|
Trong
kỳ phát thanh trước đây, TS MTT có phân tích và nhận định về
phẩm chất nước hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội, hôm nay chúng tôi được hân
hạnh tiếp chuyện lại với TS MTT qua câu chuyện về phẩm chất nước
ở sông Hậu, thuộc ĐBSCL.
Hỏi 1: Trước hết xin TS cho
biết trong hoàn cảnh nào và lý do tại sao TS muốn phân tích ở
sông Hậu?
Đáp 1: Thưa anh, chúng tôi
có được mẫu nước lấy ngày 12/12/03 tại giữa dòng sông và có độ
sâu khoảng 3m, kế cận bến Ninh Kiều, Cần Thơ. Thời điểm lấy mẫu
vào gần cuối chu kỳ của mùa nước nổi. Sở dĩ chúng tôi lấy mẫu
nước nầy vì đây là một trong những địa điểm được chọn lựa để thu
thập thêm dữ kiện cho công cuộc khảo sát nguồn nước ở ĐBSCL từ 6
năm qua.
Hỏi 2: Xin TS có thể cho
thính giả của Đài biết khái lược về kết quả của cuộc đo đạc nầy
và ý kiến của TS về tình trạng của nước?
Đáp 2: Mẫu nước đã được lấy
ngay gần cuối chu kỳ của mùa nước nổi cho nên dòng chảy vẫn còn
mạnh. Độ pH kiềm (7,55) và lượng chloride thấp (11 mg/L) chứng
tỏ hiện tượng nhiễm mặn không xảy ra tại đây vào mùa nầy.
Hỏi 3: Còn các hợp chất hữu
cơ nhẹ có hiện diện trong nước không thưa TS?
Đáp 3: Vì phương pháp bảo
quản mẫu không đúng tiêu chuẩn và thời gian lưu trử mẫu quá 14
ngày, do đó chúng tôi không thể đo đạc các hợp chất hữu cơ nhẹ
và bán nhẹ (semi-volatile) được. Tuy nhiên, chúng tôi cũng có
thể khái lược về sự hiện diện của các hợp chất hữu cơ trên qua
việc phân tích hai thông số: Tổng lượng carbon hữu cơ (TOC) và
nhu cầu oxy hóa học (COD). Kết quả cho thấy hàm lượng của TOC là
7,4 mg/L và COD là 0,6 mg/L. Hàm lượng của hai thông số nầy
chứng tỏ rằng sự hiện diện của các hợp chất hữu cơ không quan
trọng. Tuy nhiên, điều nầy cũng có thể được giải thích do sự
hiện diện của các chất hữu cơ phế thải từ vô số bè cá nằm rãi
rác từ Tân Châu và Châu Đốc đổ về. Đứng về phương diện thủy học,
dòng chảy của sông Cửu Long trong mùa nầy rất mạnh do mưa lũ
trên thượng nguồn, do đó sự hiện diện của các hợp chất hữu cơ
trong trường hợp nầy chỉ có thể giải thích từ phế thải của cá
trong bè mà thôi.. Và nếu lời giải thích trên hợp lý, chúng tôi
e ngại rằng hợp chất hữu cơ sẽ tăng nhiều trong mùa kiệt (khô)
từ tháng 2 cho đến tháng 5, vì ở những tháng nầy dòng chảy rất
chậm từ đó có thể ảnh hưởng lên sức khỏe của cư dân trong vùng
khi lấy nước sông làm nước sinh hoạt hàng ngày.
Hỏi 4: Còn các hàm lượng ion
vô cơ như phosphat, nitrat , và sulfat thì sao, thưa TS?
Đáp 4: Hàm lượng phosphat,
sulphat và nitrat trong mẫu nước không đáng kể chứng tỏ rằng
nước sông mùa nầy không bị nhiễm các hóa chất từ phân bón trong
nông nghiệp. Tuy nhiên vào mùa kiệt, tình trạng nhiễm mặn và
nhiễm phèn thường xảy ra. Trong mùa nầy, nước biển lấn sâu vào
trong đất liền làm tăng nhanh các loại phèn sulfat và có thể làm
độ pH trong nước chuyển thành acid, có khi đạt đến 1 đơn vị. Xin
nhắc lại là độ pH trung hòa là 7, và dưới 7 là độ pH acid. Hiện
tượng nầy cũng làm cho lượng oxy trong nước giảm theo, có thể
ảnh hưởng đến tôm cá trong nguồn nước.
Hỏi 5: Còn về các kim loại
độc hại thì sao thưa TS?
Đáp 5: Nói chung, hàm lượng
các kim loại như: Nhôm, Calcium, Sắt, Mangan, Kẽm v.v... vẫn còn
rất thấp, không đáng lưu ý. Và đây cũng là chỉ dấu cho thấy
không có hiện tượng nhiễm mặn, nhiễm phèn trong mùa nầy.
Hỏi 6: Còn hàm lượng các
thuốc sát trùng, hóa chất diệt cỏ, trừ sâu rầy như thế nào?
Đáp 6: Có thể mẫu nước đã
được lấy ở thời điểm có dòng chảy mạng cho nên chúng tôi không
thấy sự hiện diện của các hóa chất trên. Tuy nhiên vào năm 2000,
DDT đã được tìm thấy trong một mẫu nước giếng khoan ở vùng nầy
và có hàm lượng là 110 ppt (phần ức).
Hỏi 7: Từ nhiều năm qua, TS
đã lưu tâm và công bố mức độ ô nhiễm arsenic ở Việt Nam, đặc
biệt là vùng ĐBCSL, xin TS cho biết tình trạng nầy như thế nào
và nồng độ As hiện diện trong mẫu nước nầy ra sao?
Đáp 7: Về vấn đề ô nhiễm As
trong nguồn nước, chúng tôi sẽ tiếp chuyện với thính giả của Đài
ACTD trong những chương trình sắp đến. Kết quả đo đạc As trong
mẫu nước nầy đã cho chúng tôi thêm một khái niệm về việc ước
tính mức độ trầm tích của As trong lòng đất ở ĐBSCL. Chúng tôi
đã phân tích As hòa tan (2 ug/L) và As tổng cộng (gồm cả As hòa
tan và As lơ lững) là 18 ug/L (ug/l = ppb=phần tỷ). Hàm lượng
phù sa đo được qua hàm lượng của Tổng chất rắn lơ lững (TSS) là
96 mg/L. Với ước tính trung bình của dòng chảy của sông Cửu Long
là 400 tỷ m3 hàng năm, và cấu trúc của phù sa gồm sulfur sắt
(FeS2) và As kết dính bằng cầu nối �chélate� tích tụ trong trầm
tích; chúng tôi ước tính hàm lượng As phân bổ trên 3,9 triệu
hecta ở ĐBSCL là 6.400 tấn. Đây là một con số rất quan trọng để
trong tương lai có thể thiết lập được mô hình toán cho toàn vùng
khi chúng ta có điều kiện nghiên cứu hoàn chỉnh về mức độ ô
nhiễm Arsenic. Trong tất cả các tài liệu khoa học mà chúng tôi
tham khảo, hiện vẫn chưa có một dữ kiện nào nói đến mức độ As
trong trầm tích ngay cả những tài liệu nghiên cứu ở Bangla Desh.
Thêm nữa, từ kết quả có được giữa As hòa tan và As tổng cộng,
chúngtôi có thể suy ra tỷ lệ hiện diện của phân tử (mole) As
kết nối với sulfur sắt trong tổng số phù sa. Kết quả là trong
5000 phân tử sulfur sắt có 2 phân tử kết nối vơi As. Đây cững là
một dữ kiện quan trọng để ước tính lượng As trong trầm tích của
ĐBSCL.
Hỏi 8: Từ một mẫu phân tích
nước, TS đã đứa đến những số liệu liên quan đến hàm lượng của As
trong phù sa và trong trầm tích của ĐBSCL. Theo TS, TS có nghĩ
rằng Việt Nam có lưu tâm đến vấn đề nầy không?
Đáp 8: Trong các báo cáo và
tham luận của chúng tôi từ những năm 1999 đến bây giờ, chúng tôi
đã cảnh báo và có nêu lên sự hiện diện của As trong nguồn nước
giếng ở nhiều nơi, có hàm lượng trung bình từ 8 đến 11 phần tỷ.
Có nhiều nơi đạt đến 35 phần tỷ như ở Bình Đại (Bến Tre) và Gò
Công. Tuy nồng độ trên tương đối còn nằm trong định mức an toàn
theo tiêu chuẩn của LHQ là 10 phần tỷ. Nhưng đây là chỉ dấu cho
thấy As đã bắt đầu xâm nhập vào nguồn nước ở vùng nầy.
Nên nhớ,
LHQ qua chương trình do UNICEF tài trợ đã giúp đở, khuyến khích
việc đào giếng cho cả nước Việt Nam từ cuối thập niên 1980. Tính
đến nay, chỉ riêng ĐBSCL đã có trên 250.000 giếng khoan. Sự hiện
diện của những giếng nầy hoàn toàn phá vỡ tập tục từ ngàn xưa
của người dân ĐBSCL là quen dùng nước mặt và đánh phèn để khử
phù sa trong đó có As. Chúng tôi cũng được biết vào năm 2002,
thủ tướng của Việt Nam là Phan Văn Khải đã ra chỉ thị cho Bộ Kế
hoạch và bộ KH, CN&MT đứng ra thành lập một Ủy ban điều tra tình
trạng ô nhiễm As. Và cách đây vài tháng, Ủy ban nầy đã công bố
tình trạng ô nhiễm As ở đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL.
Hỏi 9: Vừa rồi TS đã cho
thính giả biết thêm nhiều thông tin về tình trạng nước sông Hậu
qua việc phân tích mẫu nước. Hy vọng trong tương lai, TS sẽ công
bố thêm nhiều kết quả nghiên cứu khác nữa để người dân trong và
ngoài nước hiểu rõ thêm về tình tạng môi trường của nước nhà.
Tuy nhiên, xin TS cho ý kiến về tình trạng ô nhiễm hiện tại của
As và đặc biệt ở vùng ĐBSCL?
Đáp 9: Thưa anh, như đã diễn
giải trong các bài tham luận trước đây, cấu trúc địa chất của
ĐBSCL có thể khiến cho nạn ô nhiễm As trong nguồn nước xảy ra
nhanh hơn so với hiện tượng nhiễm độc ở Bangla Desh, đã xảy ra
sau hơn 30 năm thực hiện kế hoạch đào trên 4 triễu giếng toàn
quốc. Lý do là ĐBSCL chỉ cao hơn mặt biển vài thước, và có nhiều
vùng thấp hơn mặt biển, cũng như thường xuyên chịu sự nhiễm phèn
và nhiễm mặn.Với tình trạng nầy, hiện tượng ô nhiễm As sẽ có thể
xảy ra nhanh hơn do các yếu tố trên. Theo các báo cáo mới nhất ở
Hà Nội vừa qua, các nhà khoa học đã khám phá ra nhiều nạn nhân
đã có những vết nám đen trong lòng bàn tay và chân. Đây là chỉ
dấu đầu tiên của sự nhiễm độc As dài hạn sau khoảng 10 năm xử
dụng nguồn nước bị ô nhiễm.
Do đó
chúng tôi nhận thấy Việt Nam cần phải tiếp cận tích cực hơn nữa
về vấn đề hệ trọng nầy để có thể tránh được trường hợp đang xảy
ra cho Bangla Desh, ảnh hưởng đến nhiều thế hệ sau đó. Nên nhớ
hiện taị hàng năm ở Bangla Desh có hàng trăm ngàn người chết vì
ung thư do As, và 50 triệu người dân đang bị nhiễm độc vì hóa
chất nầy.
Chúng
tôi sẽ đi vào chi tiết về vấn đề nầy trong những chương trình
sắp đến.
Kính chào Quý thính giả
của Đài ACTD.
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |