ, hay tiêu thụ lượng khí carbonic trong
không khí. Và câu hỏi đã có giải đáp là dùng đại dương để làm
việc nầy.
Trên
thế giới, đại dượng đã chiếm hơn 4/5 diện tích và theo ước tính
của các nhà khoa học, các loại đơn bào phytoplankton đã điều
chỉnh hàng năm trên 50 tỷ tấn carbon qua việc hấp thụ khí CO2
trong không khí để phát triển. Đơn bào phytoplankton muốn phát
triển phải cần ánh sáng và thức ăn “nutrients” để sinh sôi nẩy
nở trong quá trình quang tổng hợp (photosynthesis). Sự phát
triển biến đổi đơn bào thành nhị bào (diatom) và các nhị bào nầy
sẽ chìm xuống đáy biển.
Và thức
ăn chính làm tăng quá trình phát triển trên là sắt (Iron) dưới
dạng muối sulphate FeSO4.
Căn nguyên của sự suy nghĩ
Có thể
nói đến Moss Landing Marine ở Moss Landing,CA là nơi phát xuất
suy nghĩ cho sắt vào đại dương để hấp thụ khí carbonic trong
không khí theo chiều hướng giải quyết sự hâm nóng toàn cầu. TS
John Martin (1935-1993), một nhà đại dương học là người đã gợi ý
đầu tiên trong việc phát triển phytoplankton trong nước biển để
nuôi các sinh vật biển. Một trong những luận án do T. Mai Đại
học US Davis thực hiện, nhằm mục đích tăng nguồn thức ăn biển
phytoplankton cho tôm cá bằng cách cho sulphate vào nước biển.
Phương pháp nầy hiện đang được những công ty chăn nuôi biển áp
dụng. Và từ suy nghĩ trên, TS quay sang việc giải quyết nạn hâm
nóng toàn cầu bằng cách hấp thụ khí CO2 trong không
khí khắp nơi sau khi nhận biềt và quan sát là lượng sắt ở dưới
đáy biển trong thời đại băng giá cao hơn trong giai đoạn trái
đất nóng trong hiện tại.
Ông suy
luận rằng, cần phải rãi lượng sulphate sắt vào một số vùng
trong đại dương có nguồn thức ăn cao (nutrients), nhưng ít xảy
ra sự đồng hoá diệp lục tố; phản ứng sẽ tạo ra nhiều đơn bào kết
hợp lại thành rong (algae). Nếu những vùng nầy được “bón” bằng
phân sắt trên, sự tăng trưởng của rong sẽ kéo theo carbon qua
việc hấp thụ khí carbonic trong không khí và hiện tượng nầy có
khả năng làm đão lộn hiệu ứng nhà kính và làm cho trái đất nguội
lại. Ông đoan chắc điều trên dựa theo lý thuyết: vi sinh
vật biển có chứa diệp lục tố sẽ hấp thụ khí CO2 để
tạo thành khối sinh khí (biomass) và khối sinh khí nầy sẽ chìm
sâu dưới đáy biển.
Lý
thuyết trên đã tạo nên nhiều cuộc tranh luận sôi nổi, binh và
chống lại. Nhưng dù muốn dù không cần phải thử trên một diện
tích đại dương rộng lớn mới có thể cho kết luận sau cùng được.
Nhưng sau cùng TS Martin đã khơi động được sự chú ý của các nhà
khoa học trên thế giới với câu nói bất hủ :“ Cho tôi nửa
xe bồn sắt (tức là sulphate sắt) tôi sẽ đem lại cho anh thời
băng giá của trái đất”. Từ đó ông có thêm biệt danh là
“Ông Sắt” (Iron man).
Giấc
mộng của ông theo ông xuống tuyền đài. Nhưng chỉ vài tháng sau
khi ông mất, lý thuyết của ông lại được các cộng sự viên trong
phòng thí nghiệm Moss Landing Marine điều chỉnh sau và đã chứng
minh thành công sau khi rãi sulphate sắt trong vùng quần đão
Galapagos gây chấn động trên thế giới.
Và từ
đó cho đến năm 2005, có thêm 12 vùng biển được “bón phân” từ 1
đến 3 tấn phân sắt trên một diện tích khoảng 100 Km2,
trong đó có vùng cực nam Phi Châu, Úc Châu, một số vùng ở Nam
cực, và Bắc cực.
Những nghi vấn cần có giải đáp
Cho đến
hôm nay, 2008, sau sự thành công mỹ mãn của 12 vùng thử nghiệm,
các nhà khoa học dự định làm những cuộc thử nghiệm trên một vùng
biển lớn hơn vào năm 2009 và đã chọn Ecuador vào tháng 5 tới đây
làm địa điểm hội nghị để lấy quyết định đồng thuận sau cùng.
Các
quan điểm binh và chống lý thuyết trên giai đoạn sinh dựa theo
một số căn bản khoa học và luật lệ chung toàn cầu qua Thượng
đỉnh Rio de Janerio vào năm 1993 tại Brazil, áp dụng cho đại
dương.
Một số
khoa học gia căn cứ vào chu kỳ sinh học của đại dương gọi là
“giai đoạn sinh học đại dương hoạt động” (ocean’s biological
pump). Ở chu kỳ nầy phytoplankton hấp thụ khí carbonic nhiều hơn
do đó sẽ chuyển vận carbon của CO2 và chìm vào đáy
biển. Sự gia tăng khí carbonic trong không khí sẽ làm thay đổi
trạng thái sinh học biển và nếu trong giai đoạn nầy, thêm
sulphate sắt vào trong biển sẽ kích thích tiến trình hấp thụ
nhanh hơn. Theo ước tính của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ
(National Research Council), chỉ cần tiêu tốn một tỷ Mỹ kim để
giải quyết 1 tỷ tấn Carbon của khí CO2.
Tuy
nhiên vấn đề then chốt trong tranh cãi là, liệu một khi sắt cùng
với carbon đi vào lòng biển sâu, và sau đó 100 năm sau, chuyện
gì sẽ xảy ra? Và cũng đã có nhiều câu hỏi về đạo đức khoa học
trong việc sư dụng nguồn biển và liên quan đến nhiều điều luật
quốc tế khi phát thải (dump) hoá chất vào đại dương.
Vào
tháng 9/2007, hàng chục khoa học gia trên thê giới, quản trị xí
nghiệp và những nhà làm luật đã thảo luận trong 2 ngày tại Woods
Hole Oceanographic Institution (WHOI) nhằm mục đích cải thiện
hiệu năng và an toàn đại dương trên bình diện thí nghiệm trên
một diện tích lớn. Những điểm cần lưu ý đến là:
-
Làm thế nào để ứơc tính diện tích biển được
khoanh vùng để “bón phân”;
-
Làm thế nào để xác định và tính toán lượng
oxy trong khí carbonic được phân phối;
-
Làm thế nào để quan sát chu kỳ của các khí
lồng kính khác như khí methane và các oxid nitrogen trong không
khí sau khi một lượng lớn khí carbonic bị hấp thụ xuống biển.
Do đó,
một cuộc thí nghiệm dài hạn cần phải giải đáp những câu hỏi trên
và thiết lập những mô hình toán cùng kết quả thăm dò thường
trực. Trong năm 2009, các nhà hải dương học dự định tìm nguồn
vốn và thực hiện hai thí nghiệm rộng lớn kết hợp liên quốc gia
gồm Đức, Ấn Độ, Ý, Pháp, Chí Lợi để thành lập cuộc nghiên cứu
mang tên Lohafex (Loha, từ Ấn Độ nghĩa là sắt). Thí nghiệm nầy
sẽ thực hiện ở vùng biển Scotia Sea nằm ở phía nam Nam Mỹ và Nam
cực.
Mục
tiêu của cuộc thí nghiệm là trên một vùng biển rộng 2.000 Km2
sẽ rãi 20 tấn sulphate sắt. Sau đó sẽ theo dõi mọi chuyển
biển trong nước biển và không khí trong vùng trong vòng 7 tuần
lễ, phân tích hàm lượng sắt thay đổi theo thời gian cũng như
theo dõi lượng phytoplankton trong trầm tích v.v…
Vấn đề
được đặt ra là, nếu rãi sulphate sắt xuống biển với quy mô lớn,
hệ sinh thái biển có thể bị ảnh hương như thế nào? Và vùng không
khí bao bọc bên trên, khi bị mất nhiều khí carbonic có thể có
những hệ quả như thế nào đối với sinh vật sống trong không khí?
Đó là hai khía cạnh về đạo đức khoa học cần lưu tâm.
Thêm
nữa, căn cứ theo Quy ước London 1972, luật quốc tế về biển quy
định phải bảo vệ môi trường biển để tránh sự lạm dụng của con
người qua việc phát thải tất cả các loại hoá chất vào lòng
biển. Nghị định thư London vào năm 2006, chỉ cho phép “nhốt”
(trap) CO2 vào lòng biển mà thôi.
Vì vậy,
cũng có một số khoa học gia bảo thủ đặt nhiều nghi vấn về giài
pháp giảm thiểu sự hâm nóng toàn cần bằng phương pháp bón phân
trên. Trước hết một số nhà hoá học lưu ý rằng nếu sử dụng
sulphate sắt thì hoá chất nầy phải được tinh chế, vì nếu không
các tạp chất trong đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ lên hệ sinh thái
biển. Và một số yêu cầu khác là cần phải nghiên cứu những hệ quả
tiêu cực của phương pháp hơn là áp dụng với quy mô lớn một khi
chưa thõa mãn được những câu hỏi cần có giải đáp trên. Vì chúng
ta chỉ có một Đại Dương duy nhất mà thôi theo như lời của một
nhà đại dương học lớn của thế giới, GS Leinen.
Qua
những thông tin trên đây, chúng ta nhận thức được rằng, ngày hôm
nay, con người đã, đang, và sẽ không ngừng làm ô nhiễm môi
trường sống của chính mình dưới hình thức nầy hay hình thức
khác. Một hành động dù vô tình hay cố ý, có ý thức hay không ý
thức của chúng ta cũng có thể gây ảnh hưởng tai hại đến môi
trường sống chung quanh. Một thí dụ nhỏ là nếu chúng ta thay dầu
hay rữa radiator tại nhà, nước rữa cùng dầu nhớt sẽ theo đường
cống “run off” chảy thẳng vào biển mà không qua xử lý. Do đó, đã
đến lúc cần phải báo động là mỗi người trong chúng ta cần phải
tự cảnh giác để cứu thiên nhiên, tức là tự cứu lấy chính mình.
Mai Thanh Truyết
West Covina, 4/2008
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |