|
Hỏi 1:
Tc Khoa Học
Môi Trường KH&MT hôm nay tiếp tục trao đổi với TS Mai Thanh Truyết MTT về Báo
cáo Hiện trạng Môi trường 2005. Sau các nhận định về sức ép lên môi trường, cùng
ảnh hưởng của việc phát triển kinh tế xã hôị, câu hỏi đầu tiên cho Ts là các
hoạt động bảo vệ môi trường của VN trong thời gian qua như thế nào?
Đáp 1: Thưa anh. Nói
về hoạt động bảo vệ môi trường của Việt Nam trong thời gian qua, nhìn chung,
chúng ta có thể nói rằng, Việt Nam đã có nhiều cố gắng để cải thiện tình trạng
xuống cấp chung của môi trường trong bốn lãnh vực sau đây: thay đổi hệ thống
quản lý môi trường, nhân sự quản lý, chính sách quản lý, và nguồn vốn đầu tư.
Chúng ta sẽ lần lượt trao đổi về những thay đổi trên so với trời gian trước đây.
Hỏi 2: Trước hết xin
Ts nói về những thay đổi hay cải thiện trong hêï thống bảo vệ môi trường của
Việt Nam.
Đáp 2: Theo chúng tôi
nhận thấy, có một thay đổi chính là bắt đầu từ năm 2002, VN đã thành lập Bộ Tài
nguyên và Môi trường, nghĩa là Việt Nam đã chuyển đổi suy nghĩ và muốn quản lý
việc bảo vệ môi trường từ trung ương đến địa phương, cùng với việc kết hợp quản
lý và kiểm soát tài nguyên quốc gia. Quyết định nầy còn có một ý nghĩa khác nữa
là Việt Nam đã nhận thức được những kẻ hở trước đây trong cung cách quản lý môi
trường là không thể kiểm sóat và kết hợp các địa phương lại. Điều nầy đã là một
trong nhiều nguyên nhân làm cho môi trường khắp nước xuống cấp trầøm trọng trong
thời gian qua. Hệ thống quản lý hiện tại có thể tóm tắt như sau: Từ Bộ ở trung
ương, đến Sở ở các tỉnh và đô thị có phát triển cao, tới phòng TN&MT ở các quận
huyện. Đặc biệt như ở TpHCM, ngòai Sở Tài Nguyên & Môi Trường TN&MT, còn có Chi cục Bảo vệ MT, Phòng
quản lý MT và Chi cục quản lý chất thải rắn do tính chất phức tạp và quan trọng
trong phát triển của Tp nầy.
Hỏi 3: Còn về nhân sự
quản lý thì sao thưa Ts?
Đáp 3: Hiện tại trên
tòan quốc có khoảng 150 nhân sự quản lý ở cấp trung ương. Có 64 Sở TN&MT với chỉ
số nhân viên từ 4 đến 5 người. Còn lại khoảng 100 nhân sự cho cấp quận huyện và
địa phương. Như vậy, các con số trên cho chúng ta thấy vấn đề nhân sự trong quản
lý môi trường còn quá thấp, khoảng 5,5 người/1 triệu dân số. So với các quốc gia
Đông Nam Á, tỷ lệ nầy biến thiên từ 20 đến 30 người/ 1 triệu dân. Bên cạnh số
lượng nhân sự còn quá ít ỏi, cũng cần nên nói thêm là lực lượng quản lý vẫn
còn quá yếu kém về trình độ chuyên môn trong khi phải đãm nhiệm một khối lượng
lớn công việc như thiết lập chính sách, chiến lược bảo vệ môi trường, cũng như
báo cáo hiện trạng môi trường, và nhất là việc kiểm soát ô nhiễm và thanh tra
môi trường. Theo Báo cáo hiện nay, chỉ có khoảng 50% số tỉnh đã thành lập Phòng
TN&MT ở cấp huyện, nhưng trên thực tế công tác quản lý ở địa phương hầu như còn
bỏ ngõ.
Hỏi 4: Với nguồn nhân
sự vốn đã thiếu và không đủ chuyên môn lại phái gánh vác một số lượng công việc
bảo vệ môi trường toàn quốc, như vậy chính sách bảo vệ môi trường VN như thế nào
để có thể kiểm soát được toàn bộ khối lượng công việc trên thưa ông?
Đáp 4: Như chúng tôi
vừa trình bày, với nguồn nhân sự còn thiếu thốn, nhưng trong những năm gần đây
và nhất là khi Bộ TN&MT được thành lập, nhiều chủ trương, chính sách, và các văn
bản quy phạm pháp luật xuất bản về môi trường đã được thành lập làm cho tình
trạng quản lý môi trường lần lần đi vào nề nếp như:
- Bảo vệ môi
trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
- Nghị định,
quy định về xử phạt vi phạm hành chánh trong lãnh vực Bảo vệ Môi Trường BVMT;
- Quy chế
quản lý an toàn sinh học;
- Kế hoạch
hành động để bảo tồn và phát triển bền vững;
- Đẩy mạnh
công tác quản lý chất thải rắn v.v...
Thêm nữa, luật
BVMT sau 17 lần sửa đổi từ ngày ban hành lần đầu tiên năm 1994, đã được quốc hội
VN chấp thuận và thông qua vào cuối năm 2005. Luật nầy tăng lên thành 10 chương
trong đó đặt trọng tâm nhiều về quyền lợi, nghĩa vụ, và trách nhiệm của mọi tầng
lớp trong xã hội, và việc quản lý môi trường tương đối rõ ràng hơn so với Bộ
luật cũ. Các văn bản trên đây góp phần vào việc đẩy mạnh quản lý và bảo vệ môi
trường. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy vẫn còn nhiều sai sót, mâu thuẫn và chưa
có tính khả thi cao giữa các văn bản trên. Nhiều luật lệ còn chồng chéo nhau,
nhất là trong trách nhiệm quản lý giữa các Ủy ban nhân dân địa phương và ủy ban
nhân dân tỉnh và trung ương. Chính điều nầy, đôi khi làm cho công cuộc quản lý
trở nên phức tạp hơn vì tính không nhất quán và tùy tiện suy diễn ở từng nơi. Từ
đó những mâu thuẫn địa phương có điều kiện phát sinh và khó kiểm soát trong
tương lai.
Quan trọng hơn nữa,
vẫn còn thiếu nhiều điều luật quy định việc BVMT cùng với chính sách xử dụng
năng lượng, công cuộc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cùng đa dạng sinh học cần
phải được lưu ý và đào sâu thêm. Một điều căn bản chính yếu trong luật môi
trường là quy định các nhà sản xuất công kỹ nghệ phải thiết lập Báo cáo tác động
môi trường (EIA) trước khi dự án được chấp thuận và được cấp giấy phép hoạt
động. Nhưng cho đến nay, có gần 700 ngàn cơ sở công nghiệp lớn nhỏ trên toàn
quốc đang hoạt động, vẫn chưa có nơi nào nộp bảng nghiên cứu tác động môi trường
theo đúng quy định của luật.
Hỏi 5: Còn vấn đề đầu
tư nguồn vốn hiện tại có làm tăng thêm việc BVMT hay không thưa ông?
Đáp 5: Theo thống kê,
hàng năm ngân sách tiêu dùng cho việc BVMT toàn quốc là từ 7 đến 9 triệu Mỹ kim,
trong đó 25% nguồn vốn dùng để chi tiêu cho việc phát triển các dự án xây dựng
những trạm quan trắc và phân tích môi trường. Do đó, kinh phí hoạt động cho việc
BVMT rất ít, hoàn tòan không đủ để giải quyết những vấn nạn môi trường cho toàn
quốc. Trong lúc đó, một thí dụ điển hình trong việc cải thiện môi trường kinh
Nhiệu Lộc trước đây, kinh phí đã lên đến hàng trăm triệu Mỹ kim mà vẫn chưa hoàn
tất.
Còn nguồn vốn tiếp
nhận từ viện trợ ngoại quốc tuy có chiều hướng tăng thêm, nhưng vẫn chiếm vị trí
khiêm nhường so với các vốn đầu tư để phát triển kinh tế, nguyên nhân chính tạo
ra ô nhiễm môi trường.
Vì vốn đầu tư cho môi
trường quá ít và các cơ quan BVMT chưa có đủ khả năng hoạt động, do đó, nhiều
vấn đề môi trường vẫn chưa được theo dõi, cũng như cung cách quản lý không được
đi sâu đi sát và không có trao đổi thường xuyên giữa những nhà đầu tư và quản lý
ngõ hầu giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường.
Hỏi 6: Qua sự trình
bày về 4 lãnh vực trong hoạt động BVMT của VN, và trong điều kiện và tình trạng
chung như thế, TS nhận xét về những hoạt động nầy như thế nào trong thời gian
qua?
Đáp 6: Có thể nói, VN
đã có nhiều cố gắng trong việc đẩy mạnh việc kiểm soát ô nhiễm và BVMT nhất là
trong công tác phổ biến thông tin, gây sự chú ý và ý thức tự giác trong công
cuộc chung của đất nước.
Về nhân sự, vì nguồn
đầu tư không đủ do đó một nhân viên phải đảm trách nhiều nhiệm vụ khác nhau cho
nên khó chu toàn tất cả các trách nhiệm được giao phó. Từ đó, công tác kiểm tra,
giám sát, quản lý chất thải, xử lý vi phạm v.v... còn bị hạn chế. Và chính vì sự
thiếu hụt nhân sự, các cơ sở sản xuất có thể lợi dụng khe hở nầy để vi phạm môi
trường như phát thải chất thải khí, lỏng, rắn bừa bãi vào thiên nhiên không qua
xử lý. Cũng chính vì thiếu nhân sự mà VN không thể giải quyết được các vi phạm,
mặc dù đã biết rất rõ cơ sở nào vi phạm và đã thiết lập danh sách đen chiếu theo
Nghị quyết xử lý triệt để ban hành vào năm 2003, trong đó có trên 30 ngàn cơ sở
sản xuất ở tp HCM nằm trong danh sách cần phải di dời ra khỏi nội thành.
Đối với các hoạt động
môi trường ở tầm vóc quốc gia như các trạm quan trắc ở lưu vực sông Cửu Long,
Đồng Nai, Sài Gòn cần phải được thiết lập, nâng cấp, kiểm soát cũng như lấy mẫu
theo chu kỳ thường xuyên hơn để có thể phát hiện và giải quyết kịp thời các tai
nạn do thiên nhiên hoặc do con người gây ra trước khi các vấn nạn nầy có thể
thở thành thảm nạn cho đất nước.
Sau hết, chúng tôi
muốn nói đến việc nhập cảng các phế liệu. Trong suốt thời qian qua, việc nhập
cảng phế liệu và các thiết bị có công nghệ lạc hậu từ ngoại quốc đã trở thành
một tệ trạng. Các cơ sở sản xuất lợi dụng kẻ hở của Quyết định cho phép nhập
cảng của Bộ TN&MT để nhập cảng các chất phế thải phế liệu từ các quốc gia khác
như nhựa plastic phế liệu, dầu nhớt phế thải, mạch điện tử, võ xe hơi cũ, bình
điện cũ, cũng như những máy móc cũ của Trung Quốc trong hệ thống nhà máy đường
của VN.
Do đó, cần nên chấm
dứt việc nhập cảng nầy càng sớm càng tốt.
Trong Tc KH&MT lần
tới, chúng tôi sẽ thảo luận về các hướng giải quyết tiếp theo về những vần đề
môi trường hiện đang xảy ra ở VN.
Kính chào Quý thính
giả của Đài ACTD.
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |