|
Ngày
nay, có thể nói rằng hầu hết mọi người trong chúng ta đều đồng ý
hiện tượng hâm nóng toàn cầu là một thách thức lớn cho toàn thế
giới . Chúng ta đang sống trong một tình trạng bất ổn chung và
sự phát triển bến vững (sustainable) gần như không có căn bản
vững chắc dù các quốc gia đang phát triển hay đã phát triển viện
dẫn bất cứ lý do nào để biện minh cho hành động phát triển không
bền vững của mình.
Trước
thực tế kể trên con người phải làm gì?
Trước
hết lượng xăng dầu dùng cho việc di chuyển trên thế giới không
ngừng tăng lên đều đặng đồng biến với thời gian và gía cả cũng
tăng vọt cũng như chưa có dấu hiệu nào báo trước là giá xăng sẽ
được bảo hoà ở một thời điểm nào đó. Do đó, danh từ bền vững
(sustainability) hiện tại khó có chỗ đứng dưới mắt nhân loại và
những nhà khoa học trên thế giới.
Làm sao
có thể phát triển bền vững được khi giá xăng cao, kéo theo tất
cả vật giá của mọi nhu cầu hàng ngày của con người. Từ đó, ảnh
hưởng lên sự phát triển xã hội, và sự hâm nóng toàn cầu ngày
càng tăng trưởng nhanh hơn. Thế giới hiện nay không còn thích
ứng với điều kiện bền vững nữa như yêu cầu của Liên Hiệp Quốc
nêu ra trong Nghị trình-21 là phát triển xã hội, tăng cường phúc
lợi cho nhân loại, và bảo vệ hài hoà môi trường sống.
Sự
bền vững của xã hội loài người
Nhiều
hội đoàn chuyên môn về khoa học, công nghệ từ các NGO thiện chí
đến những hiệp hội khoa học của các chính phủ đều đánh giá vấn
đề bền vững trong phát triển là một vấn đề cấp bách trong hiện
tại. Tại Hoa Kỳ, Hội Hoá Học (ACS) với châm ngôn :”Science &
Technology for Sustainable Well-being” (tạm dịch Khoa học và
Công nghệ cho Nhận thức bền vững) , cũng như Hội Nghiên cứu cho
sự Tiến bộ Khoa học HK (American Association for the Advancement
Science (AAAS)) đã lần lượt tổ chức vào tháng hai vừa qua ở San
Francisco và tháng ba ở Chicago.
Mục
tiêu của hai buổi họp nầy là thêm một lần nữa, hai cơ quan khoa
học lớn nhất nước Mỹ hy vọng mang lại và nhấn mạnh ý nghĩa thực
sự của danh từ bền vững (sustainability). Theo định nghĩa, sự
bền vững là sự tập trung khả năng để đạt được một đời sống an
toàn và khoẻ mạnh cho tất cả nhân loại ngày hôm nay mà không ảnh
hưởng hay di hại đến các thế hệ về sau. Định nghĩa trên bao gồm
tất cả mọi khía cạnh của đời sống như chính trị, kinh tế, xã
hội, mối trường, văn hoá v.v… và điều nầy đòi hỏi các quốc gia
đã phát triển chẳng những phải duy trì và không ngừng cải thiện
tiêu chuẩn của đời sống hiện tại cho người dân trong nước sở
tại, mà còn phải có bổn phận giúp đở những quốc gia kém phát
triển cần phải tăng cường phúc lợi thêm cho con dân của họ.
Theo
hướng suy nghĩ trong một quyển sách viết vào năm 2005 của Jared
Diamond, giáo sư UCLA dưới tựa đề: “Sự sụp đỗ: Xã hội chọn lựa
để thành công hay thất bại như thế nào?” (Collapse: How
societies choose to Fail or Succeed?), và quyển thứ hai đã được
giải Pulitzer “Súng đạn, Mầm bịnh, Sắt thép:Thành phẩm sau cùng
của Xã hội loài người” (Gun, Germs, & Steel: The fates of Human
Societies), Diamond đã khảo sát tại sao và làm thế nào mà những
quốc gia Tây phương ở Bắc bán cầu có khả năng phát triển công
nghệ và thống trị hầu hết thế giới.
Trong
quyển sách đầu, ông cũng đã phân tích tại sao một số quốc gia đã
phát triển mạnh nhưng lại sụp đổ sau đó, và từ đó có những bài
học rút ra từ hiện tượng nầy. Ông cũng đã lý giải sự sụp đổ của
nền văn minh cổ như thành phố Mayan ở Trung Mỹ, sự huỷ diệt của
xã hội Viking ở Greenland v.v…
Và để
kết luận, Diamond đưa ra 5 yếu tố căn bản đóng góp vào sự sụp đổ
của một số xã hội văn minh thời cổ đại. Đó là: 1- Sự tàn phá môi
trường, 2- Sự thay đổi khí hậu thiên nhiên, 3- Sự tàn ác của xã
hội lân bang, 4- Sự hổ trợ thương mãi từ các xã hội khác, 5- Và
sau cùng sự thích ứng hay không thích ứng của xã hội trước những
vấn nạn xã hội cùng sự gia tăng dân số và nhu cầu tiêu thụ tài
nguyên thiên nhiên quá độ.
Từ đó,
ông đưa ra nhận định là các quốc gia xưa bị sụp đổ vì những yếu
tố trên, và ngày hôm nay, các quốc gia đã phát triển cũng sẽ đối
mặt với những thách thức tương tự. Ngoài ra, cũng còn thêm một
yếu tố thứ sáu mới nữa do loài người ngày hôm nay tạo dựng ra;
đó là sự phá huỷ đa dạng sinh học (biodiversity) của thiên
nhiên.
Nếu
tiến trình “phá hoại” của nhân loại tiếp tục, nếu con người
không còn khả năng giải quyết những vấn nạn căn bản trên, thế
giới chắc chắn sẽ bị huỷ diệt toàn diện, chứ không phải từng
vùng hay từng địa phương nữa.
Vai
trò của nhà hóa học
Qua một
số nhận định nêu trên câu hỏi được đặt ra là sự bền vững được
các nhà hoá học nhìn dưới nhản quan nào? Hiện tại, đã có hàng
trăm cuộc nghiên cứu để sống còn và nhiều tài liệu giáo dục về
hiện tượng bền vững nầy cũng như những đề nghị để bảo toàn sự
bền vững toàn cầu của những nhà hoá học trên thế giới. Mục tiêu
sau cùng không những là truy tìm công nghệ mới và sạch mà cũng
phải cải thiện những công nghệ hiện tại cho được đắc dụng hơn và
giảm thiểu sự phát thải ô nhiễm ra môi trường trong sản xuất hay
dịch vụ.
Tứ đó,
vai trò của nhà hoá học sạch và xanh rất cần thiết trong lúc nầy
và Viện Hoá học Xanh (Green Chemistry Institute) thuộc ACS đã
bắt đầu làm cầu nối trong học đường, kỹ nghệ, và chính quyền để
cùng nhau giải quyết vấn nạn toàn cầu.
Một thí
dụ điển hình là TS John Warner, nhà hoá học xanh ở Đại học
Massachusetts, Lowel, Giám đốc Trung tâm Hoá học Xanh, đã hướng
dẫn một phái đoàn hoá học xanh đi khảo sát phát triển bền vững ở
Nam Phi. Ông và phái đoàn cùng thảo luận với các nhà hoá học Phi
về sự bền vững toàn cầu. Đối với những nhà hoá học Phi, nhiệm vụ
của họ tương đối dễ dàng và giản dị trong việc phát triển ngành
hoá học dựa theo tài nguyên của bản địa và áp dụng kỹ thuật tiên
tiến từ các quốc gia đã phát triển. Nhưng vai trò của nhà hoá
học xanh là làm thế nào để mang vào hội nghị khái niệm về bền
vững hướng đến tương lai đến cộng đồng Phi châu mà chính họ
không hề đề cập đến.
Cụ thể
hơn hết là phái đoàn Warner đã thăm viếng đại nông trường Maine
trồng khoai tây, nơi chỉ sản xuất khoai tây để làm khoai chiên
lát mõng hay nấu ăn. Trong khi đó, ông cố gắng thuyết phục các
khoa học gia Phi châu phải thay đổi não trạng là biển đổi những
sản phẩm từ khoai thành những sản phẩm cao cấp hơn, có hiệu quả
kinh tế cao hơn. Đó là thiết lập những nhà máy biến chế bột
khoai thành polylactic acid, thành bio-polymer để làm những sản
phẩm bao bọc thực phẩm hay quần áo. Điếu nầy giải quyết được một
số nhu cầu của địa phương và cũng là một giải pháp đóng góp vào
sự cải thiện môi trường bền vững trong phát triển.
Do đó,
có rất nhiều chiều hướng con người có thể làm để đạt được sự
phát triển bền vững trong đó những nhà hoá học xanh va sạch là
một thành phần đóng góp không nhỏ trong việc bảo vệ môi trường
trong tương lai.
Vai
trò của chúng ta
Theo
thống kê Hoa Kỳ vào năm 2004, lượng khí carbonic (CO2)
phát thải vào không khí do nhiều nguồn khác nhau và có tỷ lệ như
sau: việc chuyên chở chiếm 41%, điện năng 22%, công kỹ nghệ
không dùng khí đốt 15%, khí đốt thiên nhiên 14%, và kỹ nghệ dầu
hoả 8%.
Tại
California, mức phát thả CO2 tính trên đầu người là
11 tấn/năm vào năm 2006 và tòan Cali phát thải 500 triệu
tấn/năm. Do đó, tính đến năm 2020, Cali phải giảm 174 triệu tấn.
Các biện pháp dự trù cho mức giảm thiểu nầy đứng về phía chính
quyền là:
- Xe sạch: Bắt đầu từ năm 2009, tiểu bang cần phải đạt
được 33% xe sạch so với 28% năm 2006;
- Bảo quản và tăng cường rừng để có khả năng hấp thụ
20% khí CO2 phát thải vào không khí;
- Năng lượng: Bảo quản và hạn chế năng lượng sử dụng
trong các cơ xưởng để gảim bớt 30 triệu tấn khí CO2
hàng năm;
- Đối với mức gia tăng dân số, cần tăng cường hệ thống
chuyển vận công cộng để giảm việc xử dụng xe cá nhân;
- Năng lượng tái tạo: Cố gắng đạt 20% năng lượng tái
tạo cho điện năng, giảm 10% lượng CO2 phát thải;
- Nhà máy phát điện: Dùng công nghệ khí than làm giảm
thiểu tối đa việc phát thải CO2, giảm được 10%
- Có thể giảm được 4% lượng CO2 phát thải
trong việc thu hồi khí methan từ các bãi rác để biến thành điện
năng và giảm thiểu được các khí phát tán trong kỹ nghệ dầu khí
hiện tại.
Đứng về
phía cá nhân, chúng ta cần có vài hành động tích cực ngõ hầ đóng
góp vào việc cải thiện sự hâm nóng toàn cầu. Câu nói bất hủ của
một triết gia người Anh vào cuối thế kỷ 18 là Edmund Burke:”
Không một ai làm một lỗi lầm lớn hơn việc một người không làm gì
hết mặc dù anh ta có thể làm một chút gì đó!”
(Nobody made a greater mistake than he could
only do a little!). Do đó, mỗi người trong chúng ta cần phải ghi
nhận rằng nguồn năng lượng lớn nhất là nguồn bảo toàn năng
lượng. Chúng ta cần phải chuẩn bị tư tưởng trong việc cải
thiện, tái sử dụng, và bảo quản năng lượng để hướng đến việc
dùng chúng một các bền vững và làm cho môi trường được trong
sạch.
Một vài
thí dụ cụ thể sau đây đóng góp vào việc bảo vệ môi trường cũng
như hạn chế sự hâm nóng toàn cầu mà mỗi người trong chúng ta có
thể làm được:
-
Sửa chữa
giày dép, quần áo để dùng lại, giảm được mức sử dụng năng lượng
dùng trong việc sản xuất sản phẩm mới;
-
Điều chỉnh
nhiệt độ nóng/lạnh thấp/cao hơn tiêu chuẩn 50F có thể
hạn chế được 5% năng lượng tiêu dùng trong việc xử dụng nước
nóng và máy lạnh hay máy sưởi ấm;
-
Máy giặt:
90% năng lượng xài trong nhà là do nguồn nước nóng cho máy giặt.
Nên thay thế bằng nước ấm. Phơi quần áo ngoài sân; kiểm soát và
bảo quản thường xuyên và có định kỳ máy nước nóng có thể giảm
được 20% năng lượng dùng trong nhà;
-
Bánh xe của
bạn cần được bơm cao hơn áp suất trung bình cho phép có thể giảm
được 5% lượng xăng tiêu dùng. Bảo trì xe thường xuyên cũng giảm
được một lượng xăng tương tự;
-
Tránh dùng
máy lạnh càng nhiều càng tốt. Uỷ ban Năng lượng California (CEC)
khuyến cáo nên thay mái nhà màu xậm bằng màu sang hơn sẽ hạn chế
được mức năng lượng tiêu dùng trong nhà;
-
Tránh việc
đổ hoá chất dùng trong nhà vào đường thoát nước cũng như hạn chế
tối đa việc dùng hoá chất trong sinh hoạt trong gia đình và
ngoài sân cỏ;
-
Dùng kiếng
cửa sổ có màu và sử dụng hệ thống skylights trên mái nhà để tiết
kiện năng lượng;
-
Nên tắm bắng
búp sen (douche) thay vì ngâm mình trong bồn tắm. Nên nhớ một
bồn nước tắm tương đương với 4 lần tắm douche;
-
Kiểm soát
nước rò rỉ từ các vòi nước trong nhà. Một giọt nước rỉ liên tục
trong một năm tương đương với lượng nước sinh hoạt một ngày cho
200 người;
-
Trong sinh
hoạt gia đình, tránh việc dùng các sản phẩm chứa dung môi
(solvent) để tránh ô nhiễm không khí, cố gắng dùng bao bì bằng
giấy, cartông, hay plastic bằng thực vật thay vì bằng hoá chất
như PE, PCE v.v..;
-
Sử dụng thực
phẩm, rau trái đúng mùa để không khuyến khích việc trồng trọt
trái mùa, phải tốn thêm nhiều năng lượng.
Tóm
lại, vấn đề đặt ra nơi đây là mỗi người trong chúng ta hãy tự
vấn lấy chính mình. Một khi ý thức được rõ ràng sự hiện hữu của
con người cũng như trách nhiệm trước toàn cầu và tương lai,
chúng ta sẽ tự hạn chế mọi sinh hoạt có thể được xem là làm tăng
thêm nguy cơ hâm nóng toàn cầu; từ đó chúng ta sẽ biết phải làm
gì. Làm để cho sự tồn vong của nhân loại và nhất là đừng để các
thế hệ về sau nhận lấy nhiều hệ luỵ xấu của con người ngày hôm
nay.
Mai
Thanh Truyết
Brea
9/2007
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |