|
Biến
cố tan rã của Liên Xô đánh dấu sự phá sản của chủ nghĩa Cọng sản
quốc tế, chấm dứt tình trạng đối đầu lưỡng cực giữa khối Tự do
và khối Cọng sản; từ đó đưa đến sự hình thành một khuynh hướng
chung của thế giới, mệnh danh là „toàn cầu hóa“. Khuynh hướng
nầy được xem như là một sinh lộ tất yếu của các nước đang phát
triển và đặc biệt là các quốc gia đã một thời đặt mình thuộc
khối Cọng sản quốc tế, nếu muốn tồn tại và phát triển trong tình
hình mới.
Sự
toàn cầu hóa bao gồm toàn bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, và
được chú ý nhiều nhất là lĩnh vực kinh tế. Về lĩnh vực sau cùng
nầy, nhu cầu toàn cầu hóa bao gồm sự hội nhập của các nền kinh
tế quốc gia vào nền kinh tế quốc tế thông qua thương mại, đầu tư
ngoại quốc qua những công ty quốc gia hay đa quốc gia, lưu lượng
vốn ngắn hạn, lưu lượng công nhân quốc tế, lưu lượng công nghệ
trao đổi, v.v...
Riêng
đối với nước Việt Nam, kể từ sau ngày 30/4/1975, Việt Nam có thể
được xem như hoàn toàn thống nhất về phương diện chính trị, địa
dư, và xã hội. Lãnh thổ Việt Nam được đảng Cọng sản thu về một
mối, được toàn trị do một Trung ương đảng gồm 160 Ủy viên chính
thức, 21 Ủy viên dự khuyết, và 14 Ủy viên Bộ chính trị, tổng
cộng 195 bộ óc �ưu việt� Việt Nam điều hành tất cả mọi sinh hoạt
của 84,7 triệu dân (thống kê tháng 5/2006).
Đứng
về phương diện phát triển kinh tế và xã hội trong 10 năn đầu
tiên sau 1975, hầu như tất cả mọi người trong và ngoài nước đều
đồng ý rằng sự thất bại hoàn toàn của một chính sách kinh tế tập
trung. Đây là một giai đoạn đen tối nhất của lịch sử Việt Nam,
ngay cả so với thời phong kiến và thới Pháp thuộc.. Mọi sinh
hoạt đều bị đình trê, nhiều vùng bị nạn đói đe dọa thường xuyên
dù trước đây là vùng lương thực cho cả nước như Đồng bằng sông
Cửu Long. Giáo dục, y tế công cộng hoàn toàn bị bỏ ngõ...
Đứng
trước nguy cơ diệt vong kề cận, năm 1986, một chính sách kinh tế
mở được khơi mào dưới chiêu bài „kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa“ nửa vời, người dân bắt đầu được nới lõng
hơn trong vòng kềm kẹp, nông dân được cấp quyền xử dụng mãnh đất
của mình dù là tạm bợ để tự khai thác và tự cứu vãn đời sống
kinh tế của gia đình. Những năm tiếp theo sau đó, nguy cơ tuy
vẫn còn đầy rẫy khắp nơi, tình trạng xã hội và kinh tế chung vẫn
còn nhiều gập ghềnh, chập chững trên bước đường phát triển và
hội nhập vào thế giới bên ngoài.
Từ
sau ngày "giải phóng" cho đến năm 1986, cả nước vẫn còn cùng ôm
nhau với những tem phiếu qua câu sấm truyến vẫn còn tồn đọng đến
ngày hôm nay. Đó là:
- Gạo vừa 13 ký, suốt tháng cháo thừa, cơm thiếu, quanh
năm no cậy nước;
- Vải vừa 4 nghìn ly, suốt ngày quần thiếu, khố thừa,
cả đời ấm nhờ da.
Nhưng
mãi đến tháng 12 năm 2001, khi Hiệp ước Thương mãi hai chiều
giữa Việt Nam và Hoa Kỳ thành hình (US-VietNam Bilateral Trade
Agreement), kinh tế Việt Nam tương đối hồi sinh và có thể nói
đây là bước mở đầu tiện của VN trên tiến trình hội nhập vào Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO).
Cũng
cần nói thêm về những thông tin trao đổi kinh tế hai chiều giữa
VN và HK trong giai đoạn trước đây. Năm 1993, VN hoàn toàn không
xuất cảng hàng hóa vào nội địa HK; ngược lại, VN nhập cảng 7
triệu Mỹ kim thiết bị từ HK. Sau ngày 3 tháng 2, 1994, Tổng
thống Clinton, HK đã ra quyết định bãi bõ lịnh cấm vận thương
mại cho VN; kể từ đó, VN bắt đầu tăng dần việc xuất cảng sang HK
lên đến trị giá 50,5 triệu cho năm nầy.
Bảy
năm sau khi hiệp ước trao đổi hai chiều ký kết, hàng hóa VN gồm
thực phẩm, hàng may mặc, dầu thô, giày da, sản phẩm gỗ nội thất
ồ ạt vào thị trường HK, và lượng hàng hóa tiếp tục tăng mãi, từ
1 tỷ Mỹ kim năm 2001, lên đến 5,9 tỷ, năm 2005. Ngược lại, HK
chỉ xuất cảng độ 1,2 tỷ vào VN trong năm 2005. gồm dụng cụ y
khoa, máy móc kỹ thuật và dụng cụ hàng không.
Đây
cũng là những chỉ dấu ban đầu cho VN lần lần thực hiện tiến
trình gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới. Và Việt Nam đã
chính thức gia nhập vào cuộc chơi toàn cầu nầy vào ngày 7 tháng
11 năm 2006. Bài viết nầy có mục đích phân tích một số thách
thức cùng những yếu tố Việt Nam cần phải lưu ý trước tiến trình
thực hiện và tuân thủ các quy định trong WTO.
Tổ
chức Thương mại Thế giới
Tổ
chức Thương mại Thế giới hay World Trade Organization-WTO, có
trụ sở đặt tại Thụy Sĩ đã được thành lập chính thức vào ngày
1/1/1995 do các quốc gia thành viện ký tại thành phố Marrakesh,
Marocco. Tính đến nay, Tổ chức nầy tập hợp được 149 quốc gia
thành viên nhắm vào những mục tiêu sau đây:
- Quy định những căn bản pháp lý làm nền tảng cho mọi
trao đổi thương mãi quốc tế;
- Tổ chức là diễn đàn đàm phán, thỏa thuận, thương
lượng về tất cả mọi dịch vụ thương mại giữa các quốc gia thành
viên.
Cũng
từ ngày 1/1/1995, VN đã nộp đơb xin gia nhập vào tổ chức trên và
trở thành quan sát viện của tổ chức. Nhóm công tác WTO cũng đã
được thành lập và có nhiệm vụ cứu xét đơn xin gia nhập của VN.
Tính
đến nay, VN đã trả lời trên 2.600 câu hỏi từ các thành viên, và
đã kết thúc đàm phán song phương với 21 quốc gia.
Đối
với HK, văn kiện chính thức giữa hai bên đã được ký kết vào ngày
31/5/2006 về những thỏa thuận trên nguyên tắcvề khả năng tiếp
cận thị trường song phương; từ đó sẽ giúp hai bên tái lập hàng
rào thuế quan cho những mặt hàng kỹ nghệ và nông phẩm, cùng dịch
vụ.
Kết
quả là hàng hóa xuất cảng từ HK vào VN như trang thiết bị xây
dựng, dược phẩm, phi cơ và các bộ phận rời bảo trì sẽ chịu thuế
xuất là 15% hay ít hơn. Về dịch vụ, VN cũng đã cam kết mở cửa
một số lãnh vực cấm kỵ từ trước như viễn thông và viễn thông vệ
tinh, lãnh vực tài chính, ngân hàng, và năng lượng cho HK nhúng
tay vào.
Một
khi đã vào WTO, VN cần phải tuân thủ những tính chất pháp trị
như: 1- giải quyết tranh chấp; 2- giảm bớt vai trò của mậu dịch
quốc doanh; 3- hủy bỏ những giới hạn nhập cảng của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài qua quyền thương mại; 4- hủy bỏ
những quy chế kinh tế phi thị trường. Ngược lại, HK sẽ áp dụng
kinh tế phi thị trường trong các vụ kiện chống phá giá cho đến
khi VN ra khỏi nền kinh tế phi thị trường. Thời gian chuyển tiếp
cho chính sách nầy là 12 năm sau khi VN gia nhập vào WTO. Và sau
cùng, VN phải tuân thủ quy tắc và luật bảo vệ sở hữu trí tuệ.
Để có
một khái niệm về kết quả của việc gia nhập vào WTO trong những
năm vừa qua của các quốc gia thành viên, một số báo cáo sau đây
cho thấy khuynh hướng cũng như thành quả của WTO ngày càng bị
thu hẹp lại. Vào năm 2003, trong kỳ họp WTO ở Cancun, Ngân hàng
Thế giới (WB) đã đưa ra những số liệu về thương mại toàn cầu qua
dịch vụ trao đổi trên thế giới là 832 tỷ Mỹ kim, trong lúc đó
539 tỷ nằm trong các sinh hoạt giữa các quốc gia đang phát
triển. Tuy nhiên, tổng kết năm 2005 cho thấy lợi ích của WTO
giảm xuống còn 287 tỷ cho thế giới, trong đó chỉ còn 90 tỷ trao
đổi giữa các quốc gia đang phát triển dù số thành viên của các
quốc gia nầy dự phần vào 90% tổng số thương mại toàn cầu.
Những khía cạnh thực tế
Vào
ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức được chấp thuận vào Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), cũng như vào cuối tháng 11/2006
vừa qua, quốc hội Việt Nam đã chính thức phê chuẩn các điều luật
trên. Việt Nam đã chính thức nhập cuộc rồi.
Vấn
đề nơi đây là cần ghi nhận đứng đắn nội lực thực tế của VN đứng
trước vận hội mới này, nghĩa là VN trao đổi, xuất cảng ra thế
giới bên ngoài những gì? Và ngược lại phải nhập cảng từ ngoại
quốc những sản phẩm nào? Giải đáp hai câu hỏi trên, chúng ta có
thể hình dung được thế mạnh và yếu của VN trong tương lai. Từ
đó, có thể dự phóng được một viễn ảnh cho đời sống người dân
trong những ngày hậu WTO.
Tính
đến ngày hôm nay, VN đã xuất cảng đi khắp nơi trên thế giới một
số lượng đáng kể về trọng lượng, nhưng ngược lại thu hồi một số
ngoại tệ không đáng kể so với lượng hàng bán ra. Đó là nông
phẩm, thực phẩm, tôm cá, các mặt hàng gia công như quần áo, giày
da, xẽ gỗ, dầu thô và một số mặt hàng tiểu thủ công nghệ.
Ngược
lại, VN phải nhập cảng xăng dầu và nguyên vật liệu, máy móc
thiết bị, hóa chất, phân bón, thực phẩm „cao cấp“ như thịt gà,
bò....., năng lượng, viễn thông, ngân hàng..... Đây là những mặt
hàng nhẹ về cân lượng nhưng cần phải chi ra một số lớn ngoại tệ.
Do đó, VN luôn luôn đối mặt với sự thâm thủng ngân sách cho
ngoại thương từ trước đến nay.
Thêm
nữa, những mặt hàng xuất cảng của VN chỉ để giải quyết cuộc sống
của hàng triệu nông dân hay công nhân với mức lương tối thiểu-
trong khi đó cuộc sống của nông dân và công nhân VN ngày càng tệ
hại hơn, mặc dù VN cố gắng gia tăng mức sản xuất hàng năm. Lấy
thí dụ về ngành may mặc hiện tại. Một công nhân Việt Nam làm
việc 12 giờ/ngày, sáu ngày/tuần lãnh được từ 600 đến 800 ngàn
Đồng VN/tháng, tương đương 37 đến 50 Mỹ kim. Trong lúc đó, một
thợ may Việt Nam tại Mỹ làm việc tám giờ/ngày với mức lương tối
thiểu quy định là 7,75 Mỹ kim/giờ, tức 62 US$/ngày, hơn xa một
tháng lương của một công nhân cùng ngành tại VN.
Tại
thị trường nội địa, hiện tại VN đang làm chủ vì lợi thế sân nhà,
và một số ngành nghề còn độc quyền và không cho người ngoại quốc
tham dự. Do đó, mức cạnh tranh chưa hề được đặt ra, và nếu có,
chỉ là những cạnh tranh giữa những nhà kinh doanh trong nước mà
thôi.
Một
khi cánh cửa WTO mở toang, VN sẽ không còn lý do nào để cấm đoán
ngoại quốc tham gia trực tiếp vào thị trường nội địa của VN. Từ
đó, mức cạnh tranh sẽ quyết liệt hơn và chưa chi thua thiệt có
thể chắc chắn về phần doanh thương VN qua sự chênh lệch về nguồn
vốn, kỹ thuật, cung cách khuyến mãi, và thị hiếu của người tiêu
dùng VN.
Xin
đan cử một thí dụ điển hình qua hình thức thương mại đơn giản
nhất là hệ thống �siêu thị�: Siêu thị Walmart ( Hoa Kỳ) có mức
doanh thu gấp 5-6 lần tổng sản lượng của VN, có thể tiêu diệt
các siêu thị nội địa trong cung cách thu mua với giá rẽ hơn vì
họ có thể chấp nhận không lời, hoặc lỗ trong thời gian đầu vì có
nhiều tiền vốn. Thêm nữa, họ có khả năng nhập thực phẩm và hàng
hóa từ ngoại quốc vào- điều trên đâøy càng nguy hiểm hơn vì nó
có thể giết chết nhiều dịch vụ chăn nuôi và trồng tỉa của người
dân. Một lợi thế nữa của các siêu thị ngoại quốc là dịch vụ
thanh toán thường chỉ giải quyết sau 90 ngày nhận hàng, chính
điều này khiến cho những nhà cung cấp VN sẽ không còn khả năng
tài chính để trả nợ cho ngân hàng sau mỗi thời vụ.
Trước
mắt, chúng ta thấy rõ những kỹ nghệ của VN liệt kê sau đây đang
đi dần vào chỗ bế tắc :
- Kỹ nghệ đường hiện nay hoàn toàn bị phá sản vì không
cạnh tranh được so với đường Trung Quốc và Thái Lan có phẩm chất
tốt hơn và giá rẽ hơn. Việc này kéo theo sự bế tắc của nông dân
trồng mía.
- Chăn nuôi gia súc ở VN cũng đang đứng trước cơn phá
sản do kỹ thuật chăn nuôi còn nhiều khiếm khuyết. Từ đó, việc
nhập cảng cánh và đùi gà Mỹ hiện tại là một dịch vụ đem nhiều
lợi nhuận lớn lao. Vì cánh và đùi gà Mỹ giá rất rẽ $0.2/bls ( vì
người Mỹ không thích ăn) , khi nhập vào VN có thể bán ra $1,5/kg
- Các kỹ nghệ đơn giản khác như xe đạp, dụng cụ làm
bếp, trang trí nội thất sẽ không còn khả năng cạnh tranh với
hàng TQ nếu chưa nói đến các nhà sản xuất lớn như ở HK, Pháp,
Ý..... Những mặt hàng rất bắt mắt và được người VN ưa chuộng từ
lâu. Chính tâm lý ưa chuộng hàng ngoại quốc của người VN sẽ giết
chết công kỹ nghệ VN khi VN gia nhập vào cuộc chơi chung. Và mặt
trái của WTO có thể biến VN thành một thị trường tiêu thụ của
quốc tế hơn là một thị trường sản xuất.
Một
số rào cản VN đang đối mặt trước ngưỡng cửa WTO được tiếp tục
trình bày sau đây cũng là những gợi ý mà VN cần lưu tâm. Đó là
những cản ngại của khu vực quốc doanh, ngành ngân hàng, khả năng
vận chuyễn đường biển, ngành viển thông di động và một số phản
ứng tâm lý của người dân VN trước tiến trình toàn cầu hóa.
Cản ngại của khu vực quốc doanh
Một
trong nhiều yêu cầu để VN gia nhập vào WTO là VN phải minh bạch
trong việc kiểm toán chi thu của quốc gia. Do đó, lần đầu tiên
trong lịch sử đảng, CSVN đã đưa ra bản báo cáo từng phần ngân
sách nhà nước năm 2005. Theo đó, riêng trong lãnh vực quốc
doanh, 19 tổng công ty và ngân hàng quốc doanh trên 4.447 quốc
doanh toàn quốc, cho thấy kết quả kiểm toán hoàn toàn đưa đến
việc thua lỗ và công ty quốc doanh đã làm kinh tế theo một chính
sách � phi kinh tế�. Sau đây là vài con số thua lỗ cũa các công
ty quốc doanh trong năm 2005: Ngành dệt may lỗ 328 tỷ Đồng ;
ngành giấy lỗ 199 tỷ Đồng ; ngành lương thực lỗ 183 tỷ Đồng (1
tỷ Đồng tương đương 60.000 Mỹ kim). Tổng số nợ của 16 doanh
nghiệp các ngành kễ trên là 47,000 tỷ đồng, tương đương với 80%
tổng tài sản của các công ty. Do đó, những công ty trên hoàn
toàn không còn khả năng thanh toán phần nợ và lỗ lã.
Hiện
tại, con số các công ty quốc doanh biến thành cổ phần hóa (tức
tư nhân hóa) là 3.830. Trong đó vốn nhà nước là 49%, công nhân
viên, cán bộ trong doanh nghiệp đóng góp 26%, và vốn tư nhân đầu
tư ngoài doanh nghiệp 25%. Với tỷ lệ và thành phần cổ đông như
trên, thì trách nhiệm hay linh hồn của công ty vẫn là nhà nước
hay quốc doanh mà thôi. Và đối với việc kinh doanh lỗ lã trên,
nhà nước VN lại phải gánh chịu hay „ Đất nước VN“ qua hơn 84
triệu dân, phải cật lực lao động để trả nợ? Và một khi đã „giải
tư“ theo cung cách vừa kể, công ty tư doanh cổ phần sẽ thuộc về
ai? và ai sẽ chịu trách nhiệm? Do đó, qua việc tư nhân hóa để
thỏa mãn yêu cầu cũa những luật định WTO, vô hình chung, VN đã
biến các công ty quốc doanh thành một loại công ty dưới cơ chế
bao cấp khác.
Ngoài
ra, đừng quên rằng, đã từ hơn 30 năm qua ở VN, các cơ chế làm
kinh tế bao cấp đã đưa đất nước vào ngõ cụt. Có thể nói nhận
định gần đây của ông Đào Xuân Sâm, ban nghiên cứu của Thủ tướng
hiện tại, đã nói lên một cách rốt ráo vấn đề nầy: „ Trong hơn 10
năm qua, song song với vịệc tư doanh đổi mới và tăng trưởng
thành công, khu vực kinh tế nhà nước trên thực tế đã trở lại cơ
chế cũ tập trung quan liêu - bao cấp, có khác chăng là trong nền
kinh tế thị trường „bao cấp hiện vật“ chuyển thành „bao cấp tài
chính“ „. Và cơ chế bao cấp này cũng chính là mọt hình thức của
cơ chế xin - cho, đã trở thành miếng đất màu mỡ cho nạn tham
nhũng lộng hành trong khu vực nhà nước, từ đơn vị kinh tế cơ sở
đến các cấp cao nhất của chính quyền“.
Như
vậy, VN làm thế nào và bằng cách nào để thực hiện được lời T.T
Nguyễn tấn Dũng mới vừa tuyên bố là trong vòng 5 năm tới, VN bảo
đảm cổ phần hóa 100% doanh nghiệp quốc doanh?
Cản ngại của ngành ngân hàng
Cũng
theo quy định của WTO, VN phải mở cửa ngân hàng, chấp nhận dịch
vụ ngân hàng ngoại quốc trong giai đoạn chuyển tiếp (năm năm
sau khi gia nhập) có thể đầu tư tối đa 30% tổng số vốn của
ngân hàng. Một khi VN chính thức vào cuộc, tư nhân nào có thể
mua cổ phần còn lại (tức 70%) của một ngân hàng ngoại quốc, vốn
dĩ có nguồn vốn lớn và bằng hệ thống tiền tệ cứng (hard
currency), trong lúc đó tư nhân, hay tập thể tư nhân VN chỉ có
khả năng đóng góp bằng những số vốn nhỏ và thế chấp, cũng như
chuyển hóa cơ sở vật chất thành tiền. Từ đó, dù công ty ngoại
quốc không chiếm đa số tuyệt đối, nhưng vẫn có khả năng khuynh
đảo thị trường bằng những thủ thuật kinh tế tư bản, và VN sẽ
chịu một sức ép không nhỏ về vấn nạn này.
Trở
lại các Công ty ngân hàng VN, một trong những lý do các doanh
nghiệp quốc doanh thua lỗ mà vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay,
là việc nhà nước tiếp tục bơm tiền bù lổ thông qua các ngân hàng
quốc doanh . Hay nói cách khác, các ngân hàng phải chịu sức ép
từ nhà nước, bị bắt buộc tiếp tục cho công ty quốc doanh vay căn
cứ theo chủ trương chính trị hơn là căn cứ theo tình trạng kinh
tế.Và sau cùng, ngân hàng được nhà nước tái cấp thêm những ngân
khoản bổ sung. Đó là trường hợp của bốn ngành Ngân hàng Công
thương, Ngân hàng ngoại thương, Ngân hàng Đầu tư & Phát triển,
Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển. Do đo,ù việc cổ phần hóa
ngân hàng quốc doanh hoàn toàn bế tắc, và việc chuyển doanh
nghiệp quốc doanh sang chế độ hoạt động của một công ty trách
nhiệm hữu hạn là một việc làm không tưởng, ít ra trong những năm
sắp tới.
Cản ngại về khả năng chuyễn vận hàng hóa
Việc
gia nhập vào WTO đòi hỏi quốc gia thành viên phải có tiềm lực về
chuyễn vận hàng hóa hai chiều. VN đã chuẫn bị vấn đề này như thế
nào? Các thông tin dưới đây tương đối đầy đủ để mô tả tình trạng
vận chuyển đường biển của VN.
Chỉ
bốn ngày sau khi được bãi bỏ cấm vận năm 1994, công ty chuyễn
vận hàng hóa APL, Hoa kỳ đã bắt đầu hoạt động trở lại cho các
tuyến đường Mỹ - Việt Nam. Đây là một đại công ty trong dịch vụ
chuyễn vận trên 50 quốc gia. Từ năm 2004, APL đã thành lập thêm
hai chi nhánh là Vietnam China Express (VCX ) và Haiphong China
Express (HCX ). Những dịch vụ này đã rút ngắn thời gian vận
chuyễn trong những năm trở lại đây: Từ Sài Gòn đến Seattle chỉ
còn 15 ngày, và Saigòn đến Los Angeles là 17 ngày. Còn Hải Phòng
đến Seattle và Los Angeles là 13 và 15 ngày. Ưu điểm này đã làm
giảm giá thành và tăng thêm lượng hàng hóa giao thông do việc
gia tăng lượng chuyển vận đi - về.
Trong
khi đó, tình trạng vận tải đường biển của VN hoàn toàn không đáp
ứng nhu cầu vận chuyễn viễn liên này. Theo thống kê, VN có trên
1000 tàu với tổng trọng tải khoảng 3,5 triệu tấn, trong đó chỉ
có hơn 300 tàu hoạt động trên các tuyến đường quốc tế trong khu
vực. Các tàu vận chuyển VN có trọng tải dưới 20,000 tấn, cho nên
không có khả năng giải quyết mức trao đổi hàng hóa đường biển.
Và bất lợi hơn nữa là giá thành vận chuyển cao và vòng xoay đi -
về không đạt hiệu quả kinh tế.
Theo
thống kê 2005, đội tàu VN chỉ chiếm 7% số tấn trọng tải hàng hóa
2 chiều mà thôi. Trong lúc đó những nước nhỏ láng giềng như
Singapore chỉ có khoảng 900 tàu nhưng tổng trọng tải lên đến
36,5 triệu tấn. Thậm chí, đội tàu của Campuchia đã chuyễn vận
gần 5 triệu tấn, hơn VN hàng triệu tấn. Do đó, ngay tại sân nhà,
đội tàu VN đã bị lấn áp bởi các công ty ngoại quốc như Maersk
line, NYK, P&O trong dịch vụ chuyển vận dầu thô và hàng hóa
trong vùng.
Những
thông tin trên cho thấy rằng VN còn phải đối mặt với nhiều sức
ép sau khi gia nhập vào WTO, và nếu không có kế hoạch tạo dựng
một lực lượng tàu với trọng tải lớn hơn, huấn luyện nhân viên
quản trị chuyễn vận, cùng điều chỉnh và canh tân hệ thống quản
lý điều hành, thì cuộc chạy đua cạnh tranh với quốc tế sẽ thấy
VN ở thứ hạng thấp nhất.
Cản ngại của ngành viễn thông và điện thoại di động
Đây
là một ngành tương đối mới ở VN mà trong những năm gần đây mức
tăng trưởng của việc xử dụng điện thoại di động tăng từ 60 đến
70% hàng năm. Tính đến 2005, tổng số điện thoại di động thuê bao
ở cả nước đạt được 12 triệu . Chính vì lý do đó, các hảng điện
thoại ngoại quốc như Motorola, Nokia, Siemens, Ericsson, Telenor
và Lucient Technologies đã khai thác và ráo riết cung cấp dịch
vụ ở VN. Trong lúc đó, VN chỉ hiện diện qua năm công ty quốc
doanh mạng di động như Vina phone, Mobifone, Viettel mobile,
S-fone, E-mobile đang hoạt động, và một công ty mới sắp ra mắt
là Hanoi Telecom.
Đứng
trước sự xâm nhập của các đại công ty ngoại quốc, từ tháng 1 năm
2006 vừa qua, các công ty VN đồng loạt hạ giá cước, do đó cước
viễn thông của VN giảm dần và đang ở mức giá trung bình tại ĐNA,
không còn đứng đầu như cách đây năm năm. VN cũng đã dự trù vào
2008 sẽ phóng vệ tinh VINASAT, từ đó sẽ tạo cơ hội cạnh tranh
nhiều hơn với các công ty nước ngoài. Và VN cũng dự trù cổ phần
hóa (tư nhân hóa) các công ty trên để có thể hội nhập vào thị
trường chứng khoán tự do.
Nhờ
vào những lợi điểm trên sân nhà, VN đã đẩy mạnh chương trình
viễn thông di động, tuy nhiên với nguồn vốn không đủ lớn, sau
khi hội nhập cuộc chơi WTO, các công ty ngoại quốc có thể khai
thác sức mạnh nguồn vốn để thôn tính các công ty VN qua các điều
kiện thuận lợi trong thị trường VN, mặc dù trong giai đoạn
chuyển tiếp, các công ty nước ngoài chỉ được đóng góp vốn đến
49% và cũng chỉ được liên doanh với đối tác VN đã được cấp giấy
phép.
Hơn
nữa, ngoài khả năng nguồn vốn, công ty ngoại quốc còn ở thế mạnh
về công nghệ sản xuất và cung cách khuyến mãi theo cung cách tư
bản làm cho công ty VN khó có khả năng đối đầu ở mặt trận nầy.
Tuy nhiên, VN cũng có thể dùng thời gian còn đặc ân 12 năm để
làm rào cản hạn chế bớt sự xâm nhập của các công ty viễn thông
ngoại quốc vào VN.
Cũng
cần lưu ý là, hiện tại VN chú trọng nhiều đến viễn thông di
động, nhưng không phát triển viễn thông „cố định“, tức là điện
thoại dùng hệ thống dây cáp quang để có thể liên lạc và thông
tin khi có biến động xảy ra như chiến tranh hay áp lực của thế
giới tây phương. Vì còn lệ thuộc vào ngoại quốc, VN chưa chủ
động được việc điều hành vệ tinh viễn thông, cho nên viễn thông
di động VN có thể bị gián đoạn, vì các công ty cho thuê bao vệ
tinh viễn thông có thể cắt đứt hợp đồng trước sức ép của quốc
tế(!) để gây khó khăn cho VN.
Cản ngại do tâm lý dân tộc trước tiến trình toàn cầu hóa
T.S
Branco Milanovic, kinh tế gia của Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra
nhận định cần suy gẫm. Đó là „Toàn cầu hóa đã làm tăng thêm sự
bất bình đẳng giữa công dân của những nước giàu nhất cũng như
giữa các quốc gia đang phát triển“. Lý do làm ông đưa ra nhận
định trên là những phản ứng trái ngược từ phía các quốc gia kỹ
nghệ và những nước đang phát triển đối diện với sự phất triển
của ẤnĐộ và Trung Quốc.
Đó
là:
- Các cường quốc trong WTO „khó chịu“ trước nhũng bước
tiến của TQ và AĐ, dù họ cũng thực hiện cùng một chiến lược toàn
cầu hóa do các cường quốc khơi mào.
- TQ và AĐ hiện có khả năng cạnh tranh trên phạm vi
toàn cầu, nhưng chỉ có một phần nhỏ dân cư của họ có cuộc sống
phồn vinh. Sự bất bình đẳng ngày càng tăng giữa dân thành thi và
nông thôn, giữa miền duyên hải và nội địa ở Trung Quốc; những
bất ổn chính trị cũng có thể tự đó mà có.
Tại
VN, sau hơn 20 năm mở cửa phát triển, và sau 10 năm mức tăng
trưởng đạt chỉ tiêu từ 7% trở lên, VN phải đối mặt với tình
trạng môi trường hầu như bế tắc qua việc tận dụng nguồn tài
nguyên đất đai trong phát triển nông nghiệp, chăn nuôi và trồng
trọt.
Việc
phát triển và xuất cảng hàng năm 5 triệu tấn gạo, thu hồi 1,5 tỷ
Mỹ kim, cũng như việc xuất cảng hải sản thu hồi trên 5 tỷ, có
đem lại sự phồn vinh hay cải thiện cuộc sống của người dân ĐBSCL
hay không? Nhìn vào mức di dân từ vùng này vào các thành phố
lớn, nhìn vào tệ trạng học sinh bõ học hàng loạt trong những năm
gần đây, nhìn vào việc chấp nhận „ làm dâu“ người ngoại quốc
của các thiếu nữ miền Tây, nhìn vào tất cả những hình thái tệ
hại nhất trong việc buôn người, bán trẻ con... chúng ta cũng đã
có thể hình dung câu trả lời.
Thêm
nữa, việc khai thác quá độ nguồn đất ở VN sẽ đưa đến mhững thảm
họa không xa. LHQ mới vừa cảnh giác, nếu VN tiếp tục khai thác
như những năm vừa qua, thì trong vòng 10 năm nữa sẽ có 4 triệu
mẫu đất bị sa mạc hóa.
Đây
cũng là nguyên nhân dự báo trước khiến cho tâm lý người dân ở
những vùng nông nghiệp, vùng sâu và xa càng thêm tuyệt vọng và
ngày càng đánh mất lòng tự trọng để làm bất cứ việc gì chỉ vì kế
„mưu sinh“. Chính họ đã xem nhẹ số phận của chính mình và không
còn niềm tin vào chính sách của nhà nước nữa. Tâm lý trên đã tạo
ra một thái độ bất cần đời, bất hợp tác, hay nguy hiểm hơn nữa,
là có thể tạo ra những bất ổn xã hội vì „cơm áo“. Từ đó có thể
đưa đến một bất ổn chính trị nếu có một sự khơi mào trong tầng
lớp bần cùng này. Đây cũng là một cản ngại mà VN cần phải lưu
tâm.
Thay lời kết
Sự
phát triển xã hội của một quốc gia được đánh giá là bền vững khi
tầng lớp trung lưu chiếm đa số như ở các quốc gia Tây Âu và Hoa
Kỳ. Và chính tầng lớp trung lưu nầy là tác nhân điều tiết mọi
biến động kinh tế của quốc gia. Trong trường hợp VN, mặc dù mức
tăng trưởng có đều nhưng đồng thời khoảng cách giàu nghèo cũng
gia tăng, và trong tình trạng hiện tại, tầng lớp trung lưu chỉ
chiếm theo ước tính độ 30% chưa đủ để làm chất đệm cho xã hội.
Chính hai yếu tố nầy nói lên cung cách phát triển kinh tế của VN
là chưa bền vững được.
Đồng
thời với việc gia nhập vào ngưỡng cửa WTO, VN đã lên tiếng báo
động là có thể có 600 ngàn công nhân ngành dệt may, 300 ngàn
công nhân ngành giầy da, 400 ngàn nông dân chăn nuôi thủy sản có
nguy cơ bị mất việc vì cạnh tranh. Vấn đề được đặt ra nơi đây
không phải là những con số dương tính hay âm tính. Nhưng l à
việc VN cần soi chiếu vào tình trạng hiện tại của quốc gia để
hoạch định hướng hội nhập thích nghi với tiến trình toàn cầu hóa
màtrong đó việc gia nhập vào WTO chỉ là một bước trong tiến
trình trên.
Qua
những gợi ý về những cản ngại căn bản trên, việc gia nhập vào
WTO của VN không phải là một yếu tố đòn bẩy chủ yếu tạo nên tăng
trưởng kinh tế quốc gia. Điều cốt lõi là VN cần phải chuyển đổi
não trạng, xác định rõ chính mức tăng trưởng kinh tế quốc gia
mới có thể tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng và thúc đẩy quá
trình hội nhập của VN để được thành công hơn. Đây mới đúng là
mục tiêu tối hậu của việc hội nhập vào cuộc chơi của toàn cầu.
Muốn
đạt mục tiêu, VN cần phải phát triển lành mạnh và trong sáng
trong quản lý, nghĩa là tạo ra một xã hội pháp trị, quản lý bằng
luật định của quốc hội chứ không bằng nghị quyết đến từ bất cứ
nhân vật cao cấp nào trong đảng. VN cần phải bình đẳng và công
bằng trong mọi quyết định về nhân sự, đặc biệt là nhân sự trong
vấn đề quản lý kinh tế và kế hoạch, khuyến khích tư nhân đầu tư
nguồn vốn và chất xám vào công cuộc phát triển quốc gia chung.
Đặc biệt là cần phải chấm dứt chính sách Hồng hơn Chuyên, vì đây
mới đích thực là một cản ngại lớn nhất cho mọi tiến bộ của đất
nước..
Làm
được như thế, VN sẽ giảm bớt gánh nặng phá sản của các công ty
quốc doanh, kéo theo mức thâm thủng của ngân hàng qua những món
nợ „xấu“. Hai yếu tố sau nầy là nguyên nhân chính của tình trạng
tham nhũng trong nước.
Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) đã nhận định rằng, qua tám
năm thi hành „quy chế dân chủ cơ sở“, VN vẫn không thực hiện
được lời hứa một cách nghiêm chỉnh mà bị nhiễm bởi „chủ nghĩa
hình thức“ và môi trường dân chủ của VN là một „môi trường bất
thường“ vì chế độ độc đảng.
Suy
gẫm lại đúc kết của Chương trình Phát triển LHQ, chúng ta có thể
thấy được những nguyên do của sự trì trệ trong phát triển Việt
Nam từ bây giờ để từ đó, hy vọng có những chuyển đổi tích cực
hơn trên đường áp dụng các quy định của Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO) trong tương lai.
Mai
Thanh Truyết
Tết
Đinh Hợi - 2007
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |