|
Mối quan tâm hiện tại của thế giới là hiệu ứng nhà kính từ đó tạo ra sự hâm nóng
toàn cầu.Thán khí CO2 là một nhân tố chính trong hiệu ứng nhà kính nầy. Do đó tứ
nhiều năm qua, các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung trí tuệ vào việc giải
quyết hay hạn chế sự hình thành khí CO2 trong sản xuất hoặc bằng những công nghệ
sạch, hay tìm phương cách trừ khử chúng. Trong mục Tạp chí KH&MT hôm nay, TS MTT
trở lại với chúng ta về vấn đề nầy.
Hỏi 1: Trước hết, xin TSMTT cho thính giả
biết thêm về tình trạng hiệu ứng nhà kính hiện nay và phương hướng giải quyết
chung của thế giới như thế nào?
Đáp 1: Thưa anh, hiệu ứng nhà kính là một
hiện tượng phát sinh do phát triển trên thế giới qua sản xuất. Các khí thải hồi
vào bầu khí quyển là nguyên nhân chính của hiệu ứng nầy, trong đó thán khí hay
CO2 chiếm đa số. Trung bình trên thế giới CO2 chiếm 70% lượng khí nhà kính;
nhưng riêng đối với Hoa Kỳ thì lượng khí nầy có tỷ lệ là 81%. Do đó, nguyên tắc
căn bản của tất cả công trình nghiên cứu là làm thế nào để giảm thiểu lượng CO2
thải hồi vào không khí. Các hướng giải quyết hiện nay tập trung vào các suy nghĩ
sau đây: hoặc làm đậm đặc khí CO2 lại, hoặc “nhốt giữ” CO2 trong môi trường
ngoài không khí, hoặc dùng áp suất cao, hoặc bơm khí CO2 vào lòng đất hay lòng
biển sâu.
Hỏi 2: Thưa TS, những công nghệ nào ở HK
phóng thích nhiều CO2 so với các quôc gia khác trên thế giới?
Đáp 2: Ở HK công nghệ năng lượng điện chiếm
đến 39% lượng khí thải CO2, trong đó điện năng đến từ than đá chiếm 52% trong tỷ
lệ trên. Tiếp theo sau là các phương tiện di chuyển như: xe, xe lửa, máy bay...
chiếm 32%. Sau hết là CO2 thải hồi từ các công nghệ sản xuất khác. Hiện tại, trử
lượng than đá của HK có thể dùng trong vòng 250 năm sắp tới và giá than rất rẻ
từ 1 đến 2 xu một cân. Do đó khó có thể chuyển hóa hay giảm thiểu công nghệ nầy.
Hỏi 3: TS vừa nói 81% lượng khí thải ở HK là
thán khí, số còn lại là các khí nào?
Đáp 3: Ngoài thán khí ra, trong khí thải còn
có: khí methane, 9%, nitrogen oxide, 5%, sulfur hexachloride, hydrofluorocarbon,
và perchlorocarbon chiếm 2%, và khí CO2 từ các nguồn khác là 3%. Tổng cộng hàng
năm, HK phóng thích vào không khí 1,53 tỷ tấn tính theo lượng carbon tương đương
đóng góp vào sự hâm nóng toàn cầu.
Hỏi 4: Về ba nguyên nhân chính tạo ra thán
khí vừa kể trên, chúng ta có phương cách nào làm giảm lượng khí thải nầy không
thưa TS?
Đáp 4: Như chúng tôi vừa trình bày trên, do
điều kiện tự nhiên, việc dùng than đá để biến thành điện năng khó có thể giảm
thiểu được. Tuy nhiên nếu biết tận dụng các nguồn điện năng thiên nhiên như:
gió, ánh sáng mặt trời, sóng và thủy triều, cùng các loại năng lượng tái tạo
khác từ rác và vi sinh, chúng ta có thể hạn chế được mức xử dụng than đá.
Đối với các phương tiện di chuyển, những công nghệ mới làm tăng năng suất trong
việc xử dụng nguyên liệu, biến nguyên liệu xăng dầu sạch hơn, cho ít khí thải
hơn, khuyến khích việc xử dụng xe chạy bằng điện năng hay nguyên tử năng...Những
điều trên đây sẽ làm giảm bớt lượng khí thải phóng thích vào không khí. Các công
nghệ trên đây đang được chính phủ HK cổ súy qua Harlan Whatson, Phụ trách Thương
thuyết về sự thay đồi khí hậu toàn cầu, như sau:” Các công nghệ phải chuyển hóa
để tạo năng lượng trong tương lai hướng đến sự kiện không còn ảnh hưởng đến mối
lo sợ về mức thay đổi thời tiết nữa”.
Hỏi 5: Còn về phía chính phủ HK, có những
biện pháp nào khuyến khích các nhà sản xuất và người dân giảm thiểu lượng khí
thải vào không khí không, thưa TS?
Đáp 5: Dạ có thưa anh. trước hết chính phủ
tài trợ hay phụ cấp chương trình năng lượng nào có mục đích hạn chế hay không
còn phóng thích thán khí nữa. Chính phủ cũng đẫy mạnh chương trình năng lượng
mặt trời, năng lượng gió, và nhất là công nghệ biến than thành hơi trước khi
chuyển thành điện năng. Chính công nghệ sau cùng nầy hy vọng sẽ làm giảm thiểu
30% lượng khí thải do công nghệ nhiệt điện từ than đá.
Còn về phía người dân, chính phủ tài trợ chi phí cho việc thiết lập các hệ thống
điện năng từ gió và mặt trời. Tại HK, chúng ta sẽ được khấu trừ 15% chi phí
thiết lập hệ thống năng lượng mặt trời hay 4,50 Mỹ kim cho mỗi Kw/giờ xử dụng
loại năng lượng nầy cho việc khai thuế hàng năm.
Thêm nữa, công nghệ biến Hydrogen thành điện năng cũng đang được tiến hành và hy
vọng có thể đi vào ứng dụng trong vòng vài năm nữa.
Và
ở một số nhà máy lọc dầu một công nghệ mới được thành hình là chuyển lượng khí
CO2 vào các túi dầu thô trước khi tinh chế đầu để đạt được hiệu suất xăng dầu
cao hơn.
Quan trọng nhất là công nghệ “nhốt” khí CO2 vào lòng đất hay lòng biển. Hai công
nghệ nầy có thể hấp thụ một lượng lớn khí thải CO2 và hy vọng sẽ là một giải đáp
cho vấn nạn hâm nóng toàn cầu.
Hỏi 6: Trước hết xin TS nói về công nghệ bơm
CO2 dưới áp suất vào các túi dầu.
Đáp 6: Tại vùng viễn Tây Canada, từ năm
2000, chính phủ đã bơm CO2 dưới áp suất cao vào túi dầu ở Weyburn với mục đích
thu hồi lượng dầu còn lại trong vùng nầy. Biện pháp nầy được ước tính là có thể
nhốt lại 22 triệu tấn CO2; đối lại, lượng CO2 trong túi dầu sẽ sản xuất lại 130
triệu thùng dầu 20 năm sau đó.
Hỏi 7: Tiếp theo, xin TS nói về công nghệ
nhốt khí CO2 vào lòng đất.
Đáp 7: Theo Scott Klara, phát ngôn viên của
Bộ Năng Lượng HK, công nghệ nhốt khí CO2 vào lòng đất sẽ được ứng dụng rộng rãi
khắp HK vào năm 2012. Ngay từ bây giờ, các quy định về chuyên chở khí, cũng như
phí tổn chuyển vận từ các công ty đến nơi “nhốt” đang được cứu xét giữa chính
quyền và các công ty lớn trong nước. Theo tính toán, thì vào năm 2012, chi phí
cho việc xử lý 1 tấn CO2 là 10 Mỹ kim. Cũng theo tính toán, năm 2001, HK phóng
thích 6,2 tỷ tấn CO2 vào khí quyển, và cho đến năm 2050, HK vẫn sẽ giữ nguyên
lượng khí thải nầy vì đã nhốt được 5,3 tỷ tấn hàng năm; và trong khoảng thời
gian nầy HK sẽ tăng sản lượng quôc gia lên gấp nhiều lần.
Hỏi 8: Còn việc nhốt khí CO2 trong lòng biển
như thế nào thưa TS?
Đáp 8: Công nghệ nhốt CO2 vào lòng biển dược
công ty StatOil, Na Uy thực hiện đầu tiên vào năm 1996 ở một giàn khoan dầu
thuộc vùng biển của quốc gia nầy. Thán khí từ các nhà máy sẽ được hóa lỏng và
bơm thẳng vào lòng biển sâu độ 1.000 mét xuyên qua hệ thống có chứa sắt (Fe) làm
chất xúc tác để tạo ra nguồn “phân bón” cho các loài phiêu sinh vật
(phytoplankton) sống trong nước biển có khả năng đồng hóa diệp lục tố như cây cỏ
trong không khí. Các sinh vật nầy sẽ hấp thụ thán khí và phóng thích dưởng khí
(O2) vào nước biển. Công ty đã bơm trên 2 triệu tấn CO2 vào thềm lục địa của
lòng đại dương. Theo ước tính, kỹ thuật nầy có khả năng bơm 600 tỷ tấn CO2 tương
đương với tổng số lượng CO2 toàn Âu châu phóng thích trong vòng 400 năm. Với
công nghệ trên đây, theo ước tính của công ty StatOil khả năng cả đại dương và
thềm lục địa có thể hấp thụ 200.000 tỷ tấn carbon tương đương, chấm dứt dễ dàng
hiện tượng hâm nóng toàn cầu, nếu chương trình được thế giới chấp nhận.
Theo Peter Brewer, khoa học gia ở Viện Nghiên cứu Sinh vật biển Monterey (
Monterey Bay Aquarium & Research Institute), hiện tại có khoảng 20 triệu tấn
thán khí “đi vào” lòng đại dương hàng ngày, di chuyển và trộn lẫn với nước biển
ở dưới sâu tạo thành những luồn nước có nồng độ thán khí thật cao. Luồng nước
nầy di chuyển và hòa tan theo thời gian để cuối cùng biến mất vào lòng đại
dương.
Hỏi 9: Như vậy thì vấn nạn hâm nóng toàn cầu
có thể được giải quyết trong một tương lai gần đây phải không thưa TS?
Đáp 9: Thưa anh, tuy những biện pháp chúng
tôi vừa nêu trên đây có khả năng giải quyết vấn nạn toàn cầu và không làm đình
trệ sự phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiện vấn đề không
đơn giản như thế. Trên hành tinh chúng ta đang sống, mỗi quốc gia riêng rẽ đều
có tầm nhìn về chính trị, kinh tế, cung cách quản lý đất nước khác biệt nhau,
nhiều khi có những mâu thuẫn khó hàn gắn. Do đó đi tìm một sự đồng thuận chung
để giải quyết một vấn nạn của thế giới quả rất khó khăn. Trừ khi sự hâm nóng
toàn cầu nầy trở thành một nguy cơ sống chết trước mắt cho nhân loại. Điều đó
chưa xảy ra trong hiện tại cho nên việc giải quyết chung sẽ không xảy ra trong
hiện tại hay tương lai gần đây. Tuy nhiên, để kết luận cho buổi hội luận hôm
nay, ngày 5/6 hàng năm là Ngày Môi trường Thế giới. Năm nay, ngày nầy sẽ được
LHQ tổ chức tại San Francisco, CA từ ngày 1 đến 5/6 qua chủ đề “Thành phố xanh”
nhằm mục đích cổ súy một cuộc sống “tử tế” cho nhân loại trong tương lai. Đề tài
chính vần là những biện pháp cần thiết để giảm thiểu nguồn khí CO2 phát thải vào
không khí hầu làm chậm lại tiến trình hâm nóng tòan cầu.
Kính chào Quý thính giả của Đài ACTD
Mai Thanh Truyết
Hội KH&KT Việt Nam (VAST)
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |