|
Kể từ
khi đúc kết bản Thông cáo chung cho Hội nghị Thượng Đỉnh về Môi
sinh tại Rio de Janeiro (Ba Tây) năm 1992, quy tụ trên 170
nguyên thủ quốc gia trên thế giới để soạn thảo ra một số gợi ý
và quy định về tương lai môi sinh của toàn cầu. Kết quả quan
trọng nhất được thể hiện sau đó, ngoài các ký kết về nhiều lãnh
vực toàn cầu khác, là Nghị định thư (NĐT) Kyoto vào năm 1997.
Đây là một thành quả của thế giới liên quan đến sự hâm nóng toàn
cầu.
Hỏi 1: Xin TS Mai Thanh
Truyết MTT cho biết sơ lược về các quy định trong NĐT Kyoto.
Đáp 1: Dự thảo NĐT
Kyoto gồm 26 Điều khoản và 2 Phụ lục được 166 nguyên thủ quốc
gia trên thế giới đồng ý trên nguyên tắc. NĐT quy định rằng, cho
đến năm 2012, các quốc gia trên thế giới phải giảm thiểu 5,2%
các khí phóng thích vào không khí, trong đó thán khí CO2 chiếm
vai trò quan trọng nhất, so với định mức của năm 1990. Dự thảo
nầy sẽ trở thành quyết định chung cho toàn cầu nếu có trên 55%
định mức tỷ lệ của các quốc gia tính theo tỷ lệ năng lượng cần
thiết cho các quá trình sản xuất của từng quốc gia một. Hoa Kỳ
vào năm 1990, đã sản xuất 36% sản phẩm của toàn thế giới , do đó
có trách nhiệm trên 36% lượng khí phóng thích vào bầu khí quyển
tạo ra sự hâm nóng toàn cầu. Trong lúc đó Nga Sô chịu trách
nhiệm 17,4%.
Tính
đến ngày 30/11/03, tổng số các quốc gia đã chuẩn y NĐT Kyoto chỉ
đạt được 44,2%. Do đó NĐT vẫn chưa thành luật được. Việt Nam đã
phê chuẩn NĐT vào ngày 25/9/2002.
Hỏi 2: Vào tháng 10 vừa qua,
quốc hội Nga Sô đã chuẩn y NĐT cũng như cuối tuần qua tại thủ đô
Á Căn Đình có diễn ra Hội nghị về các quy định của NĐT, TS nhận
dịnh như thế nào?
Đáp 2: Vào tháng 10 vừa qua,
quốc hội Nga Sô đã phê chuẩn NĐT nầy với hy vọng được sớm gia
nhập vào Tổ chức Mậu dịch Thế giới (WTO). Kể từ ngày đó, tỷ lệ
các quốc gia chuẩn y NĐT thư là 61,6%, tức nhiên NĐT Kyoto sẽ
biến thành luật cho toàn cầu; và 130 quốc gia trên thế giới đã
ký kết sẽ phải bắt đầu chấp hành luật kể từ ngày 16/2/2005 tới
đây. Hoa Kỳ vẫn đứng ngoài và không chấp nhận NĐT nầy.
Vào
cuối tuần vừa qua, 5.400 Đại diện của 159 quốc gia đã nhóm họp
tại Buenos Aires (Á Căn Đình) để bàn thảo về các quy dịnh chung
cho sự hâm nóng toàn cầu vừa được phê chuẩn. Hoa Kỳ cũng có cử
Đại diện, nhưng vẫn luôn luôn biện bác hiện tượng trên qua quan
điểm của nhà khí tượng nổi danh thuộc trường MIT, Richard Lidzen
là:”Lý thuyết toàn cầu hóa chỉ là một niềm tin tôn giáo
(religious belief) hơn là một tính toán khoa học”.
Hỏi 3: Như vậy là Hoa kỳ
không tuân thủ NĐT nầy hay sao thưa TS?
Đáp 3: Vào năm 2001, Tổng
thống Bush đã cực lực phản bác NĐT nầy với bốn lý do chính là:
- Sư phân nhiệm với tỷ lệ 36% cho Hoa Kỳ là không công
bằng vì Trung Quốc và Ấn Độ và trên 100 quốc gia đang phát triển
khác được miễm nhiễm trong việc thi hành NĐT;
- Sự suy giảm khí thải sẽ kéo theo sự đình trệ trong
phát triển của Hoa Kỳ, do đó sẽ ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu
và sẽ là mối nguy cơ lớn hơn nguy cơ của sự hâm nóng toàn cầu.
Theo ước tính của Hoa Kỳ thì hiện tại Trung Quốc và Ấn Độ phải
góp phần trách nhiệm vào hiệu ứng toàn cầu nầy. Và mỗi quốc gia
sẽ phải chia xẻ 5% theo tỷ lệ phát triển.
- Thêm nữa, hàng năm nếu tính thêm diện tích rừng được
tái tạo ở Hoa Kỳ, lượng thán khí CO2 do rừng hấp thụ lại có thể
được khấu trừ lượng khí thải do phát triển kỹ nghệ sinh ra. Hay
nói khác đi, tỷ lệ khí mà Hoa Kỳ cần phải giảm theo quy định sẽ
ít hơn số lượng ghi trong NĐT là 36%.
- Theo ước tính của Hoa kỳ vào năm 2000, thì Hoa Kỳ chỉ
phải trách nhiệm 21% lượng thán khí thải vào bầu khí quyển mà
thôi.
Hỏi 4: Trước viễn ảnh NĐT
biến thành luật, việc thi hành luật sẽ được thực hiện như thế
nào?
Đáp 4: Một bước ngoặc hiện
nay sủa NĐT Kyoto bắt đầu từ khi Nga Sô chuẩn y NĐT nầy. Và vấn
đề sẽ được 5.400 Đại diện trong kỳ phó hội tại thủ đô của Á Căn
Đình đối phó.
Thực tế
mà nói, NĐT Kyoto dù đã được phê chuẩn và sẽ biến thành luật vào
tháng 2/2005, nhưng tương lai của việc thi hành luật thật là
mong manh. Trước hết LHQ được chỉ định đứng ra để thúc đẩy việc
thi hành luật, nhưng cơ quan nầy là một cơ quan không có thực
quyền trên thực tế, cũng như NĐT không ghi rõ những biện pháp
chế tài đối với những quôc gia vi phạm như thế nào. Ngay cả nếu
có ghi rõ đi nữa, việc chế tài sẽ không được thực thi vì sẽ
không có quốc gia tuân thủ theo lệnh của LHQ cả.
Hỏi 5: Và các quốc gia trên
thế giới đã tuân thủ như thế nào từ khi có dự thảo của NĐT năm
1997?
Đáp 5: Cũng trên thực tế,
NĐT đã được phát thảo từ năm 1997, nhưng hầu hết các quốc gia
trên thế giới vẫn tiếp tục gia tăng mức khí thải hồi vào bầu khí
quyển qua việc phát triển quốc gia. Chỉ có hai ngoại lệ là Anh
Quốc đã tuân thủ đúng đắn bằng cách áp dụng nhiều công nghệ sạch
và hy vọng đạt được chỉ tiêu vào năm 2012. Trong lúc đó, quốc
gia thứ hai là Nga Sô cũng đã giảm thiễu việc phóng thích khí
thải nầy vì định mức áp dụng cho Nga Sô là định mức cho Liên Sô
cũ, có quá nhiều kế hoạch sản xuất công nghệ dùng trong quân sự,
và hiện tại các cơ sở sản xuất đó đã bị hạn chế hay hủy bõ.
Đương nhiên là lượng khí thải hồi của Nga Sô bị suy giảm.
Đặc
biệt hơn nữa, hai quốc gia Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia
đã có nền kinh tế phát triển vượt bực trong khoảng thởi qian NĐT
ra đời đến nay. Hai quốc gia nầy đã xử dụng mức năng lượng chính
cho phát triển chính là than đá, nguồn nguyên liệu cho ra thán
khí và nhiều khí nhà kính khác nhiều nhất so với các nguồn năng
lượng khác. Một thí dụ là Trung Quốc đã tiêu thụ hàng năm 200
triệu tấn than dùng cho việc nấu nướng và sưởi ấm, và chỉ việc
thải hồi thán khí nầy tương đương với 3% tỷ lệ của tổng số khí
thải toàn cầu.
Hỏi 6: Còn các điều khoản cụ
thể trong NĐT như thế nào?
Đáp 6: Những điều khoản ghi
trong NĐT Kyoto như là làm thế nào để giảm thiểu việc phóng
thích thán khí ở các kỹ nghệ như ứng dụng những công nghệ sản
xuất sạch; các phương tiện di chuyển như xe cộ, tàu bè, máy bay,
xe lửa v. v.. đã được khuyến cáo là phải dùng các loại nguyên
liệu tạo ra năng lượng sạch.
Hai yêu
cầu căn bản trên, tuy hoàn toàn dúng theo tinh thần của NĐT trên
lý thuyết, nhưng trên thực tế thì không thể thực hiện được. Nhất
là không thế áp dụng cho Trung Quốc và Ấn Độ, cùng hơn 100 quốc
gia đang phát triển khác trên thế giới.
Hỏi 7: Thái độ phủ nhận của
Hoa Kỳ có nguy cơ làm phá vỡ việc thi hành NĐT hay không thưa
TS?
Đáp 7: Hoa Kỳ tuy cực lực
phản bác NĐT, nhưng trên thực tế, Hoa Kỳ đã có nhiều đóng góp
rất lớn cho việc làm giảm thiểu sự hâm nóng toàn cầu. Hoa Kỳ đã
tiêu tốn hơn bất cứ quôc gia nào khác trên thế giới để đầu tư
vàp công việc nghiên cứu các công nghệ sạch cho phát triển.Hoa
Kỳ có nhiều chương trình giảm thuấ cho các đại công ty ứng dụng
các công nghệ sạch nầy. Một thí dụ điển hình là, công ty Dow
Chemical Co, công ty hóa chất lớn nhất của xứ nầy đã giảm lượng
CO2 thải hồi từ 28 triệu m3 xuống còn 26 triệu mà thôi tính từ
năm 1994 đến 2002; trong lúc đó mức sản phẩm sản xuất tăng gần
50% trong thời gian kể trên.
Từ
những lý do trên, hai nhà chiến lược xanh (green strategist)
Michael Shellenberger và Ted Norhaus thú nhận là việc giải quyết
sự hâm nóng toàn cầu không thể nào đi đến sự thành công được.
Hỏi 8: Theo nhản quan của TS
thì sư hâm nóng toàn cầu là gì và có thêm sự lý giải nào khác
không?
Đáp 8: Theo thiển ý của
chúng tôi, lý thuyết về sự hâm nóng toàn cầu vẫn chưa được những
nhà khoa học trên thế giới đồng thuận. Một số vẫn cho là lý
thuyết nầy chỉ là một giả thuyết và là sản phẩm của các nhà mô
hình toán phát ra ra trên máy điện toán mà thôi.
Một số
nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới vẫn quan niện rằng hiện
tượng nhiệt độ không khí tăng dần trong những thập niên gần đây
chỉ là một hiện tượng tự nhiên và có tính cách tuần hòan. Họ đã
căn cứ vào sự chuyển vận của trái đất theo chu kỳ ấm-lạnh. Bắng
cớ là vào thời kỳ Vikings ở Greenland vào thế kỷ thứ 3, nơi đây
đủ ấm để có những đồng cỏ cho người Vikings chăn nuôi cũng như
trồng trọt. Có thể gọi khoảng thời gian nầy là chu kỳ ấm của
trái đất. Sau đó Greenland đã biến thành những tảng băng cho đến
ngay nay, và người Vikings phải di dân về Scotland và Ireland (Anh
Quốc).
Với lý
luận trên, thì hiện tại có thể trái đất đang chuyển mình sang
chu kỳ ấm khác và những tảng băng ở cả Bắc cực và Nam cực bắt
đầu tan dần do việc nhiệt độ của bầu khí quyển tăng lên. Một yếu
tố khác cần được ghi nhận ra đây là sự gia tăng dân số trên địa
cầu. Chưa đầy một thế kỷ, dân số toàn cầu đã tăng từ 1 tỷ lên
hơn 6 tỷ hiện nay. Chính sự gia tăng nầy đã phóng thích một khối
lượng thán khí đáng kể cùng với sư gia tăng thân nhiệt của con
người.
Hỏi 9: Và chúng ta phải làm
gì trước vấn đề nầy thưa TS?
Đáp 9: Trên đây là một số
giả thuyếùt để giải thích sự gia tăng nhiệt đô trên bầu khí
quyển hiện tại. Dù biện dẫn một lời biện dẫn thế nào đi nữa,
những vấn đề cấp bách vẫn hiện hữu và tồn đọng trên thế giới
thiết nghĩ chúng ta cần phải quan tâm hơn hơn là tìm những lý
giải cho sự hâm nóng toàn cầu. Đó là:
· Làm thế nào để giải quyết những dịch tật trên thế
giới;
· Làm thế nào để tạo nguồn nước sạch cho 1/3 nhân loại
trên địa cầu;
· Và việc làm quan trọng nhất để giải quyết sự sự xóa
đói giảm nghèo cho toàn cầu.
Hay nói
một cách rốt ráo hơn nữa, sự thoái hóa môi trường đáng kể nhất
là ba vấn nạn trên chứ không phải là sự hâm nóng toàn cầu.
Đứng
trên quan điểm vừa kể trên, thiết nghĩ 5.400 tham dự viên của kỳ
Hội nghị ở Buenos Aires nầy cần lưu tâm đến hơn là bàn thảo
thêm những biện pháp đã được Hoa Kỳ và các quốc gia tân tiến
trên thế giới đã thực hiện trong việc truy tìm các nguồn năng
lượng sạch như: ánh sáng mặt trời, năng lượng gió, sóng biện và
thủy triều v. v...
Kính chào Quý thính giả
của Đài ACTD
Trở về Trang Chính |