|
Vào ngày 11 tháng 1 năm
2007, Việt Nam chính thức gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế
giới tức World Trade Organization (WTO). Kể từ ngày nầy Việt Nam
đã đi vào cuộc chơi chung toàn cầu.
Cho đến nay (tháng 7,
2007), vừa hơn sáu tháng trong bước đường hội nhập, quá trình
tiếp cận và hội nhập trong khoảng thời gian ngắn ngũi nầy đã cho
chúng ta thấy một số điểm còn tồn đọng cũng như những thách thức
cho Việt Nam trong những ngày sắp đến. Bài viết nầy có mục đích
nêu ra những vấn đề trên để chúng ta, trên căn bản lợi ích chung
của toàn dân Việt Nam cùng trao đổi hay cùng đưa ra những ý kiến
thiết thực và khoa học trong tiến trình Việt Nam hội nhập vào
cộng đồng thế giới.
Nhận định tổng quát
Biến cố tan rã của Liên Xô
đánh dấu sự phá sản của chủ nghĩa Cọng sản quốc tế, chấm dứt
tình trạng đối đầu lưỡng cực giữa khối Tự do và khối Cọng sản;
từ đó đưa đến sự hình thành một khuynh hướng chung của thế giới,
mệnh danh là “toàn cầu hóa”. Khuynh hướng nầy được xem như là
một sinh lộ tất yếu của các nước đang phát triển và đặc biệt là
các quốc gia đã một thời đặt mình thuộc khối Cọng sản quốc tế,
nếu muốn tồn tại và phát triển trong tình hình mới.
Sự toàn cầu hóa bao gồm
toàn bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, và được chú ý nhiều nhất
là lĩnh vực kinh tế. Về lĩnh vực sau cùng nầy, nhu cầu toàn cầu
hóa bao gồm sự hội nhập của các nền kinh tế quốc gia vào nền
kinh tế quốc tế thông qua thương mại, đầu tư ngoại quốc qua
những công ty quốc gia hay đa quốc gia, lưu lượng vốn ngắn hạn,
lưu lượng công nhân quốc tế, lưu lượng công nghệ trao đổi,
v.v...
Mãi đến tháng 12 năm 2001,
khi Hiệp ước Thương mãi hai chiều giữa Việt Nam và Hoa Kỳ thành
hình (US-VietNam Bilateral Trade Agreement), kinh tế Việt Nam
tương đối hồi sinh và có thể nói đây là bước mở đầu tiên của VN
trên tiến trình hội nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Cũng cần nói thêm về những
thông tin trao đổi kinh tế hai chiều giữa VN và HK trong giai
đoạn trước đây. Năm 1993, VN hoàn toàn không xuất cảng hàng hóa
vào nội địa HK; ngược lại, VN nhập cảng 7 triệu Mỹ kim thiết bị
từ HK. Sau ngày 3 tháng 2, 1994, Tổng thống Clinton, HK đã ra
quyết định bãi bõ lịnh cấm vận thương mại cho VN; kể từ đó, VN
bắt đầu tăng dần việc xuất cảng sang HK lên đến trị giá 50,5
triệu cho năm nầy.
Bảy năm sau khi hiệp ước
trao đổi hai chiều ký kết, hàng hóa VN gồm thực phẩm, hàng may
mặc, dầu thô, giày da, sản phẩm gỗ nội thất ồ ạt vào thị trường
HK, và lượng hàng hóa tiếp tục tăng mãi, từ 1 tỷ Mỹ kim năm
2001, lên đến 5,9 tỷ, năm 2005. Ngược lại, HK chỉ xuất cảng độ
1,2 tỷ vào VN trong năm 2005. gồm dụng cụ y khoa, máy móc kỹ
thuật và dụng cụ hàng không.
Đây cũng là những chỉ dấu
ban đầu cho VN lần lần thực hiện tiến trình gia nhập vào Tổ chức
Thương mại Thế giới. Và Việt Nam đã chính thức gia được chấp
thuận nhập vào cuộc chơi toàn cầu nầy vào ngày 7 tháng 11 năm
2006.
Tổ chức Thương mại Thế
giới
Tổ chức Thương mại Thế
giới hay World Trade Organization-WTO, có trụ sở đặt tại Thụy Sĩ
đã được thành lập chính thức vào ngày 1/1/1995 do các quốc gia
thành viện ký tại thành phố Marrakesh, Marocco. Tính đến nay, Tổ
chức nầy tập hợp được 149 quốc gia thành viên nhắm vào những mục
tiêu sau đây:
-
Quy định
những căn bản pháp lý làm nền tảng cho mọi trao đổi thương mãi
quốc tế;
-
Tổ chức là
diễn đàn đàm phán, thỏa thuận, thương lượng về tất cả mọi dịch
vụ thương mại giữa các quốc gia thành viên.
Cũng từ ngày 1/1/1995, VN
đã nộp đơn xin gia nhập vào tổ chức trên và trở thành quan sát
viện của tổ chức. Nhóm công tác WTO cũng đã được thành lập và có
nhiệm vụ cứu xét đơn xin gia nhập của VN.
Tính đến nay, VN đã trả
lời trên 2.600 câu hỏi từ các thành viên, và đã kết thúc đàm
phán song phương với 21 quốc gia.
Đối với HK, văn kiện chính
thức giữa hai bên đã được ký kết vào ngày 31/5/2006 thỏa thuận
trên nguyên tắcvề khả năng tiếp cận thị trường song phương; từ
đó sẽ giúp hai bên tái lập hàng rào thuế quan cho những mặt hàng
kỹ nghệ và nông phẩm, cùng dịch vụ.
Kết quả là hàng hóa xuất
cảng từ HK vào VN như trang thiết bị xây dựng, dược phẩm, phi cơ
và các bộ phận rời bảo trì sẽ chịu thuế suất là 15% hay ít hơn.
Về dịch vụ, VN cũng đã cam kết mở cửa một số lãnh vực cấm kỵ từ
trước như viễn thông và viễn thông vệ tinh, lãnh vực tài chính,
ngân hàng, và năng lượng cho HK nhún tay vào.
Một khi đã vào WTO, VN cần
phải tuân thủ những tính chất pháp trị như: 1- giải quyết tranh
chấp; 2- giảm bớt vai trò của mậu dịch quốc doanh; 3- hủy bỏ
những giới hạn nhập cảng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài qua quyền thương mại; 4- hủy bỏ những quy chế kinh tế phi
thị trường. Ngược lại, HK sẽ áp dụng kinh tế phi thị trường
trong các vụ kiện chống phá giá cho đến khi VN ra khỏi nền kinh
tế phi thị trường. Thời gian chuyển tiếp cho chính sách nầy là
12 năm sau khi VN gia nhập vào WTO. Và sau cùng, VN phải tuân
thủ quy tắc và luật bảo vệ sở hữu trí tuệ.
Để có một khái niệm về kết
quả của việc gia nhập vào WTO trong những năm vừa qua của các
quốc gia thành viên, một số báo cáo sau đây cho thấy khuynh
hướng cũng như thành quả của WTO ngày càng bị thu hẹp lại. Vào
năm 2003, trong kỳ họp WTO ở Cancun, Ngân hàng Thế giới (WB) đã
đưa ra những số liệu về thương mại toàn cầu qua dịch vụ trao đổi
trên thế giới là 832 tỷ Mỹ kim, trong lúc đó 539 tỷ nằm trong
các sinh hoạt giữa các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, tổng
kết năm 2005 cho thấy lợi ích của WTO giảm xuống còn 287 tỷ cho
thế giới, trong đó chỉ còn 90 tỷ trao đổi giữa các quốc gia đang
phát triển dù số thành viên của các quốc gia nầy dự phần vào 90%
tổng số thương mại toàn cầu.
Một khi đã là thành viên
của WTO, Việt Nam cần phải tuân thủ các cam kết được ghi trong
Bảng cam kết dịch vụ gồm 3 phần: 1- cam kết chung; 2- cam kết cụ
thể; 3- và danh mục các biện pháp miễn trừ đối xử tối huệ quốc.
Trong bảng cam kết dịch vụ, có đề cập đến các quy định vế chính
sách đầu tư, hình thức thành lập doanh nghiệp, thuê đất, các
biện pháp về thuế khóa, và trợ cấp doanh nghiệp trong nước.
Trong mỗi dịch vụ lại còn có nhiều quy định cụ thể cần phải tuân
thủ như viễn thông, bảo hiểm, ngân hàng, vận tải v.v…
Và sau cùng, mỗi thành
viên tùy theo điều kiện hiện hữu của từng quốc gia có thể đề
nghị mức độ cam kết ở bốn tầng bậc khác nhau. Đó là: cam kết
toàn bộ, cam kết kèm theo những hạn chế, không cam kết, và không
cam kết vì không có tính khả thi kỹ thuật.
Như vậy, trong điều kiện
Viêt Nam hiện tại, điều rõ nét nhất là Việt Nam chỉ có khả năng
cam kết theo từng dịch vụ ở những điều cam kết thứ hai, ba, và
bốn mà thôi do những khía cạnh thực tế của Việt Nam sau sáu
tháng hội nhập.
Tình trạng phát triển
của Việt Nam hiện tại
Vào ngày 7/11/2006, Việt
Nam đã chính thức được chấp thuận vào Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO), cũng như vào cuối tháng 11/2006 vừa qua, quốc hội
Việt Nam đã chính thức phê chuẩn các điều luật trên. Và Việt Nam
đã chính thức nhập cuộc ngày 11 tháng giệng năm 2007 rồi.
Vấn đề nơi đây là cần ghi
nhận đứng đắn nội lực thực tế của VN đứng trước vận hội mới này,
nghĩa là VN trao đổi, xuất cảng ra thế giới bên ngoài những gì?
Và ngược lại phải nhập cảng từ ngoại quốc những sản phẩm nào?
Giải đáp hai câu hỏi trên, chúng ta có thể hình dung được thế
mạnh và yếu của VN trong tương lai. Từ đó, có thể dự phóng được
một viễn ảnh cho đời sống người dân trong những ngày hậu WTO.
Tính đến ngày hôm nay, VN
đã xuất cảng đi khắp nơi trên thế giới một số lượng đáng kể về
trọng lượng, nhưng ngược lại thu hồi một số ngoại tệ không đáng
kể so với lượng hàng bán ra. Đó là nông phẩm, thực phẩm, tôm cá,
các mặt hàng gia công như quần áo, giày da, xẽ gỗ, dầu thô và
một số mặt hàng tiểu thủ công nghệ.
Ngược lại, VN phải nhập
cảng xăng dầu và nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, hóa chất,
phân bón, thực phẩm “cao cấp” như thịt gà, bò....., năng lượng,
viễn thông, ngân hàng..... Đây là những mặt hàng nhẹ về cân
lượng nhưng cần phải chi ra một số lớn ngoại tệ. Do đó, VN luôn
luôn đối mặt với sự thâm thủng ngân sách cho ngoại thương từ
trước đến nay.
Thêm nữa, những mặt hàng
xuất cảng của VN chỉ để giải quyết cuộc sống của hàng triệu nông
dân hay công nhân với mức lương tối thiểu- trong khi đó cuộc
sống của nông dân và công nhân VN ngày càng tệ hại hơn, mặc dù
VN cố gắng gia tăng mức sản xuất hàng năm. Lấy thí dụ về ngành
may mặc hiện tại. Một công nhân Việt Nam làm việc 12 giờ/ngày,
sáu ngày/tuần lãnh được từ 600 đến 800 ngàn Đồng VN/tháng, tương
đương 37 đến 50 Mỹ kim. Trong lúc đó, một thợ may Việt Nam tại
Mỹ làm việc tám giờ/ngày với mức lương tối thiểu quy định là
7,75 Mỹ kim/giờ, tức 62 US$/ngày, hơn xa một tháng lương của một
công nhân cùng ngành tại VN.
Tại thị trường nội địa,
hiện tại VN đang làm chủ vì lợi thế sân nhà, và một số ngành
nghề còn độc quyền và không cho người ngoại quốc tham dự. Do đó,
mức cạnh tranh chưa hề được đặt ra, và nếu có, chỉ là những cạnh
tranh giữa những nhà kinh doanh trong nước mà thôi.
Một khi cánh cửa WTO
mở toang, VN sẽ không còn lý do nào để cấm đoán ngoại quốc tham
gia trực tiếp vào thị trường nội địa của VN. Từ đó, mức cạnh
tranh sẽ quyết liệt hơn và chưa chi thua thiệt có thể chắc chắn
về phần doanh thương VN qua sự chênh lệch về nguồn vốn, kỹ
thuật, cung cách khuyến mãi, và thị hiếu của người tiêu dùng VN.
Xin đan cử một thí dụ điển
hình qua hình thức thương mại đơn giản nhất là hệ thống “siêu
thị”: Siêu thị Walmart (Hoa Kỳ) có mức doanh thu gấp 5-6 lần
tổng sản lượng của VN, có thể tiêu diệt các siêu thị nội địa
trong cung cách thu mua với giá rẽ hơn vì họ có thể chấp nhận
không lời, hoặc lỗ trong thời gian đầu vì có nhiều tiền vốn.
Thêm nữa, họ có khả năng nhập thực phẩm và hàng hóa từ ngoại
quốc vào- điều trên đây càng nguy hiểm hơn vì nó có thể giết
chết nhiều dịch vụ chăn nuôi và trồng tỉa của người dân. Một lợi
thế nữa của các siêu thị ngoại quốc là dịch vụ thanh toán thường
chỉ giải quyết sau 90 ngày nhận hàng, chính điều này khiến cho
những nhà cung cấp VN sẽ không còn khả năng tài chính để trả nợ
cho ngân hàng sau mỗi thời vụ.
Trước mắt, chúng ta thấy
rõ những kỹ nghệ của VN liệt kê sau đây đang đi dần vào chỗ bế
tắc:
-
Kỹ nghệ
đường hiện nay hoàn toàn bị phá sản vì không cạnh tranh được so
với đường Trung Quốc và Thái Lan có phẩm chất tốt hơn và giá rẽ
hơn. Việc này kéo theo sự bế tắc của nông dân trồng mía.
-
Xuất cảng
thủy sản và nông phẩm hiện đang bị nhiều cản ngại do an toàn về
thực phẩm không đủ tiêu chuẩn, do dư lượng kháng sinh và sự hiện
diện của các hóa chất phụ gia trong thực phẩm. Điều nầy đã bị
nhiều quốc gia trả về lại nguyên xứ trong những đợt xuất cảng
gần đây, nhất là Hoa Kỳ, khách hàng lớn nhất của Việt Nam.
-
Chăn nuôi
gia súc ở VN cũng đang đứng trước cơn phá sản do kỹ thuật chăn
nuôi còn nhiều khiếm khuyết. Từ đó, việc nhập cảng cánh và đùi
gà Mỹ hiện tại là một dịch vụ đem nhiều lợi nhuận lớn cho một số
cán bộ có quyền. Vì cánh và đùi gà Mỹ giá rất rẽ $0.2/bls (vì
người Mỹ không thích ăn) , khi nhập vào VN có thể bán ra $1,5/kg
-
Các kỹ nghệ
đơn giản khác như xe đạp, dụng cụ làm bếp, trang trí nội thất sẽ
không còn khả năng cạnh tranh với hàng TQ nếu chưa nói đến các
nhà sản xuất lớn như ở HK, Pháp, Ý..... Những mặt hàng rất bắt
mắt và được người VN ưa chuộng từ lâu. Chính tâm lý ưa chuộng
hàng ngoại quốc của người VN sẽ giết chết công kỹ nghệ VN khi VN
gia nhập vào cuộc chơi chung. Và mặt trái của WTO có thể biến VN
thành một thị trường tiêu thụ của quốc tế hơn là một thị trường
sản xuất.
Một số rào cản VN đang đối
mặt trước ngưỡng cửa WTO được tiếp tục trình bày sau đây cũng là
những gợi ý mà VN cần lưu tâm. Đó là những cản ngại của khu vực
quốc doanh, ngành ngân hàng, khả năng vận chuyễn đường biển,
ngành viển thông di động và một số phản ứng tâm lý của người dân
VN trước tiến trình toàn cầu hóa.
Thách thức trong khu
vực quốc doanh
Một trong nhiều yêu cầu để
VN gia nhập vào WTO là VN phải minh bạch trong việc kiểm toán
chi thu của quốc gia. Do đó, lần đầu tiên trong lịch sử đảng,
CSVN đã đưa ra bản báo cáo từng phần ngân sách nhà nước năm
2005. Theo đó, riêng trong lãnh vực quốc doanh, 19 tổng công ty
và ngân hàng quốc doanh trên 4.447 quốc doanh toàn quốc, cho
thấy kết quả kiểm toán hoàn toàn đưa đến thua lỗ và công ty quốc
doanh đã làm kinh tế theo một chính sách “ phi kinh tế”. Sau đây
là vài con số thua lỗ cũa các công ty quốc doanh trong năm 2005:
Ngành dệt may lỗ 328 tỷ Đồng; ngành giấy lỗ 199 tỷ Đồng ; ngành
lương thực lỗ 183 tỷ Đồng (1 tỷ Đồng tương đương 60.000 Mỹ kim).
Tổng số nợ của 16 doanh nghiệp các ngành kễ trên là 47,000 tỷ
đồng, tương đương với 80% tổng tài sản của các công ty. Do đó,
những công ty trên hoàn toàn không còn khả năng thanh toán phần
nợ và lỗ lã.
Hiện tại, con số các công
ty quốc doanh biến thành cổ phần hóa (tức tư nhân hóa) là 3.830.
Trong đó vốn nhà nước là 49%, công nhân viên, cán bộ trong doanh
nghiệp đóng góp 26%, và vốn tư nhân đầu tư ngoài doanh nghiệp
25%. Với tỷ lệ và thành phần cổ đông như trên, thì trách nhiệm
hay linh hồn của công ty vẫn là nhà nước hay quốc doanh mà thôi.
Và đối với việc kinh doanh lỗ lã trên, nhà nước VN lại phải gánh
chịu hay “ Đất nước VN” qua hơn 84 triệu dân, phải cật lực lao
động để trả nợ? Và một khi đã “giải tư” theo cung cách vừa kể,
công ty tư doanh cổ phần sẽ thuộc về ai? và ai sẽ chịu trách
nhiệm? Do đó, qua việc tư nhân hóa để thỏa mãn yêu cầu cũa những
luật định WTO, vô hình chung, VN đã biến các công ty quốc doanh
thành một loại công ty đặt dưới cơ chế bao cấp khác.
Ngoài ra, đừng quên rằng,
đã từ hơn 30 năm qua ở VN, các cơ chế làm kinh tế bao cấp đã đưa
đất nước vào ngõ cụt. Có thể nói nhận định gần đây của ông Đào
Xuân Sâm, ban nghiên cứu của Thủ tướng hiện tại, đã nói lên một
cách rốt ráo vấn đề nầy: “ Trong hơn 10 năm qua, song song
với vịệc tư doanh đổi mới và tăng trưởng thành công, khu vực
kinh tế nhà nước trên thực tế đã trở lại cơ chế cũ tập trung
quan liêu - bao cấp, có khác chăng là trong nền kinh tế thị
trường “ bao cấp hiện vật” chuyển thành “ bao cấp tài chính””.
Và cơ chế bao cấp này cũng chính là mọt hình thức của cơ chế
xin – cho, đã trở thành miếng đất màu mỡ cho nạn tham nhũng
lộng hành trong khu vực nhà nước, từ đơn vị kinh tế cơ sở đến
các cấp cao nhất của chính quyền”.
Như vậy, VN làm thế nào và
bằng cách nào để thực hiện được lời T.T Nguyễn tấn Dũng mới vừa
tuyên bố là trong vòng 5 năm tới, VN bảo đảm cổ phần hóa 100%
doanh nghiệp quốc doanh?
Thách thức trong ngành
ngân hàng
Cũng theo quy định của
WTO, VN phải mở cửa ngân hàng, chấp nhận dịch vụ ngân hàng
ngoại quốc trong giai đoạn chuyển tiếp (năm năm sau khi gia
nhập) có thể đầu tư tối đa 30% tổng số vốn của ngân hàng. Một
khi VN chính thức vào cuộc, tư nhân nào có thể mua cổ phần còn
lại (tức 70%) của một ngân hàng ngoại quốc, vốn dĩ có nguồn vốn
lớn và bằng hệ thống tiền tệ cứng (hard currency), trong lúc đó
tư nhân, hay tập thể tư nhân VN chỉ có khả năng đóng góp bằng
những số vốn nhỏ và thế chấp, cũng như chuyển hóa cơ sở vật chất
thành tiền. Từ đó, dù công ty ngoại quốc không chiếm đa số tuyệt
đối, nhưng vẫn có khả năng khuynh đảo thị trường bằng những thủ
thuật kinh tế tư bản, và VN sẽ chịu một sức ép không nhỏ về vấn
nạn này.
Theo thống kê mới nhất
(2006), tín dụng của ngân hàng ngoại quốc dành cho Việt Nam là
14% trên số tổng dư nợ cho vay là 60 ngàn tỷ đồng, tương đương
với 360 tỷ Mỹ kim. Với sự hiện diện của ngân hàng ngoại quốc,
liệu ngân hàng Việt Nam có học được cung cách quản lý, cùng
những cơ hội phát triển về các mặt sản phẩm, vế những mô hình
mới, hay về năng lực chuyên môn cho nhân sự v.v…không? Chính
những yếu tố nầy sẽ góp phần vào việc hoạt động lành mạnh của
ngân hàng.
Trở lại các Công ty ngân
hàng VN, một trong những lý do các doanh nghiệp quốc doanh thua
lỗ mà vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay, là việc nhà nước tiếp
tục bơm tiền bù lỗ thông qua các ngân hàng quốc doanh. Hay nói
cách khác, các ngân hàng phải chịu sức ép từ nhà nước, bị bắt
buộc tiếp tục cho công ty quốc doanh vay căn cứ theo chủ trương
chính trị hơn là căn cứ theo tình trạng kinh tế.Và sau cùng,
ngân hàng được nhà nước tái cấp thêm những ngân khoản bổ sung.
Đó là trường hợp của bốn ngành Ngân hàng Công thương, Ngân hàng
ngoại thương, Ngân hàng Đầu tư & Phát triển, Ngân hàng Nông
nghiệp & Phát triển. Do đó, việc cổ phần hóa ngân hàng quốc
doanh hoàn toàn bế tắc. Và việc chuyển doanh nghiệp quốc doanh
sang chế độ hoạt động của một công ty trách nhiệm hữu hạn là một
việc làm không tưởng, ít ra trong những năm sắp tới vì những yếu
tố sau đây: 1- Người quản lý ngân hàng hiện tại vẫn còn giử não
trạng càng cải tổ chậm càng có lợi, do đó, họ cố gắng trì hoản
công việc nầy; 2- Một khi có cổ phần hóa, “những ông chủ ngân
hàng” sẽ bị chi phối và giám sát do các nhóm lợi ích khác, do
đó, quyền hạn của họ sẽ bị hạn chế, kéo theo mức thu nhập cá
nhân của họ sẽ bị giảm đi vì không còn khả năng móc ngoặc hay
làm những điều sai trái; 3- Các cấp quản lý trong đảng sẽ mất
hẳn quyền lực một khi ngân hàng đã được cổ phần hóa toàn phần.
Thách thức về đầu tư
Một khi đã vào WTO, điều
đó không có nghĩa là thế giới sẽ tuôn tiền vào đầu tư ở Việt Nam
để cho con tàu Việt Nam vượt đại dương đi khắp năm châu., dù cho
điều kiện phát triển ở Việt Nam hiện tại vẫn còn là điều kiện
tối ưu cho đầu tư ngoại quốc. Lý do là Việt Nam hiện chưa đáp
ứng được nhu cầu tối thiểu cho việc phát triển. Đó là hạ tầng cơ
sở cần có để phát triển trong thế toàn cầu hóa ngày nay.
WTO sẽ không ảnh hưởng
trực tiếp vào mỗi người Việt một sớm một chiều được qua mức tăng
trưởng của lợi tức đầu người hàng năm. Đó chỉ là những con số
biểu kiến, nói lên mức đầu tư của ngoại quốc trong các chương
trình xây dựng hạ tầng cơ sở (nếu có) như năng lượng, cầu cống,
đường xá, và tất cả các nhu cầu kiến trúc quốc gia cần thiết cho
sự phát triển xã hội.
Do đó, trong những năm đầu
nếu thực sự có mức đầu tư ồ ạt của thế giới, người dân chưa ắt
hản có được một đời sống kinh tế khá hơn.
Và, với cung cách làm ăn
hiện tại của Việt Nam trong lĩnh vực đầu tư, điều cần nhất là
phải thay đổi não trạng sơ cứng, suy nghĩ mang lợi trước mắt mà
không nhìn hại ở sau lưng (phát triển không bền vững, không bảo
vệ môi trường chẳng hạn) bằng cung cách làm ăn thật thà, làm
thật, nói thật, và sống thật với nhau. Làm như thế mới hy
vọng gây được niềm tin cho đối tác đầu tư ngoại quốc, và họ sẽ
dễ chấp nhận trong điều kiện đôi bên cùng có lợi (win-win
situation).
Một vài thí dụ căn bản
trong tương lai là, trong kỹ nghệ dệt may chẳng hạn, nếu để nhà
đầu tư ngoại quốc tin tưởng và hợp tác, họ sẽ mang nguồn vốn,
máy móc, công nghệ dây chuyền sản xuất mới cùng cung cách quản
lý mới. Từ đó, mức sản xuất dĩ nhiên sẽ tăng bội phần và mang
theo lợi nhuận về cho cả hai phía đối tác. Và hơn nữa, người
công nhân lần lần sẽ được cải thiện trong lao động như làm ít
giờ hơn theo tiêu chuẩn lao động thế giới, có đầy đủ chương
trình bảo hiểm xã hội, và sau cùng đời sống kinh tế của công
nhân sẽ được nâng cao do mức đãi ngộ của công ty đã điều chỉnh
một khi đã có lời nhiều.
Một điểm quan trọng cần
nêu ra đây là nhu cầu cần đầu tư ngoại quốc trong lãnh vực môi
trường.Theo cam kết về dịch vụ môi trường khi Việt Nam gia nhập
vào WTO là, Việt Nam sau bốn năm, dịch vụ môi trường có thể có
được 100% vốn nước ngoài được phép hoạt động ở Việt Nam.
Một điều rõ ràng và chắc
chắn là lối giải quyết những vấn nạn môi trường hiện tại của
Việt Nam chỉ làm tăng thêm nguy cơ ô nhiễm ở cả ba dạng của môi
trường không khí, đất, nước mặt và nước ngầm qua sức tàn phá môi
trường do phát triển và không cân bằng việc bảo vệ môi trường.
Cho đến nay, những nhà đầu
tư ngoại quốc trong lĩnh vực nầy chỉ có thể cấp vốn không quá
51% của dự án, và công ty nước ngoài phải chấp nhận tối thiểu là
20% cán bộ quản lý và chuyên môn người Việt Nam. Điều nầy là một
trong những yếu tố chính làm tắt nghẽn nhiều dự án cải tổ môi
trường như thiết lập các nhà máy xử lý nước rỉ của rác sinh hoạt
và phế thải kỹ nghệ. Bao nhiêu dự án đều bị thất bại nửa chừng
do nhiều nguyên nhân khác nhau mà hai nguyên nhân chính là do
cung cách quản lý tồi và nạn tham nhũng. Dự án kinh Nhiêu Lộc đã
tiêu tốn ngân sách trên 200 triệu Mỹ kim vào năm 2000, và hiện
tại, năm 2007, cũng trên 200 triệu khác bị thất thoát do các cty
Đại Hàn và Đài Loan móc ngoặt vơi tham nhũng. Mặc dù đầu tư
ngoại quốc rót vào cho các dự án trên hàng trăm triệu Mỹ kim
trong những năm gần đây như dự án Bãi rác Đông Thạnh, Gò cát I
và II, III, và IV, dự án khu liên hiệp Đa Phước v.v…tất cả đã để
lại và làm cho môi trường ngày càng xấu đi.
Đây mới chính là một thách
thức lớn nhất cho Việt Nam. Nói một cách rốt ráo, Việt Nam cần
phải mở rộng cánh cửa để cho nhà đầu tư ngoại quốc trực tiếp đầu
tư nguồn vốn, thiết bị, quản lý và vận hành nhà máy để rối từ
đó, Việt Nam có điều kiện học hỏi một cách chính xác và thực tế
hơn qua kinh nghiệm của những chuyên gia nước ngoài.
Thách thức trong cải
cách hành chánh
Hệ thống hành chánh chánh
thức của Việt Nam hiện tại gồm ba cơ chế khác nhau: - cơ chế
đảng ủy gồm khoảng 270 ngàn cán bộ; - cơ chế công nhân viên chức
gồm 210 ngàn nhân viên; - và cơ chế tại địa phương gồm cả đảng
ủy và nhân viên, có độ 280 ngàn. Có thể nói cả ba cơ chế tạo
thành một thủ tục hành chánh trùng lấp, và chồng chất lên nhau ở
nhiều giai đoạn. Thủ tục từ đó trở nên phức tạp làm cho người
dân khó tiếp cận trực tiếp và được giải quyết vấn đề một cách
thỏa đáng.
Tất cả vì cung cách đùn
việc, chuyển việc qua những nhân sự khác vì sợ trách nhiệm cũng
có. Cung cách cường quyền cũng thể hiện nhiều mặt nơi đây, đôi
khi vượt khỏi quyền hạn hay luật định của cán bộ có trách nhiệm
quyết định sự việc. Tất cả chỉ vì cơ chế không rõ ràng và sự
thiếu minh bạch trong khi giải quyết các thủ tục hành chánh cho
“ông chủ của đất nước” là người dân đen.
Vào đầu tháng 4,2007, tại
Hà Nội, ông Scott Jacobs, Chủ tịch hảng tư vấn
Jacobs&Associates, trong hai ngày hội thảo dưới đề tài:”Đơn giản
hóa thủ tục hành chánh: Kinh nghiệm quốc tế và những gợi ý chính
sách cho Viêt Nam” do Viện Quản lý Kinh tế trung ương tổ chức.
Ông đã trình bày một tham luận về:”Kinh nghiệm toàn cầu về cải
cách thể chế và quản trị kinh tế trong nền kinh tế WTO”, trong
đó, ông đã phân tích cải cách thể chế (regulatory reform) tại
nhiều nước trên thế giới, cũng như giới thiệu một số mô hình cải
cách như mô hình “máy xén” (guillotine). Các quy định trong mô
hình kinh tế mở nầy cần phải có để nâng cao năng suất và cải
cách thể chế để có thể đạt được mục tiêu tạo ra một thể chế chi
phí thấp, ít rủi ro đồng thời bảo đảm các lợi ích môi trường và
an toàn sức khỏe.
Muốn đạt các mục tiêu
trên, ông nói tiếp, Việt Nam cần phải sàng lọc các quy định hiện
hành, có cơ chế phản biện và tham vấn tốt để bảo đảm các quy
định mang lại phẩm chất cao, xây dựng các thể chế tốt để bảo đảm
cơ sở hạ tầng, và sau cùng, về nhân sự cần phải được phân nhiệm
rõ ràng, cụ thể, và không thể thiếu vắng tính minh bạch trong
nhiệm vụ.
Việt Nam cũng vừa đưa ra
Đề án 30, tức là Đề án “Đơn giản hóa thủ tục hành chánh trên các
lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007- 2010” do Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng ký duyệt.
Tuy nhiên, mặc dù có nhiều
chuẩn bị trên giấy tờ như đã nói trên, nhưng trên thực tế, cung
cách quản lý của Việt Nam vẫn còn tồn đọng nhiều nan đề cần phải
giải tỏa. Được biết, vào cuối thập niên 1980, Ngân hàng Thế giới
đã cử chuyên viên đến nghiên cứu việc cải cách hành chánh thí
điểm ở tỉnh Quảng Bình trong bốn năm. Nhưng kết quả sau cùng chỉ
là con số không vì các báo cáo, đề nghị cải tổ không được Việt
Nam lưu tâm đến. Một thí dụ khác cho công cuộc cải các hành
chánh thất bại khác của Việt Nam là vào năm 1999, Đề án 112 được
bắt đầu thực hiện mạng lưới giữa các Bộ, Ngành ứng dụng công
nghệ thông tin vào công tác quản lý. Đề án đã tiêu tốn trên
4.000 tỷ Đồng Việt Nam, tương đương 2,4 tỷ Mỹ kim. Và mới đây,
vào tháng tư, cũng chính Nguyễn Tấn Dũng đã ký thông tư chấm dứt
Đề án vì thất bại hoàn toàn cũng như không quy trách nhiệm và xử
phạt ai cả!. Con số 2,4 tỷ Mỹ kim đã tan thành mây khói.
Để bù lại việc nầy, ngày
21 tháng 5 vừa qua, Nguyễn Tấn Dũng vừa ký kết với Steve
Ballmer, TGĐ Điều hành Cty Microsoft một hợp đồng mua bán quyền
xử dụng phần mềm nhằm thúc đẩy công nghệ thông tin trong lãnh
vực hành chánh và ngân hàng. Lại một chi tiêu khổng lồ mới sẽ
làm tăng số nợ ngoại quốc Việt Nam đã phải bắt đầu trả một phần
vốn và tiền lời mỗi năm trên 2 tỷ Mỹ kim.
Vì vậy, trong hiện tại,
muốn thực sự cải cách, cần phải thanh toán hệ thống hai chính
quyền đang tồn tại từ trung ương đến địa phương. Số nhân viên
của đảng ủy trong cơ chế chính quyền cao hơn số nhân viên hành
chánh trên toàn quốc, làm sao có thể có được một sự vân hành
quốc gia ổn định nếu chỉ phải cải tổ hành chánh trong giới công
nhân viên chức mà thôi? Nói về ngân sách, dù đây là một bí mật
quốc gia, nhưng chỉ cần nhìn kỹ lại chúng ta sẽ thấy đảng đang
sở hữu và quản lý một khối lượng chi tiêu và tài sản khổng lồ so
với tổng ngân sách quốc gia.
Thêm nữa, làm sao có thể
thực hiện được cải cách hành chánh khi nền tư pháp không được
độc lập, các tòa án chỉ xử theo quyết định của cấp đảng ủy mà
thôi.
Và điều sau cùng, quân
đội và công an phải là công cụ chung và trung thành chỉ với tổ
quốc và chỉ phục vụ cho nhân dân. Hai cơ quan nầy không thể nào
phục vụ và trung thành với đảng cộng sản được.
Do đó, Việt Nam cần thực
hiện các cải cách kể trên trước khi nói đến cải cách hành chánh
để hội nhập vào tiến trình toàn cầu hóa ngày nay.
Thách thức trong vần đề
công nhân và chuyên viên
Căn cứ theo lý thuyết kinh
tế Clarke, sự phát tiển của một quốc gia tiến hành qua ba giai
đoạn: giai đoạn phát triển nông nghiệp, phát triển công nghiệp
và phát triển dịch vụ. Tại các quốc gia kỹ nghệ cao, phát triển
công nghệ và dịch vụ rất cao và chiếm tuyệt đại đa số. Như Hoa
Ky chẳng hạn hiện tại chỉ có khoảng một triệu nông dân (0,30%
dân số) cung cấp lương thực và thực phẩm cho toàn quốc và viện
trợ khắp nơi trên thế giới.
Kể từ khi bắt đầu mở cửa
để phát triển, hiện tại Việt Nam có 90 khu chế xuất (KCX) hay
khu công nghiệp (KCN) và dự kiến vào năm 2010 sẽ có thêm 60 KCX
và KCN mới. Do dó vấn để đặt ra ở đây là việc đào tạo và cung
ứng đủ số lượng công nhân trong những ngày sắp tới.
Riệng tại Sài Gòn chẳng
hạn, hiện có 15 KCX, trong đó có trên 1.000 doanh nghiệp đang
hoạt động thu dụng 210.000 lao động. Đến năm 2010, Sài Gòn dự
kiến tăng thêm 300 ngàn lao động có tay nghề kỹ thuật và chuyên
môn cao như cơ khí, điện, điện tử, công nghệ thông tin v.v…
Sự chuyển dịch qua giai
đoạn công nghiệp đòi hỏi thêm lao động chuyên môn, nhưng tình
trạng ở Việt Nam hiện tại, có thể nói hầu hết lao động là lao
động phổ thông (95%). Vấn đề đào tạo thêm lao động sẽ là một vấn
đề lớn cho Việt Nam trong những năm sắp tới.
Tệ trạng luôn luôn thừa
lao động tay chân, nhưng lại thiếu lao động có tay nghề cao, vì
Việt Nam chưa thực sự chuẩn bị cho việc huấn nghệ lao động thích
ứng với những đề án đấu tư phát triển mới: vì vậy, thu nhập
nhiều đầu tư ngoại quốc, xây dựng thêm nhiều nah máy sản xuất,
nhưng lại thiều lao động kỹ thuật cũng là một khiếm khuyết lớn
của Việt Nam. Thách thức nầy là một trọng tâm để Việt Nam suy
gẩm và chuẩn bị trước khi phải đối mặt với việc con trâu đứng
trước cái cày.
Thêm một tầng lớp lao động
mới nữa cũng cần phải đề cập nơi đây là giới luật sư. Việt Nam
mới vừa gia nhập vào WTO mà đã có trên 20 vụ kiện trước mắt về
bán phá giá và tình trạng nầy chắc chắn sẽ tăng thêm từ đây đến
cuối năm vì những tin tức dồn dập vềcác mặt hàng xuất cảng của
Việt Nam bị nhiễm trùng, chứa dư lượng hóa chất độc hại cao, ghi
sai thương hiệu (giả dối), … do đó các vụ kiện theo sẽ không thể
tránh được. Hiện tại, lực lượng luật sư chuyên về mặt tranh chấp
thương mại hầu như chưa xuất hiện. Với hiện trạng trên, chắc
chắn Việt Nam sẽ phải thua thiệt trong những vụ kiện sắp tới
đây.
Đào tạo một luật sư chuyên
môn trong lãnh vực thương mại quốc tế không pahỉ là câu chuyện
một sớm một chiều và cần pahỉ đài tạo với một số lượng lớn để
đáp ứng với tình thế mới.
Việt Nam đã lưu tâm và
chuẩn bị chưa?
Thách thức trong khả
năng chuyển vận hàng hóa
Việc gia nhập vào WTO đòi
hỏi quốc gia thành viên phải có tiềm lực về chuyển vận hàng hóa
hai chiều. VN đã chuẩn bị vấn đề này như thế nào? Các thông tin
dưới đây tương đối đầy đủ để mô tả tình trạng vận chuyển đường
biển của VN.
Chỉ bốn ngày sau khi được
bãi bỏ cấm vận năm 1994, công ty chuyển vận hàng hóa APL, Hoa kỳ
đã bắt đầu hoạt động trở lại cho các tuyến đường Mỹ – Việt Nam.
Đây là một đại công ty trong dịch vụ chuyển vận trên 50 quốc
gia. Từ năm 2004, APL đã thành lập thêm hai chi nhánh là Vietnam
China Express (VCX) và Haiphong China Express (HCX). Những dịch
vụ này đã rút ngắn thời gian vận chuyển trong những năm trở lại
đây: Từ Sài Gòn đến Seattle chỉ còn 15 ngày, và Saigòn đến Los
Angeles là 17 ngày. Còn Hải Phòng đến Seattle và Los Angeles là
13 và 15 ngày. Ưu điểm này đã làm giảm giá thành và tăng thêm
lượng hàng hóa giao thông do việc gia tăng lượng chuyển vận đi -
về.
Trong khi đó, tình trạng
vận tải đường biển của VN hoàn toàn không đáp ứng nhu cầu vận
chuyển viễn liên này. Theo thống kê, VN có trên 1000 tàu với
tổng trọng tải khoảng 3,5 triệu tấn, trong đó chỉ có hơn 300 tàu
hoạt động trên các tuyến đường quốc tế trong khu vực. Các tàu
vận chuyển VN có trọng tải dưới 20,000 tấn, cho nên không có khả
năng giải quyết mức trao đổi hàng hóa đường biển. Và bất lợi hơn
nữa là giá thành vận chuyển cao và vòng xoay đi - về không đạt
hiệu quả kinh tế.
Theo thống kê 2005, đội
tàu VN chỉ chiếm 7% số tấn trọng tải hàng hóa hai chiều mà thôi.
Trong lúc đó những nước nhỏ láng giềng như Singapore chỉ có
khoảng 900 tàu nhưng tổng trọng tải lên đến 36,5 triệu tấn. Thậm
chí, đội tàu của Campuchia đã chuyển vận gần 5 triệu tấn, hơn VN
hàng triệu tấn. Do đó, ngay tại sân nhà, đội tàu VN đã bị lấn áp
bởi các công ty ngoại quốc như Maersk line, NYK, P&O trong dịch
vụ chuyển vận dầu thô và hàng hóa trong vùng.
Những thông tin trên cho
thấy rằng VN còn phải đối mặt với nhiều sức ép sau khi gia nhập
vào WTO, và nếu không có kế hoạch tạo dựng một lực lượng tàu với
trọng tải lớn hơn, huấn luyện nhân viên quản trị chuyển vận,
cùng điều chỉnh và canh tân hệ thống quản lý điều hành, thì cuộc
chạy đua cạnh tranh với quốc tế sẽ thấy VN ở thứ hạng thấp nhất.
Vào tháng 12,2007, Ban
chấp hành Trung ương đảngCS Việt Nam đã ra nghị quyết về “Chiến
lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó đề ra những điểm
chính sau:
-
Việt Nam
phải phấn đấu để trở thành một quốc gia mạnh về biển;
-
Xây dựng các
trung tâm kinh tế lớn vùng duyên hải gắn liền với các hạot động
kinh tế biển làm động lục quan trọng đối với sự phát triển của
các nước.
Chiến lược còn đặt ra chỉ
tiêu cho năm 2020 là kinh tế biển phải đóng góp 53- 55% cho GDP
và 55- 60% cho xuất khẩu của cà nước.
Chiến lược không nói đến
căn cứ vào dữ kiện àno mà Việt Nam có thể đạt được những thành
tích nhảy vọt trên mặc dù khả năng chuyển vận đường biển của
Việt Nam hiện tại như đã nói trên còn quá yếu, kém cả nước láng
giềng là Cambodia. Không đủ khả năng bốc dở hàng hóa, cũng như
các bến cảng không đủ sức cho các tàu có trọng ati lớn, cùng
tiến độ bốc dở còn chậm lụt… tất cả làm cho giá thành của xủa
sản phấm xuất và nhập cảng cao hơn giá thành thữc sự.
Thách thức nầy cũng là một
trong những ưu tiên cần giải quyết vì Việt Nam nặng về xuất cảng
hàng nông phảm và thủy sản. Đó là những mặt hàng nặng về trọng
lượng nhưng nhẹ về hiệu quả kinh tế.
Thách thức trong ngành
viễn thông và điện thoại di động
Đây là một ngành tương đối
mới ở VN mà trong những năm gần đây mức tăng trưởng của việc xử
dụng điện thoại di động tăng từ 60 đến 70% hàng năm. Tính đến
2005, tổng số điện thoại di động thuê bao ở cả nước đạt được 12
triệu . Chính vì lý do đó, các hảng điện thoại ngoại quốc như
Motorola, Nokia, Siemens, Ericsson, Telenor và Lucient
Technologies đã khai thác và ráo riết cung cấp dịch vụ ở VN.
Trong lúc đó, VN chỉ hiện diện qua năm công ty quốc doanh mạng
di động như Vina phone, Mobifone, Viettel mobile, S-fone,
E-mobile đang hoạt động, và một công ty mới sắp ra mắt là Hanoi
Telecom.
Đứng trước sự xâm nhập của
các đại công ty ngoại quốc, từ tháng 1 năm 2006 vừa qua, các
công ty VN đồng loạt hạ giá cước, do đó cước viễn thông của VN
giảm dần và đang ở mức giá trung bình tại ĐNA, không còn đứng
đầu như cách đây năm năm. VN cũng đã dự trù vào 2008 sẽ phóng vệ
tinh VINASAT, từ đó sẽ tạo cơ hội cạnh tranh nhiều hơn với các
công ty nước ngoài. Và VN cũng dự trù cổ phần hóa (tư nhân hóa)
các công ty trên để có thể hội nhập vào thị trường chứng khoán
tự do.
Nhờ vào những lợi điểm
trên sân nhà, VN đã đẩy mạnh chương trình viễn thông di động,
tuy nhiên với nguồn vốn không đủ lớn, sau khi hội nhập cuộc chơi
WTO, các công ty ngoại quốc có thể khai thác sức mạnh nguồn vốn
để thôn tính các công ty VN qua các điều kiện thuận lợi trong
thị trường VN, mặc dù trong giai đoạn chuyển tiếp, các công ty
nước ngoài chỉ được đóng góp vốn đến 49% và cũng chỉ được liên
doanh với đối tác VN đã được cấp giấy phép.
Hơn nữa, ngoài khả năng
nguồn vốn, công ty ngoại quốc còn ở thế mạnh về công nghệ sản
xuất và cung cách khuyến mãi theo cung cách tư bản làm cho công
ty VN khó có khả năng đối đầu ở mặt trận nầy. Tuy nhiên, VN cũng
có thể dùng thời gian còn đặc ân 12 năm để làm rào cản hạn chế
bớt sự xâm nhập của các công ty viễn thông ngoại quốc vào VN.
Cũng cần lưu ý là, hiện
tại VN chú trọng nhiều đến viễn thông di động, nhưng không phát
triển viễn thông “cố định”, tức là điện thoại dùng hệ thống dây
cáp quang để có thể liên lạc và thông tin khi có biến động xảy
ra như chiến tranh hay áp lực của thế giới tây phương. Vì còn lệ
thuộc vào ngoại quốc, VN chưa chủ động được việc điều hành vệ
tinh viễn thông, cho nên viễn thông di động VN có thể bị gián
đoạn, vì các công ty cho thuê bao vệ tinh viễn thông có thể cắt
đứt hợp đồng trước sức ép của quốc tế(!) để gây khó khăn cho VN.
Sau vụ động đất ở Đài Loan
vào tháng 2, 2007 làm tê liệt hệ thống cáp quang của Đài Loan và
Việt Nam do Việt Nam thuê bao. Tình trạng nầy đã cắt đứt hệ
thống điện thoại viễn liên của Việt Nam trong nhiều ngày. Sau
đó, Việt Nam đã quyết định xây dựng hệ thống cáp quang riêng do
cty Hoa Kỳ thiết kế av thực hiện. Tuy nhiên do tình trạng kinh
tế chung (nghèo) của người dân không ổn định, các hệ thống cáp
quang vừa được lấp đặt lại bị những átu “đánhc á” “đánh cắp”
hàng trăm hàng ngàn tấn dây cáp quang để lấy đồng (copper) đem
đi bán. Theo ước tình của Việt Nam sự thất thoát cho đến nay đã
lên đến hàng trăm triệu Mỹ kim.
Thách thức do tâm lý
dân tộc trước tiến trình toàn cầu hóa
T.S Branco Milanovic, kinh
tế gia của Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra nhận định cần suy gẫm.
Đó là “Toàn cầu hóa đã làm tăng thêm sự bất bình đẳng giữa
công dân của những nước giàu nhất cũng như giữa các quốc gia
đang phát triển”. Lý do làm ông đưa ra nhận định trên là
những phản ứng trái ngược từ phía các quốc gia kỹ nghệ và những
nước đang phát triển đối diện với sự phất triển của ẤnĐộ và
Trung Quốc.
Đó là:
-
Các cường
quốc trong WTO “khó chịu” trước nhũng bước tiến của TQ và AĐ, dù
họ cũng thực hiện cùng một chiến lược toàn cầu hóa do các cường
quốc khơi mào.
-
TQ và AĐ
hiện có khả năng cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu, nhưng chỉ có
một phần nhỏ dân cư của họ có cuộc sống phồn vinh. Sự bất bình
đẳng ngày càng tăng giữa dân thành thi và nông thôn, giữa miền
duyên hải và nội địa ở Trung Quốc; những bất ổn chính trị cũng
có thể tự đó mà có.
Tại VN, sau hơn 20 năm mở
cửa phát triển, và sau 10 năm mức tăng trưởng đạt chỉ tiêu từ 7%
trở lên, VN phải đối mặt với tình trạng môi trường hầu như bế
tắc qua việc tận dụng nguồn tài nguyên đất đai trong phát triển
nông nghiệp, chăn nuôi và trồng trọt.
Việc phát triển và xuất
cảng hàng năm 5 triệu tấn gạo, thu hồi 1,5 tỷ Mỹ kim, cũng như
việc xuất cảng hải sản thu hồi trên 5 tỷ, có đem lại sự phồn
vinh hay cải thiện cuộc sống của người dân ĐBSCL hay không?
Nhìn vào mức di dân từ vùng này vào các thành phố lớn, nhìn vào
tệ trạng học sinh bõ học hàng loạt trong những năm gần đây, nhìn
vào việc chấp nhận “làm dâu” người ngoại quốc của các thiếu nữ
miền Tây, nhìn vào tất cả những hình thái tệ hại nhất trong việc
buôn người, bán trẻ con... chúng ta cũng đã có thể hình dung câu
trả lời.
Thêm nữa, việc khai thác
quá độ nguồn đất ở VN sẽ đưa đến những thảm họa không xa. LHQ
mới vừa cảnh giác, nếu VN tiếp tục khai thác như những năm vừa
qua, thì trong vòng 10 năm nữa sẽ có 4 triệu mẫu đất bị sa mạc
hóa.
Đây cũng là nguyên nhân dự
báo trước khiến cho tâm lý người dân ở những vùng nông nghiệp,
vùng sâu và xa càng thêm tuyệt vọng và ngày càng đánh mất lòng
tự trọng để làm bất cứ việc gì chỉ vì kế “mưu sinh”. Chính họ đã
xem nhẹ số phận của chính mình và không còn niềm tin vào chính
sách của nhà nước nữa. Tâm lý trên đã tạo ra một thái độ bất cần
đời, bất hợp tác, hay nguy hiểm hơn nữa, là có thể tạo ra những
bất ổn xã hội vì “cơm áo”. Từ đó có thể đưa đến một bất ổn chính
trị nếu có một sự khơi mào trong tầng lớp bần cùng này. Đây cũng
là một cản ngại mà VN cần phải lưu tâm.
Thay lời kết
Sự phát triển xã hội của
một quốc gia được đánh giá là bền vững khi tầng lớp trung lưu
chiếm đa số như ở các quốc gia Tây Âu và Hoa Kỳ. Và chính tầng
lớp trung lưu nầy là tác nhân điều tiết mọi biến động kinh tế
của quốc gia. Trong trường hợp VN, mặc dù mức tăng trưởng có đều
nhưng đồng thời khoảng cách giàu nghèo cũng gia tăng, và trong
tình trạng hiện tại, tầng lớp trung lưu chỉ chiếm theo ước tính
độ 30% chưa đủ để làm chất đệm cho xã hội. Chính hai yếu tố nầy
nói lên cung cách phát triển kinh tế của VN là chưa bền vững
được.
Đồng thời với việc gia
nhập vào ngưỡng cửa WTO, VN đã lên tiếng báo động là có thể có
600 ngàn công nhân ngành dệt may, 300 ngàn công nhân ngành giầy
da, 400 ngàn nông dân chăn nuôi thủy sản có nguy cơ bị mất việc
vì cạnh tranh. Vấn đề được đặt ra nơi đây không phải là những
con số dương tính hay âm tính. Nhưng la, việc VN cần soi chiếu
vào tình trạng hiện tại của quốc gia để hoạch định hướng hội
nhập thích nghi với tiến trình toàn cầu hóa trong đó việc gia
nhập vào WTO chỉ là một bước trong tiến trình trên.
Qua những gợi ý về những
cản ngại căn bản trên, việc gia nhập vào WTO của VN không
phải là một yếu tố đòn bẩy chủ yếu tạo nên tăng trưởng kinh tế
quốc gia. Điều cốt lõi là VN cần phải chuyển đổi não trạng, xác
định rõ chính mức tăng trưởng kinh tế quốc gia mới có thể tạo
điều kiện thuận lợi cho xây dựng và thúc đẩy quá trình hội nhập
của VN để được thành công hơn. Đây mới đúng là mục tiêu tối hậu
của việc hội nhập vào cuộc chơi của toàn cầu.
Muốn đạt mục tiêu, VN
cần phải phát triển lành mạnh và trong sáng trong quản lý, nghĩa
là tạo ra một xã hội pháp trị, quản lý bằng luật định của quốc
hội chứ không bằng nghị quyết đến từ bất cứ nhân vật cao cấp nào
trong đảng. VN cần phải bình đẳng và công bằng trong mọi
quyết định về nhân sự, đặc biệt là nhân sự trong vấn đề quản lý
kinh tế và kế hoạch, khuyến khích tư nhân đầu tư nguồn vốn và
chất xám vào công cuộc phát triển quốc gia chung. Đặc biệt là
cần phải chấm dứt chính sách Hồng hơn Chuyên, vì đây mới đích
thực là một cản ngại lớn nhất cho mọi tiến bộ của đất nước..
Làm được như thế, VN sẽ
giảm bớt gánh nặng phá sản của các công ty quốc doanh, kéo theo
mức thâm thủng của ngân hàng qua những món nợ “xấu”. Hai yếu tố
sau nầy là nguyên nhân chính của tình trạng tham nhũng trong
nước.
Một yếu tố sau cùng
cũngcần cảnh báo cho Việt Nam là khoảng cách giàu nghèo ngày
càng nới rộng so với trước kia. Điều nấy chính là một nghịch lý
lớn trong phát triển. Theo công bố mới nhất của Ngân hàng Thế
giới vào tháng 3,2007 qua hội thảo “Công bố báo cáo cập nhật
nghèo”, tiêu chuẩn nghèo của Việt Nam là 5.766 Đồng/ngày (tương
đương 0,30 Mỹ kim), trong lúc đó tiêu chuẩn nghèo của LHQ là 2
Mỹ kim/ngày. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng nơi rộng ra, và
phúc lợi tạo ra do phát trỉan không phân phối đồng đều cho người
dân.
Những nguyên nhân chính
cho tệ trạng kể trên là: 1- Việc xử dụng vốn đầu tư cho quốc
gia không hiệu quả làm cho nỗ lực xóa đói giảm nghèo không tiến
triển như ý muốn; 2- Việt Nam phải mất 5 Mỹ kim đầu tư để có
được 1 Mỹ kim tăng trưởng thay vì 3 Mỹ kim như ở các quốc gia
đang phát triển trong vùng. Thử hỏi 2 Mỹ kim thất thoát đó có
phải là do môi trường tham nhũng tạo ra hay không? Và đây củng
chính là nguyên nhân chính đẩy cao khoảng
cách giàu nghèo.
Sau nhiều thập niên sống
trong chiến tranh, sau hơn 32 năm phát triển trong hòa bình, rõ
ràng cơ chế quản lý bao cấp cũng như cơ chế quản lý theo cung
cách phát triển thị trường tự do theo định hướng xã hội chủ
nghĩa cho đến nay đã đem lại cho người dân được gí? Có chăng là
tuyệt đại đa số dân chúng chỉ cầu mong hàng ngày được thỏa mãn
nhu cầu sống còn ở bậc thấp nhất là miếng cơm manh áo.
Bao giờ người dân Việt mới
có thể bước thêm một bước nữa để đạt được các nhu cầu cao hơn
như được sống trong an bình, được trân trọng, và sống có lý
tưởng để góp phần vào công cuộc đóng góp cho quốc gia!
Mai Thanh Truyết
Orange, Tháng 7, Đinh Hợi
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |