|
Thưa Quý Vị Quan khách,
Thưa Quý Vị Bô Lão của
Cộng đồng Chăm tại Hoa Kỳ,
Tôi không là một nhà nhân
chủng học, một nhà sử học, cũng không là một nhà văn. Nói chung,
khoa học nhân văn, không là cái nghề của tôi. Nghề của tôi là
dạy học, chuyên về Hóa Học. Trong hai thập niên qua tôi làm
công việc của một kỷ sư và quản lý. Do nhu cầu nghề nghiệp, và
cũng do sở thích, tôi có nhũng nghiên cứu cụ thể chuyên ngành,
nói riêng về môi trường, nhất là những đổi thay trong môi trường
Việt Nam.
Với cái vốn liếng đó, tôi
hi vọng giữ được cái vô tư khoa học, đồng thời giới thiệu cùng
quí vị những nét tươi mát, dễ thương của một tính tình, của một
cá tính, đồng thời cùng quý vị khởi đầu khám phá một thế giới
mới, thế giới của đồng bào của mình gốc Champa. Tôi làm việc này
qua quyển sách:
BANGSA
CHAMPA
Tìm Về
Với Một Cội Nguồn Cách Xa
Của Dohamide và Dorohiêm
Cuốn sách được chia làm
hai phần, trong đó nói lên hành trình của một chàng trai tên
Dohamide và lịch sử hình thành vương quốc Champa.
Cuốn sách được chia làm
hai phần:
Phần
I: Câu chuyện chàng trai Dohamide.
Phần
II: Cội nguồn văn hóa xã hội, Champa.
Trong
hơn 380 trang giấy và nhiều hình ảnh dân tộc, chúng ta có thể
hình dung được sự trang trọng của tác giả trong từng nét chữ.
Qua sự
thân thiết, chúng tôi được biết tác giả đã thai nghén quyển sách
nầy trong một thời gian dài và đã hoàn tất từ năm 2001, nhưng vì
hoàn cảnh lịch sử tế nhị lúc đó, mãi đến hôm nay, Bangsa Champa
mới được ra mắt Quý Vị.
Thưa
Quý Vị,
Dohamide sinh và lớn lên trong một cộng đồng Champa khép kín.
Khép kín trong địa dư của một cù lao vùng quê Châu Đốc, miền Tây
Nam Phần và khép kín trong những lối suy nghĩ bảo thủ và nghiêm
khắc của tập quán Hồi giáo tức Islam cổ xưa. Anh sớm lên
Sàigòn, sống trong một xóm nghèo ở vùng chợ Nancy, anh phải
chiến đấu trong việc tiếp cận với người thành phố. Chiến đấu
giữa cái cũ và cái mới, giữa quá khứ và hiện tại, giữa những giá
trị ngàn đời của cha ông và cuộc sống trước mặt (năng động,
cuồng loạn, xô bồ). Cái mới không phải lúc nào cũng đúng, cũng
hay, cũng tốt. Cái cũ lúc nào cũng ổn định, vững chắc, dễ chịu,
nhưng lắm khi là màn chắn che lấp những giá trị khác, là sức ỳ
cản trở bước tiến và sự phát triển bản thân. Cho nên, có dằn
co, trăn trở nội tâm, có chọn lựa, chiến đấu cho chọn lựa.
Dohamide đã tự soi rọi và ghi lại trung thực hành trình tâm thức
của chính mình, hi vọng phản ảnh được phần nào bản chất của
những người đồng tộc của mình.
Đó là
tâm trạng của một người thiểu số sống ở một xã hội không cùng
văn hóa, tập tục và tôn giáo, khiến cho họ luôn sống trong mặc
cảm sợ sệt, an phận thủ thường. Tôn giáo, kinh kệ (scriptures),
lễ nghi (liturgy), phong tục tập quán, là những bức tường thành
kiên cố, giúp họ tự vệ, tự phòng: phòng chống những cơn lốc của
cái mới, cái khác lạ có khả năng đem lại cho họ sự bất ổn, sự
mất mát, nhất là mất mát cái di sản văn hóa của họ. Cho nên, họ
không chú ý đến việc hội nhập vào một xã hội mở chung quanh.
Dohamide đã nhận thức được điều này và những vấn đề rộng lớn
hơn. Do đó Anh từ bỏ thái độ khép kín, anh mở tất cả cửa của
pháo đài phòng ngự, để đón gió bốn phương. Cuộc sống vốn vô
thường. Văn hóa phải biến đổi, vì tính thấm thấu tự nhiên của sự
tiếp cận văn hóa. Trăm hoa đua nở, mỗi người một khác, mỗi nền
văn hóa mỗi khác, mỗi thời mỗi khác. Giao lưu là thường tình,
giao lưu Đông và Tây, giao lưu Chăm và Việt. Giao lưu là liều
thuốc cho các bệnh sơ cứng văn hóa, là thần dược cho phát triển
văn hóa. Hình như, anh nhìn văn hóa và dân tộc Anh như vậy và
Anh xử sự như vậy. Lấy nguồn dân tộc, di sản cha ông để đối
thoại cái mới, đó là thái dộ của Anh, trong suốt cuộc hành
trình 70 năm tròn dấn thân vào cộng đồng Việt và cộng đồng Hoa
Kỳ. Giờ đây, Dohamide ghi lại cuộc hành trình đó, những chứng
nghiệm, những cố gắng, kiên nhẫn, trì chí vượt các bức tường cổ
tục, để có một cái nhìn thoáng hơn với thế giới bên ngoài, để
sống thực hơn và mạnh hơn.
Vừa hơn
10 tuổi, Dohamide đã sớm rời, cái tịch mịch và an bình của đồng
nội, cái ổn định và dễ chịu của xã hội Champa, cái thơ ngây của
tuổi thơ vô tích sự, để lên Sàigòn. Anh không rành tiếng Việt,
và phải ở giữa cái ồn ào, hỗn độn, người đi kẻ lại, tiếng rao
hàng, tiếng cải vả, tiếng kèn, tiếng động của xe cộ đủ loại...,
anh không chỉ là người nhà quê lần đầu lên Sài gòn, anh là một
người lạc vào thủ đô của một nước khác. Cho nên, nhiều mâu
thuẫn, nhiều va chạm, anh có nhu cầu cấp bách trở về cội nguồn,
tìm lại sự an ổn, trong trắng năm xưa, với những ước mong và hi
vọng.
Nhưng
cội nguồn thì chẳng thấy đâu....mà chỉ thấy thêm những khó khăn
và trăn trở Trăn trở ngày càng thấm sâu hơn để rồi, vào chiều
tà của cuộc sống, cuối đời nhìn lại, Dohamide vẽ lại con đường
từ cội nguồn tuổi thơ, lớn lên, thành nhân, rồi giờ đây, trở về
nguồn cội của dân tộc Champa.
Điều
nầy làm chúng tôi liên tưởng đến Nguyễn Vỹ với quyển “Tuấn Chàng
Trai Nước Việt”. Tuấn đi cùng khắp giang sơn trong một giai
đoạn chuyển mình của lịch sử Việt Nam, một giao mùa từ thời
phong kiến và những ngày đầu, người Pháp bắt đầu thay da đổi
thịt Việt Nam. Đây là một bức tranh khó quên của một giai đoạn
đen tối của Đất Nước. Chàng trai Tuấn đã chứng thực cho cuộc đổi
dạng trên, một giai đoạn của đổi thay từ những tập tục quen
thuộc của xã hội cũ đến những lối sống Tây phương mới mẻ. Tuấn
vừa ngạc nhiên, vừa quy phục hoàn cảnh mà không cho người đọc
biết được những trăn trở đích thực của mình.
Đối
lại, trong “Tìm Về Với Một Cội Nguồn Cách Xa”, Đỗ Hải Minh đã
cho chàng trai Dohamide làm một cuộc hành trình đúng nghĩa tiến
vào một quá khứ mật thiết gắn liền với nguồn gốc xa xưa Champa.
Thêm nữa, chàng trai Dohamide không những đã “chứng” mà còn
“nghiệm” rằng lịch sử là một chứng tích của một gia đoạn cũ,
khơi lại cội nguồn dân tộc với mục đích duy nhất là tìm lại
trong khoảnh khắc bản lai diện mục của chính mình.
Để rồi
từ đó, với thời gian đủ dài, Dohamide đã khám phá thêm, cố gắng
vươn lên và hoàn toàn hội nhập vào một xã hội mới: một xã hội
trong đó con người được cư xử bình đẳng và sống hài hòa cùng
nhau, một xã hội không còn lằn ranh địa dư, nguyên nhân đã tạo
ra những mâu thuẫn và nghịch cảnh không cần thiết. Có thể nói ở
điểm nầy, đây là những nhắn gữi rốt ráo và đắc ý nhất của tác
giả qua chàng trai Dohamide.
Qua đến
phần hai, trong bổi cảnh hết sức khó khăn tìm và sắp loại các
tài liệu về văn hóa, văn học và văn minh Chăm, thiết nghĩ tác
giả đã cống hiến cho chúng ta một công trình nghiên cứu nghiêm
chỉnh qua việc chứng minh các tên “Lâm Ấp”, “Hoàn Vương”, “Chiêm
Thành”... do, hoặc người Trung Hoa hay người Việt Nam đặt ra
trong các giai đoạn lịch sử để chỉ một vương quốc Champa, một
cơ cấu quốc gia thống nhất chạy dài từ Quảng Bình đến tận Phan
Thiết ở phía Đông và vùng Cao nguyên Trung phần Việt Nam ở phía
Tây mà thôi. Tính dung hợp và phân liệt của những sắc tộc vùng
cao nguyên và duyên hải Việt Nam được tác giả nhắc đến và phân
tích tường tận căn nguyên của vấn đề.
Từ đó,
tác giả có gợi ý về những phân chia do nhiều yếu tố khách quan
và chủ quan nhập lại: - khách quan là do lịch sử chưa được soi
rọi rõ ràng; - còn chủ quan là do “cái ngã” của từng bộ tộc.
Nhưng điều quan trọng hơn hết là do một số “chính sách ẩn tang”
của các nước từ bên ngoài, có ý định muốn mang ảnh hưởng của một
loại đế quốc mới xen vào nội tình dân tộc Champa để tạo áp lực
và có thể khuynh đảo trong tương lai. Đây chính là điểm tác giả
lưu ý nhiều và bàng bạc trong nhiều chương của quyển sách.
Tác giả
để lại nơi đây một bài học và một lời nhắn gữi. Bài học là: “
con người dù ở bất cứ nơi đâu, cuối cùng rồi cũng sẽ tìm về
nguồn cội của chính mình” . Tuy đơn sơ, giản dị và mọi người đều
ro,õ nhưng có mấy ai còn giữ được khái niệm nầy trước cuộc sống
dẫy đầy bất trắc ở các xã hội mới. Về một lời nhắn gữi, thiết
nghĩ cộng đồng Chăm, dù sống ở địa phương nào trước kia, nên suy
nghĩ về trường hợp Việt Nam. Người Việt dù ở xa quê hay còn sống
trong nội địa cũng đều có ít nhiều mầm móng chia rẽ, kỳ thị Bắc
Trung Nam. Và đây là kết quả của một thời kỳ đen tối của dân tộc
do thực dân và đế quốc áp đặt chính sách chia để trị.
Đây
cũng là dấu ấn sâu đậm và đau đớn nhất của dân tộc, đã làm chậm
bước phát triển của Việt Nam cho đến bây giờ. Do đó, lời nhắn
gữi sau cùng của tác giả hướng về các cộng đồng Chăm là đừng để
bị chia rẽ vì những âm mưu chính trị của ngoại bang như người
Việt đã từng hứng chịu cho đến ngày nay.
Thưa
Quý Vị,
Tác giả
Đỗ Hải Minh đã khơi mào và mở hướng cho tiến trình hội nhập vào
xã hội Việt Nam của một công đồng Chăm, nhỏ bé ở dân số, nhưng
có một chiều sâu văn minh phong phú.. Hội nhập vào dòng chính
lưu để nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, và tinh thần nhưng
không vì thế mà mất đi nền tảng văn hóa đặc thù của dân tộc
Chăm. Điều nầy đòi hỏi những bậc thức giả tiên phong trong cộng
đồng Chăm ở trong nước cũng như ở hải ngoại luôn luôn nhìn lại
và giúp đỡ khuyến khích người dân Chăm chơn chất bước vào dòng
chính lưu. Và đã đến lúc phải từ bỏ nếp sống ”mép lề” cũng như
mặc cảm của một loại công dân hạng hai trong một xã hội đa văn
hóa. Cộng đồng Chăm không còn có một lằn ranh địa dư ở Việt Nam
nữa, và lằn ranh văn hóa cũng mờ dần trong cộng đồng chung của
dân tộc. Quốc gia là một địa dư ranh giới, trên đó nhiều cộng
đồng chũng tộc sống tiếp cận nhau. Quốc gia Mỹ gồm có người
Indian, người gốc Anh, gốc Pháp, gốc Đức, gốc Ấn, Trung Hoa,...,
gồm nhiều chũng tộc đen, trắng, vàng, Âu, Á, Phi,... Quốc gia
Việt Nam, không chỉ là người Việt, mà còn là người Chàm, Radé,
Mường, Tày, Thái trắng, Lô Lô,.... Hội nhập vào giòng chính lưu
là làm giàu cho nền văn hóa Việt, cũng là cho sắc thái dân tộc
Chăm, Mường, Việt v.v... thêm tươi, thêm phong phú. Vì thế,
quyển “Tìm Về Với Một Cội Nguồn Cách Xa” là một trợ duyên cho
việc hội nhập nhuần nhuyễn giữa hai cộng đồng dân tộc trong quốc
gia Việt Nam.
Thêm
nữa, tác giả đã nêu ra những đường nét thật tích cực cho một dân
tộc cố gắng vượt thoát khỏi tình trạng tự cô lập để sinh tồn
trong một thời gian dài: thời của những cơn mê cổ tục hoặc thời
của lòng tin mù quán (bigotry) ở truyền thống dân tộc. Ngày nay,
các thôn ấp người Chăm ở Phan Rang, Phan Rí, Châu Đốc, Tây Ninh
đã mở cánh cửa hội nhập vào xã hội có người Việt bao quanh. Đây
là một hướng duy nhất và cũng là tối ưu cho dân tộc dân tộc Chăm
ở Việt Nam do những điều kiện địa lý và lịch sử đặc thù. Đây là
một hình thức hội nhập hổ tương trước tiến trình toàn cầu hóa
trên mọi lãnh vực. Hiện tượng đa văn hóa trong một quốc gia
không còn là hình ảnh đối kháng mà là một sự hòa đồng nhuần
nhuyễn trong cuộc sống chung với tinh thần bình đẳng ở thế kỷ 21
nầy. Hội nhập mà không bị triệt tiêu, không mất đi bản sắc dân
tộc Chăm, và hai văn hóa Chăm - Việt là thành phần căn bản cho
nền văn hóa Việt Nam và là một điểm đặc thù cho vùng Đông Nam Á
châu vậy.
Tóm lại,
qua cuộc hành trình dài của tác giả, từ những ngày thơ ấu ở vùng
cù lao Koh Taboong nghèo vùng Châu Đốc, cho đến tuổi thanh niên
trong xóm nghèo Nancy Sàigòn. Tác giả đã trãi qua bao thăng trầm
của cuộc sống, ngay cả đến những lúc lên tột đỉnh vinh hoa thời
Đệ nhị Cộng hòa, hay những giây phút hội ngộ cùng Tổng thống
Truman. Và sau cùng, cuộc hành trình vẫn tiếp tục trên mãnh đất
tạm dung Hoa Kỳ nầy. Với tuổi thất thập cổ lai hi, tác giả đã VỀ
NGUỒN, đã tìm lại nguồn cội của một dân tộc đã bị quên lãng
trong một số người.
Đi tìm
cội nguồn cũ, vạch lại đường nét xưa của một quốc gia Champa,
tác giả hy vọng trình bày một giai đoạn của lịch sử, sự hình
thành của một quốc gia Champa, sự thăng trầm của một nền văn
minh, của một dân tộc, nhưng không vì đó mà phân liệt ra những
cách ngăn của những cộng dồng dân tộc trong quốc gia Việt Nam.
Tính an
bình trong chuổi tư tưởng của tác giả từ trang đầu cho đến trang
cuối cùng cho chúng ta chiêm nghiệm được cái tâm bình đẳng trong
tâm hồn tác giả. Nơi đây thể hiện sâu đậm nhất sự hòa hợp hài
hòa giữa những ảnh hưởng của Phật giáo, Ấn giáo, và Hồi giáo của
một dân tộc hiền hòa ở miền đất Champa.
Nói về
Đỗ Hải Minh, thì cái nguồn từ trong tôi hình như vô tận, tôi
biết Anh từ lúc còn ở ViệtNam, qua một người học trò cũ của tôi,
mà là cháu của Anh. Biết nhau nhưng chưa hề gặp mặt. Qua đến
Hoa Kỳ, trong một hoàn cảnh đặc biệt, chúng tôi đã gặp nhau, và
trở thành thân thiết. Cho phép tôi, mượn diễn đàn nầy để mừng
Anh, mừng sự can đảm, sự kiên nhẫn, quyết tâm đầu tư công sức
của Anh đã được tưởng thưởng. Mừng Anh thêm được một đứa con
tinh thần và cũng là một quý tử. Xin Anh nhận nơi đây lời khích
lệ, tán thưởng và thương mến của một số anh em chúng tôi.
Xin cám
ơn anh.
Xin cám
ơn Quý Vị.
Mai Thanh Truyết
Nguyễn Văn Trường hiệu đính
Orange,
Mùa Đông 2004
Ý kiến, Phê bình xin gửi
đến
maithanhtruyet@khoahoc.net
Bangsa Champa
Kính thưa Ban Tổ chức,
Kính thưa Quý vị Quan khách,
Trước hết, tôi xin cảm ơn Ban Tổ chức đã tạo
điều kiện cho tôi phát biểu ý kiến ngày hôm nay, nhân buổi RA
MẮT SÁCH Bangsa Champa của hai tác giả Dohamide và Dorohiêm. Hai
anh Dohamide và Dorohiêm đều lớn tuổi hơn tôi, tốt nghiệp Đại
học trước tôi và viết sách cũng trước tôi.
Tôi đọc được sách của hai anh vào năm 1965,
khi tôi mới ra trường. Gần đây, tôi lại có cơ duyên quen anh
Dohamide tại nhà anh Mai Thanh Truyết. Xin cảm ơn anh Truyết.
Anh Dohamide cũng đã đọc sách của tôi, nên khi gặp nhau, chúng
tôi dễ dàng chia sẻ những vấn đề lịch sử, nhất là mối quan hệ
Việt Chăm trong quá khứ.
Hôm nay, tôi rất mừng được đọc quyển Bangsa
Champa (viết tắt BC) do hai anh biên soạn. Theo các anh, “trong
tiếng Chăm, từ ngữ bangsa có nghĩa khá rộng, nó hàm ý là dòng
giống, là nguồn gốc, là chủng tộc...” (BC tr. 12) Sách BC là
cuộc hành trình của hai tác giả tìm về nguồn cội cách xa của các
anh là nước Champa, đã một thời oanh liệt tại miền Trung Việt
Nam ngày nay.
Thưa quý vị,
Tuy theo ngành sử khá sớm, tôi chỉ bắt đầu
suy nghĩ nhiều về vấn đề Champa khi tôi tiếp xúc với các em học
sinh Chăm gốc Phan Rang lên Di Linh học Trung học năm 1965. Tôi
còn nhớ, lúc đó, vào cuối tập vở chép bài sử, các em học sinh
Chăm thường chép bản nhạc “Hận Đồ Bàn” của Xuân Tiên và các bài
thơ của Chế Lan Viên.
Nỗi thương nhớ nguồn cội của các em học sinh
Chăm làm cho một người dạy sử như tôi phải suy nghĩ. Từ đó, tôi
thường tự hỏi: “Phải chăng tổ tiên chúng ta đã tiêu diệt Champa?
Phải chăng tổ tiên chúng ta đã phạm phải một lỗi lầm kinh khủng
là tội diệt chủng đối với người Chăm?”
Từ đó, cũng như hai anh Dohamide và Dorohiêm,
tôi chú tâm vào vấn đề nguồn cội dân tộc Việt để tìm hiểu thêm
liên hệ giữa hai nước Việt Champa trong lịch sử. Tôi đọc kỹ các
bộ Việt sử do các tác giả hiện đại viết như Trần Trọng Kim, Phạm
Văn Sơn, Phan Xuân Hòa; các bộ chánh sử cũ như Đại Việt sử ký
toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Tôi cũng tìm
kiếm những sử liệu Trung Hoa cũng như Tây phương. Cho đến nay,
tuyệt nhiên tôi chưa tìm ra dấu vết diệt chủng của bất cứ một
chính quyền Việt nào đối với người Chăm. Ngược lại, các bộ chánh
sử đã ghi rằng vua Lê Hiến Tông (trị vì 1497-1504) đã ra sắc chỉ
nghiêm trị những ai đối xử bất công đối với người Chăm.
Từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 18, khi dần dần
tiến về phương nam, người Việt đã ảnh hưởng đến đời sống của
người Chăm, nhưng đồng thời văn hóa Chăm cũng tác động trên đời
sống của người Việt. Đâylà tác động giao thoa qua lại giữa hai
nền văn hóa Việt Chăm.
Đối với người Việt, ảnh hưởng Chăm quá lâu
ngày, trở trành quen thuộc mà đôi khi người Việt không còn để ý.
Sau đây là một vài thí dụ dễ nhận ra.
* Về phương diện tôn giáo, nữ thần Pô Inư
Nagar tứcThiên Y A Na khi vào nước Việt, biến thể thành Thánh
mẫu Liễu Hạnh, và cả hai đều được thờ phượng tại núi Ngọc Trản ở
Huế. Một tín đồ nổi tiếng của đạo nầy là vua Đồng Khánh (trị vì
1885-1888). Đền thờ Thiên Y A Na ở Điện Hòn Chén (Ngọc Trản) ở
Huế và Tháp Bà ở Nha Trang, được người Việt đến chiêm bái quanh
năm.
* Về phương diện chính trị, trong khi vua Lê
và chúa Trịnh ở Đàng Ngoài theo tổ chức Trung Hoa, có một tham
tụng là tể tướng đứng đầu triều đình, thì chúa Nguyễn ở Đàng
Trong đặt tứ trụ đại thần đứng đầu triều đình, gồm có Nội tả,
Ngoại tả, Nội hữu, Ngoại hữu. Sau đó, triều đình nhà Nguyễn cũng
do tứ trụ đại thần đứng đầu là Cần chánh điện đại học sĩ, Văn
minh điện đại học sĩ, Võ hiển điện đại học sĩ, và Đông các đại
học sĩ. Theo tác giả Li Tana, trong sách The Nguyễn Cochinchina,
Southern Vietnam in the Seventh and Eighteenth Centuries [Chúa
Nguyễn ở Đàng Trong, Nam phần Việt Nam vào các thế kỷ 17 và 18]
thì hình thức nầy thấy được ở Mã Lai, thuộc văn hóa Ấn Độ, vào
Đại Việt qua ngã Champa.
* Về phong tục, áo dài của người phụ nữ Việt
Nam ngày nay xuất phát từ chiếc áo dài của phụ nữ Champa.
* Về phương diện nhân quyền, xã hội Champa là
một xã hội mẫu hệ. Người phụ nữ rất nhiều quyền hành trong gia
đình nếu không muốn nói là điều khiển gia đình. Trong cuộc Nam
tiến, do tiếp xúc với xã hội Chăm, người phụ nữ Việt ở Đàng
Trong càng ngày càng được tôn trọng rộng rãi hơn.
* Về phương diện âm nhạc, những điệu nam ai,
nam bình và âm nhạc cung đình Huế đều mang âm hưởng Champa.
* Về thực phẩm, người Chăm ăn bốc thì người
Việt ở Đàng Trong thích ăn cuốn do tự tay cầm bánh tráng cuốn.
Vì lý do tôn giáo, người Chăm theo Ấn giáo cử ăn thịt bò, người
Chăm theo Islam cử ăn thịt heo, và nói chung người Chăm có thói
quen ăn cá. Từ đó người Việt ở Đàng Trong thường ăn cá và những
phó sản từ cá. Ví dụ người Đàng Ngoài thường ăn tương thì người
Đàng Trong ăn nước mắm. Người Đàng Ngoài thích ăn cà muối, cải
muối thì người Đàng Trong ăn mắm nêm, mắm cà, mắm dưa...
Trên đây là sơ lược những ảnh hưởng của văn
hóa Chăm đối với người Việt. Ngược lại, văn hóa Việt cũng tác
động mạnh đến người Chăm, mà cao điểm là ngôn ngữ và chữ viết.
Ngày nay, đa số người Chăm đều nói tiếng Việt và viết chữ Việt.
Ngay cả trong tiếng Chăm cũng lẫn lộn nhiều từ ngữ Việt.
Kính thưa quý vị,
Trong lịch sử Việt Nam đã xảy ra hai lần hợp
chủng quan trọng. Lần thứ nhất vào thế kỷ thứ 3 trước Công
nguyên, nhà Tần rồi nhà Hán đưa quân qua xâm lăng cổ Việt. Người
Hoa thuộc chủng Mông Cổ đã kết hợp với dân chúng bản địa Mã-lai
Đa đảo, để trở thành người Việt. Lần thứ nhì, ít được chú ý là
trong cuộc di dân về phương nam từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 18,
chắc chắn người Việt đã hợp chủng với người Chăm, và tạo nên
những thế hệ Việt ngày nay.
Khi đề tựa sách Dân tộc Chàm lược sử của hai
tác giả Dohamide và Dorohiêm, xuất bản ở Sài Gòn năm 1963, giáo
sư Nghiêm Thẩm đã viết: ”Ta có thể chắc chắn từ Quảng Nam vào
đến Phan Thiết, trong nhiều người Việt đã có pha máu Chàm.” Trên
tạp chí Làng Văn số 150, xuất bản ở Toronto, tháng 2-1997, trong
bài “Quê cũ sách xưa”, tác giả Trần Văn Tích đã viết: “... Qua
những đợt di dân trong lịch sử, những đoàn người từ châu thổ các
sông Hồng, sông Mã, đã đến lập nghiệp ở Triệu Phong, Hải Lăng.
Chắc phải có những chàng trai tứ chiếng giang hồ từ phương bắc
tới gá nghĩa cùng các nàng Mỵ Ê thôn dã địa phương để trở thành
viễn tổ của người viết bài nầy...”
Mốt tác giả khác, ông Hồ Trung Tú, trong đặc
san Xuân Quảng Nam năm 2001 ở Boston, đã đặt một câu hỏi rất
thiết thực mà có lẽ không ai trả lời được là trong những người
Quảng Nam, ai biết được mình có bao nhiêu phần trăm máu Việt và
bao nhiêu phần trăm máu Chăm?
Các ví dụ trên cho thất ngày nay, người Việt
ở Trung và Nam phần bắt đầu ý thức rằng chân dung của tổ tiên
mình không phải chỉ là người Việt đi từ Bắc vào Nam, mà còn có
hình ảnh của người Chăm địa phương nữa.
Thưa quý vị,
Cho đến nay, ảnh hưởng văn hóa hỗ tương Việt
Chăm và Chăm Việt đã lẫn lộn và trở nên quá quen thuộc trong đời
sống chúng ta đến nổi chúng ta hầu như không còn phân biệt được
đâu là Việt, đâu là Chăm? Do đó, khi nhìn về quá khứ, chúng ta
nên mở rộng nếp suy nghĩ mà hai tác giả Dohamide và Dorohiêm đã
viết là cần phải THAY ĐỔI TƯ DUY (BC, tr. 164), và nhất là dựa
trên căn bản cũng do hai tác giả nầy đưa ra, đó là căn bản TÌNH
NGƯỜI (BC, tr. 361), để tạo sự hiểu biết và thông cảm rộng rãi
giữa hai sắc dân Việt Chăm cùng sống trên đất Việt.
Chúng ta cần tìm về quá khứ để bảo tồn và
phát huy những nét hay đẹp của nền văn hóa nguồn cội, nhưng
chúng ta cần đoàn kết để xây dựng sự bình đẳng và dân chủ trên
đất nước Việt Nam chung của chúng ta, trong đó có khoảng 54 sắc
dân chung sống.
Riêng về văn hóa Champa, thưa quý vị, như tôi
đã trình bày ở trên, văn hóa Champa đã chan hòa cùng văn hóa
Việt; và tôi tin tưởng một cách mạnh mẽ rằng văn hóa Việt còn,
thì còn văn hóa Champa.
Nhân lễ ra mắt sách Bangsa Champa của hai
Dohamide và Dorohiêm, tôi xin chia sẻ một số suy nghĩ của tôi,
và nếu có gì thiếu sót, thì xin quý vị bổ túc, trong tinh thần
học hỏi và nhất là trên căn bản tinh thần của một câu ca dao rất
quen thuộc là, chúng ta những người Việt và người Chăm ngày nay
“tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.”.
Trân trọng cảm tạ và kính chào quý vị.
TRẦN GIA
PHỤNG
Toronto,
12/2004
Trở về Trang Chính |