Phát Triển Bền Vững Xanh trên Lưu Vực Sông

Sustainable Green Development on Fluvial Region



 

Trong khoảng vài tháng trở lại đây, Việt Nam đã mở nhiều hội nghị cấp quốc gia về những vần đề liên quan đến môi trường như:

-          Hội nghị Mội trường tòan quốc tổ chức tại Hà Nội vào cuối tháng 4, 2005;

-          Hội thảo quốc gia về phát triển bền vững xanh trên lưu vực sông tại Tp HCM vào ngày 30 và 31 tháng 5,2005;

-          Tổ chức những hội thảo ở các thành phố lớn và Tp HCM để chào mừng Ngày Môi trường Thế giới 2005 vào ngày 5 tháng 6.

Vừa qua, trên Tạp chí KH&MT của Đài ACTD, TS MTT đã trình bày về Hội nghị Môi trường  và Ngày MTTG 2005. Hôm nay, chúng tôi trở lại với ông qua Hội thảo Quốc gia về Phát triển bền vững trên lưu vực sông.

 

Hỏi 1: Trước hết xin TS cho biết sơ lược về mục đích của cuộc Hội thảo nầy.

Đáp 1: Thưa anh. Để hưởng ứng chương trình hành động quốc gia về bảo vệ môi trường cho nên chúng ta đã thấy có nhiều diễn biến thuận lợi trong công cuộc đẩy mạnh việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Hội thảo quốc gia kỳ nầy cũng nhằm trong mục đích trên hầu tạo cơ hội gặp gỡ giữa các nhà khoa học, nhà quản lý môi trường, các cơ sở công nghiệp nhằm trao đổi kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm về bảo vệ môi trường của các thành phố trên lưu vực sông.

Cục Bảo vệ Môi trường và Đại học quốc gia Tp Sài Gòn là hai cơ quan tổ chức Hội thảo. Ngoài ra còn có một số công ty về môi trường và công nghệ xanh tài trợ như: Cty Econet Eng. Ltd, Cty Glowtec Environmental Việt Nam, Cty Compatible Solutions v. v....

 

Hỏi 2: Mục đích của cuộc hội thảo quá rõ ràng như TS vừa nêu trên, nhưng nôị dung chứa đựng những vấn đề nào đáng quan tâm thưa TS?

Đáp 2: Nội dung Hội thảo Quốc gia kỳ nầy tập trung vào 3 hướng chính căn cứ vào khái niệm phát triển bền vững đề ra do LHQ qua Nghị trình-21 là: phát triển kinh tế, tăng cường phúc lợi cho người dân, và đẩy mạnh công cuộc bảo vệ môi trướng. Ba hướng đó là:

1-        Vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững của các đô thị trên lưu vực sông qua việc nghiên cứu hiện trạng, những thành tựu và những  vấn đề còn tồn đọng;

2-        Vấn đề quy hoạch môi trường chiến lược của các lưu vực sông và môi trường đô thị và khu công nghiệp; cùng với công nghệ xử lý ô nhiễm và khắc phục rủi ro môi trường để bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững;

3-        Quản lý công cuộc bảo vệ môi trường như xử lý chất thải, công trình hạ tầng trên lưu vực sông nhằm mục đích phát triển bền vững các thành phố xanh cho lưu vực.

Hỏi 3: Trong ba hướng chính vừa nêu trên, xin TS cho biết nội dung cụ thể của những báo cáo như thế nào và mức độ nghiên cứu có thể đưa đến những kết luận nào không?

Đáp 3: Trước khi trả lời câu hỏi trên chúng tôi xin nói qua về thành phần thuyết trình viên trong 230 nhà khoa học và tham dự viên. Tuyệt đại đa số các báo cáo đến từ Viện Môi trường và Tài nguyên, Cục và Sở Môi trường trên tòan quốâc. Chỉ có 3 chuyên đề được nghiên cứu ở đại học trong đó ĐH Bách khoa Tp Sài Gòn có đề tài:"Vấn đề ngập nước ở thành phố Sài Gòn" và "Phát triển đô thị trên vùng bị ngập lụt", và ĐH Xây dựng Hà Nội với đề tài:"Nghiên cứu xử lý nước thải đô thị Việt Nam". Nơi đây chúng tôi thấy thiếu vắng sự đóng góp của tư nhân và cơ sở sản xuất công nghệ.

 

Trong 37 đề tài thuyết trình cho hai ngày Hội thảo, có 13 đề tài nói về hiện trạng môi trường, 9 đề tài về xử lý chất thải, 10 đề tài cho quy hoạch môi trường. Còn những vấn đề tồn đọng cũng như công cuộc quản lý môi trường tập trung vào 5 báo cáo mà thôi.

 

Hỏi 4: Trong hai ngày Hội thảo với 37 đề tài thuyết trình, theo TS nhận định thì kết quả có những điểm cụ thể nào không?

Đáp 4: Dạ có thưa anh, kết quả là 12 tỉnh thuộc lưu vực sông Sàigòn Đồng Nai đã đồng ý ký văn bản cam kết hợp tác bảo vệ môi trường trên lưu vực nầy. Trước mắt thành lập Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực với mục đích:

-          Xây dựng cơ sở dữ liệu phẩm chất nguồn nước mặt, nước ngầm;

-          Giám sát phẩm chất thống nhất;

-          Nâng cao phẩm chất quản lý môi trường;

-          Sau cùng, xây dựng quy chế bảo vệ nguồn nước sông Sàigòn Đồng Nai về phẩm chất, lưu lượng và định mức xử dụng.

-          Quan trọng hơn cả là đề nghị chi phí công tác bảo vệ môi trường trên tăng lên từ 1% đến 3,5% tổng sản lượng quốc gia.

 

Hỏi 5: Như vậy, cuộc Hội thảo nầy có đưa đến những kết quả nào có tính cách quốc gia không thưa TS và nguyên nhân nào đã làm cho những ý kiến trong Hôị thảo khó được đem ra áp dụng?

Đáp 5: Thành thật mà nói, chúng tôi ghi nhận những cố gắng và quyết tâm của Việt Nam trong công cuộc bảo vệ môi trường và đẩy mạnh phát triển bền vững. Nhưng tại Việt Nam cũng còn nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan đã hạn chế hay làm chậm bớt tiến trình phát triển bền vững trên. Nguyên nhân chủ quan chính có thể được liệt kê ra đây là: Việt Nam chưa kiểm soát và quản lý tất cả hoạt động sản xuất và bảo vệ môi trường đồng bộ giữa các Cty quốc doanh và tư doanh. Luật môi trường đã được diễn dịch trong thời gian qua đã không được áp dụng thống nhất và xuyên suốt, có nhiều "nới lỏng" cho quốc doanh, và "thắt chặt" cho tư doanh, đặc biệt đối với những cty do đầu tư ngoại quốc. Chính điều nầy là nguyên nhân chính làm cho các công ty hay tư nhân ngoại quôc ngần ngại bỏ vốn đầu tư  vào một vùng đất có luật lệ không rõ ràng như Việt Nam.

Còn nguyên nhân khách quan là, Việt Nam qua gần năm 20 đẩy mạnh công cuộc phát triển nhằm mục đích làm tăng của cải vật chất và thành phẩm cho nên chính sách quốâc gia của Việt Nam không đặt trọng tâm vào việc quản lý và bảo vệ môi trường. Do đó, nhân sự của công tác nầy không được đào tạo đúng mức về phẩm chất cũng như về số lượng để đáp ứng kịp với nhu cầu phát triển của một quốc gia sau chiến tranh.

Nguyên do khách quan thứ hai có thể được kể ra đây là nguồn vốn đầu tư quá ít so với nhu cầu giải quyết những tồn đọng trong môi trường, từ đó chính sách và Nghị quyết của Việt Nam như "Nghị quyết xử lý triệt để vi phạm môi trường" đã không được thực hiện đúng mức.

 

Hỏi 6: TS có thể giải thích thêm về  Nghị quyết "xử lý triệt để" như thế nào?

Đáp 6: Qua Nghị quyết 41 của Việt Nam, các thành phố phải triển khai và thi hành nghị quyết xử lý triệt để các cơ sở vi phạm và làm ô nhiễm môi trường. Thành phố và Sở môi trường từng địa phương đã làm biên bản hầu hết các cơ sở vi phạm và đã ra hạn định cho các cơ sở trên phải điều chỉnh, hay giải quyết hay phải di dời. Nhưng trên thực tế, trong suốt thời gian qua, những cơ sở chấp hành lịnh của Tp chiếm chưa đầy 1% nếu lấy Tp Sài Gòn làm thí dụ. Như vậy, 99% tồn đọng vẫn là những câu hỏi khó có lời giải đáp ít nhất trong một tương lai gần. Một thí dụ cụ thể là hầu hết các Cty dệt nhuộm ở khu vực kinh Tham Lương, thuộc Tp Sài Gòn đã vi phạm môi trường trầm trọng, và phải được giải quyết theo tinh thần của Nghị quyết xử lý triệt để ban hành từ năm 2003; nhưng cho đến nay vẫn còn giữ nguyên trạng hay nếu có, chỉ được giải quyết lấy lệ mà thôi. Hạn lệnh đóng cửa đã trôi qua từ lâu nhưng cũng không thấy có nhà máy nào chấp hành nghiêm chỉnh! Nên nhớ chất thải của công nghệ dệt nhuộm nầy đã góp phần không nhỏ vào việc biến sông Sàigòn thành dòng sông "đen" trong mùa khô qua  nhận xét của TS Phạm Khôi Nguyên, Thứ trưởng thường trực Bộ Môi trường và Tài nguyên:" Các cơ quan quản lý nhà nước đang lúng túng trong việc tìm kiếm các giải pháp để hạn chế và ngăn ngừa tình trạng ô nhiễm ngày càng tăng ở lưu vực sông Sàigòn và Đồng Nai. Đây là khu vực có vùng kinh tế trọng điểm cao nhất nước, nhưng cũng là nơi ô nhiễm bức xúc nhất".

 

Để kết luận, chúng tôi nghĩ Việt Nam cần phải đẩy mạnh hơn nữa công cuộc bảo vệ môi trường qua việc áp dụng triệt để những luật lệ đã ban hành, không nhân nhượng bất cứ dưới hình thức nào, đặc biệt là Luật Môi trường qua 17 lần điều chỉnh từ năm 1993 đến nay, đã được phê chuẩn cũng như sẽ đem vàp áp dụng kể từ ngày 1/1/2006.

 

Kính chào Quý thính giả của Đài ACTD

 

 

Ý kiến, Phê bình xin gửi về: maithanhtruyet@khoahoc.net

 

 

Trở về Trang Chính