|
Trong tuần vừa qua, Tc KH&MT có nêu lên
tình hình hiện tại của rác sinh hoạt gia cư ở Việt Nam. Cuộc
trao đổi hôm nay với TS Mai Thanh Truyết MTT đặt trọng tâm vào việc xây dựng các
bãi rác mới cùng tiến độ thi công và phương cách giải quyết vấn
đề. Cũng trong cuộc hội luận nầy, trường hợp tiểu bang
California được đem ra làm thí dụ điển hình cho giải pháp giảm
thiểu nguồn rác phát thải và hạn chế xây dựng thêm các bãi rác
mới trong phát triển và đô thị hóa.
Hỏi 1: Trước hết xin TS MTT nói về các dự án
xây dựng các bãi rác có ngân sách ODA hoặc do đầu tư nước ngoài.
Đáp 1: Trước tiên, chúng tôi muốn nói đến dự
án của công ty liên hợp Đa Phước do Công ty Viêt Nam Waste
Solutions do David Dương, một doanh nhân trong địa hạt phế thải
gia cư ở San Jose, CA. Vào tháng 6 năm 2005, công ty này đã ký
kết với Tp HCM và đã đặt viên đá đầu tiên trên dự án có tổng
diện tích là 640 hecta, và kinh phí đầu tư là 400 triệu Mỹ kim.
Dự án hiện còn đang tiếp tục thiết lập dự án giải tỏa và xây
dựng hạ tầng. Hiện tại (8/2006) công ty còn đang tiến hành dọn
và sang lấp mặt bằng, thi công mặt bằng nhà máy, xây dựng cầu
dẫn vào khu đất của dự án. Dự kiến sẽ tiếp nhận 2500 đến 3000
tấn rác mỗi ngày cho việc phân loại rác tái sinh, và biến chế
thành phân compost vào đầu tháng 3/2007. Từ khi đặt viên đá đầu
tiên đến nay là 14 tháng, dự án mới vừa thu hồi được 110 hecta,
phần 530 hecta còn lại đang được hiệu chỉnh quy hoạch và tiếp
tục giải tỏa. Chúng tôi không hiểu làm thế nào trong vòng 6
tháng tới, công ty có thể tiếp nhân lượng rác đầu tiên?
Hỏi 2 : Ngoài công ty Đa Phước ra, còn có
công ty nào xử lý rác có tầm quan trọng trong hai năm trở lại
đây, thưa ông?
Đáp 2 : Dạ có thưa anh, Công ty Vietstar có
trụ sở tại Hoa kỳ đã có giấy phép xin gia hạn đầu tư ở sở TN&MT
Thành phố HCM. Công ty có công suất 1,200 tấn mỗi ngày, với tổng
số vốn đầu tư 36 triệu Mỹ kim. Một dự án khác là dự án nhà máy
sản xuất phân compost do công ty liên doanh Saigon- Earthcare (
Hoa kỳ) làm chủ đầu tư, có công xuất 1,000 tấn một ngày. Công ty
đang xin giấy phép xây dựng và làm đường dẫn vào khu dự án. Và
sau cùng, dự án xây dựng nhà máy sản xuất phân compost do Công
ty Môi trường Đô thị làm chủ đầu tư, có công xuất 500 tấn /ngày
và 300 tấn phân hầm cầu/ngày. Công ty do nguồn vốn ODA từ chính
phủ Hòa Lan.
Đại đễ là dù có nhiều dự án đầu tư trong công
cuộc xử lý phế thải và xử lý nước rỉ, nhưng tiến độ thi hành dự
án hiện nay rất chậm, kể cả những dự án đã thất bại trước đó như
dự án Đông Thạnh ngày xưa và bãi rác Gò Cát trong hiện tại.
Hỏi 3: Trước khi khảo sát về tiến độ thi công
một bãi rác mới. Ông vừa nói đến sự thất bại của dự án bãi rác
Gò Cát, vậy Ông có thể nói rõ hơn để quý thính giả của đài có
thể hiểu đó là những thất bại vì những nguyên nhân gì?
Đáp 3 : Bãi rác Gò Cát được bắt đầu đi vào
hoạt động từ năm 1995. Theo thiết kế được duyệt, khả năng tiếp
nhận của bãi rác là 3,65 triệu tấn và sẽ đóng cửa vào cuối năm
2005. Bãi nầy gồm 4 bãi chứa rác khác nhau và một nhà máy xử lý
400 mét khối nước rỉ/ngày, và chỉ có khả năng thu nhận 2000 tấn
rác/ngày mà thôi.
Nhưng trên thực tế, cho đến ngày hôm nay,
hàng ngày bãi rác tiếp nhận từ 4,000 đến 4,500 tấn rác và đã
vượt mức cho phép là 4,2 triệu tấn. Thêm nữa, nhà máy xử lý nước
rỉ hiện tại chỉ có khả năng xử lý 100 mét khối/ngày, trong lúc
lượng nước rỉ phát sinh hàng ngày là 1,000 mét khối. Do đó, CT
Môi trường Đô thị có nhiệm vụ quản lý bãi rác phải dùng xe bồn
vận chuyển trên 800 mét khối nước rỉ hàng ngày từ Gò Cát lên hồ
chứa nước của bãi rác Đông Thạnh. Dĩ nhiên chuyện tràn bờ và
chuyện nước rỉ sẽ đi vào môi trường ở Gò Cát và Đông Thạnh cũng
là kết quả đương nhiên cho những ngày sắp tới mà thôi.
Hỏi 4 : Bước sang vấn đề tiến độ thi công,
tại sao đã có doanh nhân ngoại quốc hay nguồn vốn ODA đầu tư vào
kỹ nghệ xử lý rác, thủ tục về giấy phép trong xây dựng phải mất
quá nhiều thời gian làm chậm trể tốc độ thi công, thưa ông ?
Đáp 4: Sở dĩ có tình trạng trên xảy ra là vì
theo ông Nguyễn văn Chiến, phó GĐ sở TN&MT Thành phố HCM cho
biết trong 30 năm qua, các dự án cho bãi rác thải do ngân sách
thành phố, hoặc được viện trợ từ các tổ chức, chính phủ nước
ngoài như bãi rác Gò Cát. Do đo,ù Sở TN&MT bị động vì thiếu kinh
nghiệm trong việc tiếp cận với các dự án lớn và mới, nhất là
việc giải quyết các hợp đồng ký kết với doanh nghiệp ngoại quốc.
Hiện nay, đối với tiến độ thực hiện các dự án
xử lý, Sở đã rút kinh nghiệm và đang phối hợp với các sở ban
ngành khác đễ đẩy nhanh tiến độ thực hiện quy hoạch, đền bù thu
hồi đất và hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho các khu liên hợp xử lý
chất thải rắn. Sở cũng tăng cường việc giải quyết các vấn đề một
cách căn cơ từ gốc như quy hoạch tổng thể chất thải rắn cho đến
năm 2020 so với mức độ gia tăng của đô thị hóa và phát triển
thành phố.
Hỏi 5: Rác ở Việt Nam đã là một vấn nạn lớn,
dĩ nhiên rác gia cư ở các quốc gia đã phát triển cũng là một vấn
nạn không nhỏ cho các nước này. Họ có phương cách giải quyết vấn
đề như thế nào đễ không gây ô nhiễm môi trường không khí, môi
trường nước mặt và nước ngầm không thưa ông?
Đáp 5 : Rác cũng là một vấn nạn rất lớn đối
với các quốc gia có nền công nghệ cao mặc dù luật lệ môi trường
đã được áp dụng một cách khắc khe để bảo vệ sức khỏe của người
dân. Lấy California làm thí dụ, với dân số 36 triệu người và
hàng năm thải hồi khỏang 165 triệu tấn rác. Vấn đề xây dựng bãi
rác và nhà máy xử lý nước rỉ cùng việc thu hồi khí thải từ bãi
rác để biến thành điện năng đòi hỏi Cali phải có một hệ thống
quản lý và kiểm soát thật hoàn chỉnh.
Trước vấn nạn trên, từ năm 1987 chính quyền
của Cali đã lấy quyết định là quy định việc quản lý chất phế
thải cho từng địa phương và chỉ tiêu cho đến năm 2000 là phải
giảm thiểu 50% lượng rác gia cư, khai triển bằng cách thu hồi
50% rác để tái sinh, tái xử dụng hay biến chế thành phân hữu cơ
.v.v... Tuy nhiên chỉ tiêu trên vẫn chưa đạt được vào năm 2000.
Hỏi 6 : Còn hiện tại thì sao thưa ông ?
Đáp 6 : Năm 2004, kỹ nghệ rác ở Cali đã giải
quyết được 76 triệu tấn tức 48% qua tái sinh hoặc tái xử dụng.
Qua năm 2005, 88 triệu tấn được tái xử dụng tức 52%. Và John
Myers, Phát ngôn viên của Hội đồng Quản lý Rác Cali công bố :
"Chỉ tiêu giải quyết 50% lượng rác phế thải của cư dân Cali đã
thành công sau 18 năm ban hành. Và trong vòng 10 năm trở lại
đây, không có bãi rác cùng hệ thống xử lý rác mới được thành
lập". Thiết nghĩ, đây là một bài học lớn cho VN trong vấn đề quản
lý phế thải.
Hỏi 7: Thưa ông. Làm thế nào mà California
đạt được thành tích trên?
Đáp
7: Đây là kết quả của một sự phối hợp giữa chính quyền và người
dân. Cũng cần nên nói thêm là người dân đã ý thức được tầm quan
trọng trong việc bảo vệ môi trường bằng cách thi hành quyết định
của từng địa phương như là phân loại rác và phế thải vào những
thùng rác riêng rẽ: như thùng đựng phế thải thực phẩm (rác hữu
cơ ), thùng đựng rác do cây kiểng và sân cỏ , thùng đựng những
phế thải có thể tái sinh như chai lọ, thủy tinh, plastic, giấy
báo, lon, hộp..v.v... Ngoài việc giảm thiểu phân nửa thể tích
của bãi rác, các phế thải tái sinh đã góp một phần không nhỏ
trong kỹ nghệ sản xuất nguyên vật liệu như giấy, plastic, thủy
tinh, vừa giải quyết được một phần tình trạng ô nhiễm môi
trường và tiết giảm được mức xử dụng tài nguyên thiên nhiên.
Chính người dân và các Công ty công nghệ nhận thức được tầm quan
trọng của mức tiết giảm trên. Do đó, chính họ đã biến các cơ sở
thành những nơi sản xuất công nghệ sạch và xanh.
Hỏi 8: Từ bài học của tiểu bang Cali, Hoa kỳ. Chúng ta có thể rút ra
những kinh nghiệm nào cho trường hợp VN ?
Đáp
8: VN đứng trước những thách thức do phát triển, gây ra tình
trạng ô nhiễm môi trường đang có chiều hướng ngày càng lan rộng,
công nghệ xây dựng bãi rác cùng việc thiết kế nhà máy xử lý của
VN đang còn ở trong tình trạng sơ khai. Do đó, VN cần phải chuẩn
bị một đội ngũ nhân sự chuyên môn trong công nghệ này đồng thời
với việc huấn luyện cán bộ quản lý môi trường.
Thêm
nữa, sự thành công của Cali trong vấn đề giải quyết phế thải,
phần lớn là do ý thức bảo vệ môi trường của người dân cao qua
quá trình giáo dục và được hướng dẩn qua truyền thông, truyền
hình, học tập và báo chí. Đây mới chính là điễm rốt ráo trong
phương cách giải quyết vấn đề.
Và
muốn được như thế, chương trình công dân giáo dục nơi học đường
cần phải có trong chương trình học như những điều luật căn bản
cần thiết cho một xã hội dân sinh văn minh như : Luật đi đường ,
luật xả rác công cộng, thái độ chấp hành luật lệ chung, và nhất
là luật phải được áp dụng cho tất cả mọi người dân và không có
ngoại lệ nào cho bất cứ ai cả!
Một
môi trường sạch chỉ có trong một xã hội sạch mà thôi !!!
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |