|
Năng lượng chúng ta đang tiêu dùng xuất phát từ
nhiều nguồn khác nhau. Từ thiên nhiên, cần phải kể đến than đá,
than bùn, dầu hỏa, và khí thiên nhiên. Do nhân tạo, có nguồn
năng lượng từ thủy điện còn được gọi là than trắng, nguồn nguyên
tử năng, và năng lượng từ gió và từ ánh sáng mặt trời.
Đối với các tài nguyên thiên nhiên thuôc nhóm
thứ nhất, theo ước tính thì khoảng độ 80 năm nữa, các nguồn năng
lượng trên sẽ bị cạn kiệt vì con người đã và đang tận dụng tối
đa, và với mức độ cấp số nhân nhanh hơn mức tái tạo của thiên
nhiên. Do đó, ngay từ bây giờ nếu không chuẩn bị để nghiên cứu
hay truy tìm những nguồn tài nguyên về năng lượng mới, thế giới
sẽ đi dần đến sự tự hủy diệt.
Đối với nguồn năng lượng đến từ nhóm hai, thủy
điện đã xuất hiện từ hơn 70 năm trước đây, và đã là nguồn hy
vọng cho nhân loại trong một thời gian dài. Từ ban đầu và căn cứ
theo hướng suy nghĩ của những nhà khoa học thời bấy giờ thì thủy
điện là một nguồn điện năng sạch và toàn hảo vì không tạo ra ô
nhiễm môi trường. Do đó, các đập thủy điện được tiếp nối xây
dựng ồ ạt từ các quốc gia tân tiến cho đến những quốc gia đang
phát triển. Nhưng trong khoãng 20 năm trở lại đây, khoa học gia
trên thế giới đã nhận định đúng đắn thảm nạn môi trường do thủy
điện gây ra. Đó là:
1- Thủy điện đã làm đão lộn hoàn toàn hệ sinh
thái của một vùng rộng lớn chung quanh hồ chứa cũng như ở thượng
nguồn và hạ nguồn của đập;
2- Thủy điện làm giảm thiểu hoặc hủy diệt đa dạng
sinh học của toàn vùng;
3- Hiệu quả kinh tế của thủy điện hoàn toàn bị
đão ngược vì chi phí cần thiết để tái tạo lại môi trường thiên
nhiên đã bị đánh mất cao hơn lợi nhuận do việc cung cấp điện
năng.
Hai thí dụ điển hình minh xác qua trường hợp của
hàng chuổi đập thiết lập dọc theo sông Colorado (Hoa kỳ) và
Hoàng hà (Trung Quốc); và sau hơn vài chục năm khai thác, dòng
chảy của hai con sông nầy không còn điểm đến là vịnh Mễ tây cơ
và biển Trung hoa nữa. Ở Việt Nam, dù mới khai thác đập thủy
điện trong khoảng hơn 10 năm nay, nhưng nhiều tác hại đã xảy ra
như trường hợp đập Yali đã làm ngập lụt một thành phố ở Cambodia
năm 2000 sau khi được khai thác vào năm thứ hai mà thôi.
Tuy nhiên đối với các nước đang phát triển ở Á
châu như Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Việt Nam, việc thiết lập các
đập thủy điện mới để giải quyết nhu cầu điện năng cho quốc gia
trong hiện tại là một việc làm thiếu một tầm nhìn nghiêm chỉnh
cho tương lai. Họ không rút tỉa được kinh nghiệm của các quốc
gia Tây phương đang trên đà phá vỡ các đập đã xây dựng ngõ hầu
tái tạo hệ sinh thái của vùng, đồng thời cũng không học hỏi kinh
nghiệm về các tác hại môi trường vì không nghiên cứu tác động
môi trường trong kế hoạch thiết lập đập.
Đối với nguồn năng lượng do nguyên tử năng, mức
an toàn trong vận hành vẫn là một dấu hỏi lớn và tác hại đến
nhân sự và môi trường trong trường hợp tai nạn xảy ra đã làm cho
nhiều quốc gia do dự khi quyết định xây dựng thêm nhà máy.. Thêm
nữa năng lượng nầy thải hồi nhiều thán khí (carbon dioxide) ảnh
hưởng đến tầng ozone của bầu khí quyển và nhất là phế thải
nguyên tử vẫn còn là một nan đề chưa giải quyết được của nhân
loại.
Trong nhóm nầy chỉ còn lại năng lượng đến từ gió
và ánh sáng mặt trời là tương đối an toàn cho chúng ta. Ngoài
ra, trong cuộc chiến đấu cho sinh tồn của nhân loại cần phải kể
thêm ngoài năng lượng gió, còn có việc truy tìm nguồn thay thế
cho dầu khí, đó là nguồn hóa chất methanol, ethanol và các chất
phế thải gia cư và kỹ nghệ.
Đó là các nguồn năng lượng sạch vừa giải quyết và
thay thế các nguồn năng lượng thiên nhiên sắp bị cạn kiệt, và
nhất là bảo vệ môi trường thiên nhiên đồng thời giải quyết một
phần nào ô nhiễm môi trường do con người tạo ra.
Vào ngày 7/12/04, Viện Năng Lượng và Ngân hàng
Phát triển Á Châu vừa tổ chức một hội thảo quốc tế tại Hà Nội về
phát triển năng lượng tái tạo và làm giảm thiểu thải hồi khí nhà
kính cùng hạn chế sự hâm nóng toàn cầu. Chính hai nguyên nhân
vừa kể là trọng tâm của tất cả những cuộc nghiên cứu về tình
trạng khan hiếm nguồn nguyên liệu dầu thô trên thế giới.
Hiện tại, con người tùy thuộc vào các nguồn tài
nguyên thiên nhiên như than đá , dầu hỏa và các khí đốt để tạo
ra năng lượng. Các loại năng lượng vừa kể trên ảnh hưởng rất
nhiều lên hiệu ứng nhà kính và hiện tượng hâm nóng toàn cầu. Do
đó, gần 30 năm qua, con người cố gắng truy tìm những nguồn năng
lượng khác trong đó nguyên liêu được xử dụng là những nguồn năng
lượng thiên nhiên như gió, ánh sáng mặt trời, thủy triều và sóng
biển v.v....Ngoài ra phế thải từ các sản xuất kỹ nghệ, phế thải
gia cư, thậm chí đến phế thải của người và thú vật cũng có thể
biến cải thành năng lượng được. Và các loại năng lượng vừa kể
trên có tên chung là năng lượng tái tạo.
Ngoài ra nguồn năng lượng sinh khối (biomass)
cũng là một nguồn năng lượng tái tạo quan trọng xử dụng từ các
chất hữu cơ trong cây cỏ, bãi rác, phó sản hữu cơ trong công
nghiệp, thậm chí đến khí thải methane từ các bãi rác.
Những nguồn năng lượng vừ kể trên khá phức tạp và
cũng khá quan trọng, và sẽ là một trong những nguồn năng lượng
chính trong tương lai. Chúng sẽ thay thế các nguồn tài nguyên
thiên nhiên trong việc sản xuất năng lượng nhất là điện năng. Có
ba lợi điểm tăng cường thêm tầm quan trọng của nguồn năng lượng
nầy là:
1-
Về Môi trường: Công nghệ cho các
loại năng lượng tái tạo là công nghệ sạch và nguyên liệu xử dụng
hoặc đã có sẳn trong thiên nhiên và không tạo ra ô nhiễm như mặt
trời, gió, sóng biển v.v...; hoặc là những phó phẩm hay phế thải
từ các công nghệ khác thay vì cần phải xử lý, nay được xử dụng
lại, do đó, công nghệ tái tạo nầy đương nhiên tiếp tay vào việc
giải quyết ô nhiễm môi trường;
2-
Về tương lai: Đây là một loại năng
lượng dành cho các thế hệ cháu, chắc của chúng ta vì nguồn
nguyên liệu không bao giờ bị cạn kiệt;
3-
Về an ninh quốc gia: Vì không còn
tùy thuộc vào các nguồn nguyên liệu cổ điển, đối với một quốc
gia, một khi đã đẩy mạnh công nghệ năng lượng tái tạo, thì mức
an ninh quốc phòng được bảo đảm thêm vì không còn tùy thuộc vào
lượng năng lượng cần phải nhập cảng từ các quốc gia khác.. Và
trong tương lai, sẽ không có những cuộc khủng hoảng năng lượng
trên thế giới như đã xảy ra vào thập niên 70.
Song hành với việc truy tìm những nguồn năng
lượng sạch và năng lượng tái tạo, nhân loại cần phải nâng cao
hiệu năng trong vịêc xử dụng các loại năng lượng nầy. Chính việc
nầy cũng là một việc làm cần thiết trước nguy cơ của sự hâm nóng
toàn cầu. Và đây cũng là một yếu tố quan trọng trong sự phát
triển quốc gia. Từ năm 1970 đến 2000, mức xử dụng năng lượng ở
Hoa Kỳ đã tăng 45%, trong lúc đó tổng sản lượng quốc gia tăng
160%. Hay nói một cách khác, lượng năng lượng dùng cho một Mỹ
kim giảm 44% từ năm 70 đến 90. Hay cũng có thể nói, nền kinh tế
quốc gia Hoa Kỳ đã dùng ít năng lượng hơn để phát triển và giảm
thiểu ô nhiễm.
Có nhiều loại năng lượng tái tạo điển hình như:
năng lượng sinh khối (biomass) hay còn gọi là năng lượng vi sinh
(biogas), năng lượng địa nhiệt (geothermal energy), năng lượng
hydro, và năng lượng đại dương, năng lượng gió, năng lượng mặt
trời, v.v…
Về năng lượng sinh khối, đây là một loại năng
lượng tái tạo đặc biệt vì loại năng lượng nầy có thể sản xuất
trực tiếp ra khí đốt, xăng dầu cho các hệ thống giao thông như
xe cộ, xe lưả, thậm chí nguyên liệu cho máy bay. Có hai loại
năng lượng sinh khối là rượu ethanol và dầu diesel sinh học
(biodiesel).
Ethanol hay rượu cồn là do sự lên men của các
loại chứa carbohydrat cao như tinh bột, đường và các sợi
cellulose thực vật. Ethanol là hóa chất cần thiết để pha trộn
vào xăng chạy xe để làm giảm thiểu lượng carbon monoxide (CO)
thải hồi vào không khí. Hiện tại lượng rượu có thể trộn lẫn vào
xăng lên đến 85% thể tích. Còn diesel sinh học là do sự pha trộn
giữa rượu và dầu thực vật hay động vật. Hổn hợp nầy có thể làm
giảm 20% khí CO so với việc xử dụng diesel cổ điển.
Quá trình chuyển đổi từ năng lượng sinh khối qua
địên năng gồm 2 quy trình khác nhau như:
1-
Đốt trực tiếp, biến thành khí đốt,
qua sự tiêu hóa yếm khí (anaerobic digestion);
2-
Sự khử nước, sự đốt cùng với một
nguyên liệu khác (co-firing).
Tuy nhiên hầu hết các nhà máy điện từ biomass
trên thế giới đều áp dụng phương pháp đốt trực tiếp. Còn năng
lương sinh khối từ các phế thải động vật sản xuất ra hơi nóng
sau khi đốt và hơi nóng sẽ chạy qua một turbine và máy phát điện
để biến cải thành điện năng.
Còn năng lượng từ sức nóng của địa cầu hay địa
nhiệt đã được nghiên cứu qua nhiều công nghệ khai triển loại
năng lượng nầy để biến thành điện năng, hoặc dùng để sưởi nóng
các quy trình công nghệ cần nhiệt độ cao. Đây cũng là một loại
năng lượng tái tạo từ thiên nhiên. Hoa Kỳ đang thử nghiệm loại
năng lượng nầy ở Nevada, và đã có nhiều kết quả rất khích lệ.
Năng lượng hydrogen đã được chú ý như sau:
Hydrogen là một nguyên tố chiếm tỷ lệ cao nhất so với tất cả các
nguyên tố khác trên địa cầu. Nhưng hydrogen không hiện diện dưới
dạng nguyên tử hay phân tử mà dưới dạng hợp chất với các nguyên
tố khác như nước gồm có hai hydrogen và một oxygen. Do đó một
khi hydrogen được tách rời, sẽ biến thành một nguồn cung cấp
nhiệt năng rất lớn và là một loại năng lượng sạch.
Hydrogen có thể tách rời qua sự điện giải nước (H2O).
Trong thiên nhiên, một số rong rêu và vi khuẩn, qua sự tiếp hợp
của ánh sáng mặt trời có thể phóng thích ra hydrogen. Đây là một
loại năng lượng không làm ô nhiễm không khí. Cơ quan quốc gia
Nghiên cứu không gian Hoa kỳ từ năm 1970 đã xử dụng hydrogen làm
nguyên liệu chính cho các hỏa tiển chuyên chở các tàu vũ trụ vào
không gian.
Sau cùng, đại dương cũng là một loại năng lượng
tái lập và có thể sản xuất ra hai loại năng lượng: nhiệt năng từ
sức nóng của mặt trời, và cơ năng từ thủy triều và sóng biển.
Đại dương bao bọc hơn 70% diện tích địa cầu, do đó đây là một
nguồn tiếp nhận ánh sáng mặt trời quan trọng nhất. Sức nóng của
mặt trời làm ấm nước mặt của đại dương, và độ ấm nầy cao gấp
nhiều lần hơn độ ấm của dòng nước biển dưới sâu. Sự khác biệt
nhiệt độ giữa hai luồng nước biển nầy sẽ tạo ra nhiệt năng. Từ
đó nhiệt năng có được sẽ biến cải thành điện năng theo ba công
nghệ khác nhau: công nghệ chu kỳ kín, công nghệ chu kỳ hở, và
công nghệ hổn hợp. Nguyên lý của chu kỳ kín là làm bốc hơi nước
biển ở nhiệt độ thấp qua sự hiện diện của ammoniac. Còn chu kỳ
hở là làm nước biển bốc hơi dưới áp suất thấp. Chu kỳ hổn hợp là
sự phối hợp của hai phương pháp trên. Hơi nước biển sẽ đi qua
một turbine và biến thành điện năng.
Về loại năng lượng thủy triều và sóng biển, Hoa
Kỳ đã chọn một địa điểm ở Rhode Island là Port Judith làm thí
điểm thử nghiệm với chi phí là 1 triệu Mỹ kim. Thí điểm nầy dự
trù cung cấp 700 KW khi bắt đầu hoạt động vào năm 2006.
Đứng trước những dự kiến về một cuộc khủng hoãng
năng lượng trong tương lai, các quốc gia trên thế giới đang chạy
đua với thời gian để truy tìm những loại năng lượng tái tạo mới,
hầu thỏa mản tiến trình toàn cầu hóa qua Nghị định thư Kyoto
1997 về ô nhiễm không khí và hiệu ứng nhà kính. Anh Quốc đã dự
kiến đầu tư 100 triệu Mỹ kim cho nghiên cứu năng lượng đại dương
và hy vọng loại năng lượng nầy có thể cung ứng 10% tổng số năng
lượng xử dụng cho toàn quốc trong năm 2010, và lên đến 15% cho
năm 2015.
Có thể đây là một dự phóng tương lai rất tiến bộ
về năng lượng của Anh Quốc chăng? Câu trả lời có thể được giải
đáp trong vài năm nữa khi các dữ kiện khoa học được thu thập đầy
đủ. Và nếu dự phóng nầy thành công thì nhân loại đã thực hiện
được một cuộc cách mạng lớn về năng lượng cho toàn cầu.
Kết luận
Trên đây là những suy nghĩ đã được khơi mào để
đóng góp vào: 1- Việc hạn chế hiệu ứng lồng kín, và sự hâm nóng
toàn cầu theo tinh thần của Nghị định thư Kyoto 1997; 2- Giải
quyết ô nhiễm môi trường do việc gia tăng dân số và phát triển
xã hội của các quốc gia trên thế giới; 3- Và nhất là để bổ túc
vào sự thiếu hụt năng lượng trên thế giới trong tương lai khi
các nguồn năng lượng trong thiên nhiên sắp bị cạn kiệt.
Các quốc gia trên thế giới hiện đang đứng trước 3
vấn nạn chính: - Nhu cầu năng lượng để phát triển kinh tề và cân
bằng mức gia tăng dân số; - Nhu cầu gia tăng phúc lợi của người
dân; -Và nhu cần giải quyết ô nhiễm môi trường qua việc gia tăng
phát triển.
Đối với các quốc gia có trình độ phát triển và kỹ
thuật cao, ba nhu cầu trên đã được giải quyết và họ đang đi dần
đến những công nghệ “sạch” trong phát triển cộng thêm viễn kiến
lớn hướng về tương lai để thay thế một số nguồn năng lượng không
còn thích hợp trong việc bảo vệ môi trường.
Đối với các quốc gia đang phát triển trong đó có
Việt Nam, hiện đang phải tập trung vào nhu cầu đầu tiên, nghĩa
là cần phải gia tăng phát triển để vứa giải quyết việc gia tăng
dân số vừa cố gắng thâu ngắn cách biệt giàu nghèo so với các
nước đã phát triển, do đó họ không có điều kiện hay không cố
gắng tạo điều kiện để thực hiện hai nhu cầu sau. Vì lý do đó,
triển vọng hội nhập vào cuộc chơi toàn cầu hóa của thế giới vẫn
còn xa vời. Và vô hình chung, chính họ đã hướng dẫn đất nước họ
vào con đường bế tắc do việc phát triển không đồng bộ, vô tổ
chức, thiếu kế hoạch đúng đắn và dài hạn gây ra, trong đó việc
xem thường công cuộc bảo vệ môi trường là một trong những nguyên
nhân chính yếu.
Tương lai của mỗi quốc gia đều nằm trong tầm tay
của những người nắm quyền bính, và chỉ có họ với tầm nhìn xa mới
có khả năng đưa đất nước cất cánh đi lên. Xin đừng ù lì dậm chân
tại chỗ, thụ động mong chờ viện trợ đến từ bên ngoài, cũng như
tận tình hủy hoại đất nước như đã xảy trong quá khứ và hiện tại.
Mai Thanh Truyết
West Covina 12/2007
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |