Tìm Về Với Một Cội Nguồn Cách Xa

(Phát biểu trong buổi Ra Mắt sách  8/01/05 tại Westminster,CA)



 

 

Thưa Quý Vị Quan khách,

Thưa Quý Vị Bô Lão của Cộng đồng Chăm tại Hoa Kỳ,

 

Tôi không là một nhà nhân chủng học, một nhà sử học, cũng không là một nhà văn.  Nói chung, khoa học nhân văn, không là cái nghề của tôi. Nghề của tôi là dạy học, chuyên về Hóa Học.  Trong hai thập niên qua tôi làm công việc của một kỷ sư và quản lý. Do nhu cầu nghề nghiệp, và cũng do sở thích, tôi có nhũng nghiên cứu cụ thể chuyên ngành, nói riêng về môi trường, nhất là những đổi thay trong môi trường Việt Nam.

Với cái vốn liếng đó, tôi hi vọng giữ được cái vô tư khoa học, đồng thời giới thiệu cùng quí vị những nét tươi mát, dễ thương của một tính tình, của một cá tính, đồng thời cùng quý vị khởi đầu khám phá một thế giới mới, thế giới của đồng bào của mình gốc Champa. Tôi làm việc này qua quyển sách:

BANGSA CHAMPA

Tìm Về Với Một Cội Nguồn Cách Xa

Của Dohamide và Dorohiêm

 

Cuốn sách được chia làm hai phần, trong đó nói lên hành trình của một chàng trai tên Dohamide và lịch sử hình thành vương quốc Champa.

Cuốn sách được chia làm hai phần:

Phần I:  Câu chuyện chàng trai Dohamide.

Phần II: Cội nguồn văn hóa xã hội, Champa.

 

Trong hơn 380 trang giấy và nhiều hình ảnh dân tộc, chúng ta có thể hình dung được sự trang trọng của tác giả trong từng nét chữ.

Qua sự thân thiết, chúng tôi được biết tác giả đã thai nghén quyển sách nầy trong một thời gian dài và đã hoàn tất từ năm 2001, nhưng vì hoàn cảnh lịch sử tế nhị lúc đó, mãi đến hôm nay, Bangsa Champa mới được ra mắt Quý Vị.

 

Thưa Quý Vị,

Dohamide sinh và lớn lên trong một cộng đồng Champa khép kín. Khép kín trong địa dư của một cù lao vùng quê Châu Đốc, miền Tây Nam Phần và khép kín trong những lối suy nghĩ bảo thủ và nghiêm khắc của tập quán Hồi giáo tức Islam cổ xưa.  Anh sớm lên  Sàigòn, sống trong một xóm nghèo ở vùng chợ Nancy, anh phải  chiến đấu trong việc tiếp cận với người thành phố. Chiến đấu giữa cái cũ và cái mới, giữa quá khứ và hiện tại, giữa những giá trị ngàn đời của cha ông và cuộc sống trước mặt (năng động, cuồng loạn, xô bồ). Cái mới không phải lúc nào cũng đúng, cũng hay, cũng tốt. Cái cũ lúc nào cũng ổn định, vững chắc, dễ chịu, nhưng lắm khi là màn chắn che lấp những giá trị khác, là sức ỳ cản trở bước tiến và sự phát triển bản thân.  Cho nên, có dằn co, trăn trở nội tâm, có chọn lựa, chiến đấu cho chọn lựa.

Dohamide đã tự soi rọi và ghi lại trung thực hành trình tâm thức của chính mình, hi vọng phản ảnh được phần nào bản chất của những người đồng tộc của mình.

 

Đó là tâm trạng của một người thiểu số sống ở một xã hội không cùng văn hóa, tập tục và tôn giáo, khiến cho họ luôn sống trong mặc cảm sợ sệt, an phận thủ thường. Tôn giáo, kinh kệ (scriptures), lễ nghi (liturgy), phong tục tập quán, là những bức tường thành kiên cố, giúp họ tự vệ, tự phòng: phòng chống những cơn lốc của cái mới, cái khác lạ có khả năng đem lại cho họ sự bất ổn, sự mất mát, nhất là mất mát cái di sản văn hóa của họ.  Cho nên, họ không chú ý đến việc hội nhập vào một xã hội mở chung quanh. Dohamide đã nhận thức được điều này và những vấn đề rộng lớn hơn.  Do đó Anh từ bỏ thái độ khép kín, anh mở tất cả cửa của pháo đài phòng ngự, để đón gió bốn phương.  Cuộc sống vốn vô thường. Văn hóa phải biến đổi, vì tính thấm thấu tự nhiên của sự tiếp cận văn hóa. Trăm hoa đua nở, mỗi người một khác, mỗi nền văn hóa mỗi khác, mỗi thời mỗi khác. Giao lưu là thường tình, giao lưu Đông và  Tây, giao lưu Chăm và Việt. Giao lưu là liều thuốc cho các bệnh sơ cứng văn hóa, là thần dược cho phát triển văn hóa.  Hình như, anh nhìn văn hóa và dân tộc Anh như vậy và Anh xử sự như vậy. Lấy nguồn dân tộc, di sản cha ông để đối thoại cái mới,  đó là thái dộ của Anh, trong suốt cuộc hành trình 70 năm tròn dấn thân vào cộng đồng Việt và cộng đồng Hoa Kỳ. Giờ đây, Dohamide  ghi lại cuộc hành trình đó, những  chứng nghiệm, những cố gắng, kiên nhẫn, trì chí vượt các bức tường cổ tục, để có một cái nhìn thoáng hơn với thế giới bên ngoài, để sống thực hơn và mạnh hơn.

 

Vừa hơn 10 tuổi, Dohamide đã sớm rời, cái tịch mịch và  an bình của đồng nội, cái ổn định và dễ chịu của xã hội Champa, cái thơ ngây của tuổi thơ vô tích sự, để lên Sàigòn.  Anh không rành tiếng Việt, và phải ở giữa cái ồn ào, hỗn độn, người đi kẻ lại, tiếng rao hàng, tiếng cải vả, tiếng kèn, tiếng động của xe cộ đủ loại..., anh không chỉ là người nhà quê lần đầu lên Sài gòn, anh là một người lạc vào thủ đô của một nước khác. Cho nên, nhiều mâu thuẫn, nhiều va chạm, anh có nhu cầu cấp bách trở về cội nguồn, tìm lại sự an ổn, trong trắng năm xưa, với những ước mong và hi vọng.

Nhưng cội nguồn thì chẳng thấy đâu....mà chỉ thấy thêm những khó khăn và trăn trở Trăn trở  ngày càng thấm sâu hơn để rồi, vào chiều tà của cuộc sống, cuối đời nhìn lại, Dohamide vẽ lại con đường từ cội nguồn tuổi thơ, lớn lên, thành nhân, rồi giờ đây, trở về nguồn cội của dân tộc Champa.

 

Điều nầy làm chúng tôi liên tưởng đến Nguyễn Vỹ với quyển “Tuấn Chàng Trai Nước Việt”. Tuấn đi cùng khắp giang sơn  trong một giai đoạn chuyển mình của lịch sử Việt Nam, một giao mùa từ thời phong kiến và  những ngày đầu, người Pháp bắt đầu thay da đổi thịt Việt Nam. Đây là một bức tranh khó quên của một giai đoạn đen tối của Đất Nước. Chàng trai Tuấn đã chứng thực cho cuộc đổi dạng trên, một giai đoạn của đổi thay từ những tập tục quen thuộc của xã hội cũ đến những lối sống Tây phương mới mẻ. Tuấn vừa ngạc nhiên, vừa quy phục hoàn cảnh mà không cho người đọc biết được những trăn trở đích thực của mình.

 

Đối lại, trong “Tìm Về Với Một Cội Nguồn Cách Xa”, Đỗ Hải Minh đã cho chàng trai Dohamide làm một cuộc hành trình đúng nghĩa tiến vào một quá khứ mật thiết gắn liền với nguồn gốc xa xưa Champa. Thêm nữa, chàng trai Dohamide không những đã “chứng” mà còn “nghiệm” rằng lịch sử là một chứng tích của một gia đoạn cũ, khơi lại cội nguồn dân tộc với mục đích duy nhất là tìm lại trong khoảnh khắc bản lai diện mục của chính mình.

 

Để rồi từ đó, với thời gian đủ dài, Dohamide đã khám phá thêm, cố gắng vươn lên và hoàn toàn hội nhập vào một xã hội mới: một xã hội trong đó con người được cư xử bình đẳng và sống hài hòa cùng nhau, một xã hội không còn lằn ranh địa dư, nguyên nhân đã tạo ra những mâu thuẫn và nghịch cảnh không cần thiết.  Có thể nói ở điểm nầy, đây là những nhắn gữi rốt ráo và đắc ý nhất của tác giả qua chàng trai Dohamide.

 

 

Qua đến phần hai, trong bổi cảnh hết sức khó khăn tìm và sắp loại các tài liệu về văn hóa, văn học và văn minh Chăm, thiết nghĩ tác giả đã cống hiến cho chúng ta một công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh qua việc chứng minh các tên “Lâm Ấp”, “Hoàn Vương”, “Chiêm Thành”... do, hoặc người Trung Hoa hay người Việt Nam đặt ra trong các giai đoạn lịch sử  để chỉ một vương quốc Champa, một cơ cấu quốc gia thống nhất chạy dài từ Quảng Bình đến tận Phan Thiết ở phía Đông và vùng Cao nguyên Trung phần Việt Nam ở phía Tây mà thôi. Tính dung hợp và phân liệt của những sắc tộc vùng cao nguyên và duyên hải Việt Nam được tác giả nhắc đến và phân tích tường tận căn nguyên của vấn đề.

 

Từ đó, tác giả có gợi ý về những phân chia do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nhập lại: - khách quan là do lịch sử chưa được soi rọi rõ ràng; - còn chủ quan là do “cái ngã”  của từng bộ tộc. Nhưng điều quan trọng hơn hết là do một số “chính sách ẩn tang” của các nước từ bên ngoài, có ý định muốn mang ảnh hưởng của một loại đế quốc mới xen vào nội tình dân tộc Champa để tạo áp lực và có thể khuynh đảo trong tương lai. Đây chính là điểm tác giả lưu ý nhiều và bàng bạc trong nhiều chương của quyển sách.

 

Tác giả để lại nơi đây một bài học và một lời nhắn gữi. Bài học là: “ con người dù ở bất cứ nơi đâu, cuối cùng rồi cũng sẽ tìm về nguồn cội của chính mình” . Tuy đơn sơ, giản dị và mọi người đều ro,õ nhưng có mấy ai còn giữ được khái niệm nầy trước cuộc sống dẫy đầy bất trắc ở các xã hội mới. Về một lời nhắn gữi, thiết nghĩ cộng đồng Chăm, dù sống ở địa phương nào trước kia, nên suy nghĩ về trường hợp Việt Nam. Người Việt dù ở xa quê hay còn sống trong nội địa cũng đều có ít nhiều mầm móng chia rẽ, kỳ thị Bắc Trung Nam. Và đây là kết quả của một thời kỳ đen tối của dân tộc do thực dân và đế quốc áp đặt chính sách chia để trị.

 

Đây cũng là dấu ấn sâu đậm và đau đớn nhất của dân tộc, đã làm chậm bước phát triển của Việt Nam cho đến bây giờ. Do đó, lời nhắn gữi sau cùng của tác giả hướng về các cộng đồng Chăm là đừng để bị chia rẽ vì những âm mưu chính trị của ngoại bang như người Việt đã từng hứng chịu cho đến ngày nay.

 

Thưa Quý Vị,

 

Tác giả Đỗ Hải Minh đã khơi mào và mở hướng cho tiến trình hội nhập vào xã hội Việt Nam của một công đồng Chăm, nhỏ bé ở dân số, nhưng có một chiều sâu văn minh phong phú.. Hội nhập vào dòng chính lưu để nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, và tinh thần nhưng không vì thế mà mất đi nền tảng văn hóa đặc thù của dân tộc Chăm. Điều nầy đòi hỏi những bậc thức giả tiên phong trong cộng đồng Chăm ở trong nước cũng như ở hải ngoại luôn luôn nhìn lại và giúp đỡ khuyến khích người dân Chăm chơn chất bước vào dòng chính lưu. Và đã đến lúc phải từ bỏ nếp sống ”mép lề” cũng như mặc cảm của một loại công dân hạng hai trong một xã hội đa văn hóa. Cộng đồng Chăm không còn có một lằn ranh địa dư ở Việt Nam nữa, và lằn ranh văn hóa cũng mờ dần trong cộng đồng chung của dân tộc. Quốc gia là một địa dư ranh giới, trên đó nhiều cộng đồng chũng tộc sống tiếp cận nhau. Quốc gia Mỹ gồm có người Indian, người gốc Anh, gốc Pháp, gốc Đức, gốc Ấn, Trung Hoa,..., gồm nhiều chũng tộc đen, trắng, vàng, Âu, Á, Phi,...  Quốc gia Việt Nam, không chỉ là người Việt, mà còn là người Chàm, Radé, Mường, Tày, Thái trắng, Lô Lô,....  Hội nhập vào giòng chính lưu là làm giàu cho nền văn hóa Việt, cũng là cho sắc thái dân tộc Chăm, Mường, Việt v.v... thêm tươi, thêm phong phú. Vì thế, quyển “Tìm Về Với Một Cội Nguồn Cách Xa” là một trợ duyên cho việc hội nhập nhuần nhuyễn giữa hai cộng đồng dân tộc trong quốc gia Việt Nam.

 

Thêm nữa, tác giả đã nêu ra những đường nét thật tích cực cho một dân tộc cố gắng vượt thoát khỏi tình trạng tự cô lập để sinh tồn trong một thời gian dài: thời của những cơn mê cổ tục  hoặc thời của lòng tin mù quán (bigotry) ở truyền thống dân tộc. Ngày nay, các thôn ấp người Chăm ở Phan Rang, Phan Rí, Châu Đốc, Tây Ninh đã mở cánh cửa hội nhập vào xã hội có người Việt bao quanh. Đây là một hướng duy nhất và cũng là tối ưu cho dân tộc dân tộc Chăm ở Việt Nam do những điều kiện địa lý và lịch sử đặc thù. Đây là một hình thức hội nhập hổ tương trước tiến trình toàn cầu hóa trên mọi lãnh vực. Hiện tượng đa văn hóa trong một quốc gia không còn là hình ảnh đối kháng mà là một sự hòa đồng nhuần nhuyễn trong cuộc sống chung với tinh thần bình đẳng ở thế kỷ 21 nầy. Hội nhập mà không bị triệt tiêu, không mất đi bản sắc dân tộc Chăm, và hai văn hóa Chăm - Việt là thành phần căn bản cho nền văn hóa Việt Nam và là một điểm đặc thù cho vùng Đông Nam Á châu vậy.

 

Tóm lại, qua cuộc hành trình dài của tác giả, từ những ngày thơ ấu ở vùng cù lao Koh Taboong nghèo vùng Châu Đốc, cho đến tuổi thanh niên trong xóm nghèo Nancy Sàigòn. Tác giả đã trãi qua bao thăng trầm của cuộc sống, ngay cả đến những lúc lên tột đỉnh vinh hoa thời Đệ nhị Cộng hòa,  hay những giây phút hội ngộ cùng Tổng thống Truman. Và sau cùng, cuộc hành trình vẫn tiếp tục trên mãnh đất tạm dung Hoa Kỳ nầy. Với tuổi thất thập cổ lai hi, tác giả đã VỀ NGUỒN, đã tìm lại nguồn cội của một dân tộc đã bị quên lãng trong một số người.

 

Đi tìm cội nguồn cũ, vạch lại đường nét xưa của một quốc gia Champa, tác giả hy vọng trình bày một giai đoạn của lịch sử, sự hình thành của một quốc gia Champa, sự thăng trầm của một nền văn minh, của một dân tộc, nhưng không vì đó mà phân liệt ra những cách ngăn của những cộng dồng dân tộc trong quốc gia Việt Nam.

Tính an bình trong chuổi tư tưởng của tác giả từ trang đầu cho đến trang cuối cùng cho chúng ta chiêm nghiệm được cái tâm bình đẳng trong tâm hồn tác giả. Nơi đây thể hiện sâu đậm nhất sự hòa hợp hài hòa giữa những ảnh hưởng của Phật giáo, Ấn giáo, và Hồi giáo của một dân tộc hiền hòa ở miền đất Champa.

 

Nói về Đỗ Hải Minh, thì cái nguồn từ trong tôi hình như vô tận, tôi biết Anh từ lúc còn ở ViệtNam, qua một người học trò cũ của tôi, mà là cháu của Anh.  Biết nhau nhưng chưa hề gặp mặt.  Qua đến Hoa Kỳ, trong một hoàn cảnh đặc biệt, chúng tôi đã gặp nhau, và trở thành thân thiết. Cho phép tôi, mượn diễn đàn nầy để mừng Anh, mừng sự can đảm, sự kiên nhẫn, quyết tâm đầu tư công sức của Anh đã được tưởng thưởng. Mừng Anh thêm được một đứa con tinh thần và cũng là một quý tử. Xin Anh nhận nơi đây lời khích lệ, tán thưởng và thương mến của một số anh em chúng tôi.

Xin cám ơn anh.

 

Xin cám ơn Quý Vị.

 

Mai Thanh Truyết

Nguyễn Văn Trường hiệu đính

Orange, Mùa Đông 2004

  

 Ý kiến, Phê bình xin gửi đến maithanhtruyet@khoahoc.net

 

 

 

Bangsa Champa

 

Kính thưa Ban Tổ chức,

Kính thưa Quý vị Quan khách,

 

Trước hết, tôi xin cảm ơn Ban Tổ chức đã tạo điều kiện cho tôi phát biểu ý kiến ngày hôm nay, nhân buổi RA MẮT SÁCH Bangsa Champa của hai tác giả Dohamide và Dorohiêm. Hai anh Dohamide và Dorohiêm đều lớn tuổi hơn tôi, tốt nghiệp Đại học trước tôi và viết sách cũng trước tôi.

 

Tôi đọc được sách của hai anh vào năm 1965, khi tôi mới ra trường. Gần đây, tôi lại có cơ duyên quen anh Dohamide tại nhà anh Mai Thanh Truyết. Xin cảm ơn anh Truyết. Anh Dohamide cũng đã đọc sách của tôi, nên khi gặp nhau, chúng tôi dễ dàng chia sẻ những vấn đề lịch sử, nhất là mối quan hệ Việt Chăm trong quá khứ.

 

Hôm nay, tôi rất mừng được đọc quyển Bangsa Champa (viết tắt BC) do hai anh biên soạn. Theo các anh, “trong tiếng Chăm, từ ngữ bangsa có nghĩa khá rộng, nó hàm ý là dòng giống, là nguồn gốc, là chủng tộc...” (BC tr. 12) Sách BC là cuộc hành trình của hai tác giả tìm về nguồn cội cách xa của các anh là nước Champa, đã một thời oanh liệt tại miền Trung Việt Nam ngày nay.

 

Thưa quý vị,

 

Tuy theo ngành sử khá sớm, tôi chỉ bắt đầu suy nghĩ nhiều về vấn đề Champa khi tôi tiếp xúc với các em học sinh Chăm gốc Phan Rang lên Di Linh học Trung học năm 1965. Tôi còn nhớ, lúc đó, vào cuối tập vở chép bài sử, các em học sinh Chăm thường chép bản nhạc “Hận Đồ Bàn” của Xuân Tiên và các bài thơ của Chế Lan Viên.

 

Nỗi thương nhớ nguồn cội của các em học sinh Chăm làm cho một người dạy sử như tôi phải suy nghĩ. Từ đó, tôi thường tự hỏi: “Phải chăng tổ tiên chúng ta đã tiêu diệt Champa? Phải chăng tổ tiên chúng ta đã phạm phải một lỗi lầm kinh khủng là tội diệt chủng đối với người Chăm?”

 

Từ đó, cũng như hai anh Dohamide và Dorohiêm, tôi chú tâm vào vấn đề nguồn cội dân tộc Việt để tìm hiểu thêm liên hệ giữa hai nước Việt Champa trong lịch sử. Tôi đọc kỹ các bộ Việt sử do các tác giả hiện đại viết như Trần Trọng Kim, Phạm Văn Sơn, Phan Xuân Hòa; các bộ chánh sử cũ như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Tôi cũng tìm kiếm những sử liệu Trung Hoa cũng như Tây phương. Cho đến nay, tuyệt nhiên tôi chưa tìm ra dấu vết diệt chủng của bất cứ một chính quyền Việt nào đối với người Chăm. Ngược lại, các bộ chánh sử đã ghi rằng vua Lê Hiến Tông (trị vì 1497-1504) đã ra sắc chỉ nghiêm trị những ai đối xử bất công đối với người Chăm.

 

Từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 18, khi dần dần tiến về phương nam, người Việt đã ảnh hưởng đến đời sống của người Chăm, nhưng đồng thời văn hóa Chăm cũng tác động trên đời sống của người Việt. Đâylà tác động giao thoa qua lại giữa hai nền văn hóa Việt Chăm.

 

Đối với người Việt, ảnh hưởng Chăm quá lâu ngày, trở trành quen thuộc mà đôi khi người Việt không còn để ý. Sau đây là một vài thí dụ dễ nhận ra.

 

* Về phương diện tôn giáo, nữ thần Pô Inư Nagar tứcThiên Y A Na khi vào nước Việt, biến thể thành Thánh mẫu Liễu Hạnh, và cả hai đều được thờ phượng tại núi Ngọc Trản ở Huế. Một tín đồ nổi tiếng của đạo nầy là vua Đồng Khánh (trị vì 1885-1888). Đền thờ Thiên Y A Na ở Điện Hòn Chén (Ngọc Trản) ở Huế và Tháp Bà ở Nha Trang, được người Việt đến chiêm bái quanh năm.

 

* Về phương diện chính trị, trong khi vua Lê và chúa Trịnh ở Đàng Ngoài theo tổ chức Trung Hoa, có một tham tụng là tể tướng đứng đầu triều đình, thì chúa Nguyễn ở Đàng Trong đặt tứ trụ đại thần đứng đầu triều đình, gồm có Nội tả, Ngoại tả, Nội hữu, Ngoại hữu. Sau đó, triều đình nhà Nguyễn cũng do tứ trụ đại thần đứng đầu là Cần chánh điện đại học sĩ, Văn minh điện đại học sĩ, Võ hiển điện đại học sĩ, và Đông các đại học sĩ. Theo tác giả Li Tana, trong sách The Nguyễn Cochinchina, Southern Vietnam in the Seventh and Eighteenth Centuries [Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Nam phần Việt Nam vào các thế kỷ 17 và 18] thì hình thức nầy thấy được ở Mã Lai, thuộc văn hóa Ấn Độ, vào Đại Việt qua ngã Champa.

 

* Về phong tục, áo dài của người phụ nữ Việt Nam ngày nay xuất phát từ chiếc áo dài của phụ nữ Champa.

 

* Về phương diện nhân quyền, xã hội Champa là một xã hội mẫu hệ. Người phụ nữ rất nhiều quyền hành trong gia đình nếu không muốn nói là điều khiển gia đình. Trong cuộc Nam tiến, do tiếp xúc với xã hội Chăm, người phụ nữ Việt ở Đàng Trong càng ngày càng được tôn trọng rộng rãi hơn.

 

* Về phương diện âm nhạc, những điệu nam ai, nam bình và âm nhạc cung đình Huế đều mang âm hưởng Champa.

 

* Về thực phẩm, người Chăm ăn bốc thì người Việt ở Đàng Trong thích ăn cuốn do tự tay cầm bánh tráng cuốn. Vì lý do tôn giáo, người Chăm theo Ấn giáo cử ăn thịt bò, người Chăm theo Islam cử ăn thịt heo, và nói chung người Chăm có thói quen ăn cá. Từ đó người Việt ở Đàng Trong thường ăn cá và những phó sản từ cá. Ví dụ người Đàng Ngoài thường ăn tương thì người Đàng Trong ăn nước mắm. Người Đàng Ngoài thích ăn cà muối, cải muối thì người Đàng Trong ăn mắm nêm, mắm cà, mắm dưa...

 

Trên đây là sơ lược những ảnh hưởng của văn hóa Chăm đối với người Việt. Ngược lại, văn hóa Việt cũng tác động mạnh đến người Chăm, mà cao điểm là ngôn ngữ và chữ viết. Ngày nay, đa số người Chăm đều nói tiếng Việt và viết chữ Việt. Ngay cả trong tiếng Chăm cũng lẫn lộn nhiều từ ngữ Việt.

 

Kính thưa quý vị,

 

Trong lịch sử Việt Nam đã xảy ra hai lần hợp chủng quan trọng. Lần thứ nhất vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, nhà Tần rồi nhà Hán đưa quân qua xâm lăng cổ Việt. Người Hoa thuộc chủng Mông Cổ đã kết hợp với dân chúng bản địa Mã-lai Đa đảo, để trở thành người Việt. Lần thứ nhì, ít được chú ý là trong cuộc di dân về phương nam từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 18, chắc chắn người Việt đã hợp chủng với người Chăm, và tạo nên những thế hệ Việt ngày nay.

 

Khi đề tựa sách Dân tộc Chàm lược sử của hai tác giả Dohamide và Dorohiêm, xuất bản ở Sài Gòn năm 1963, giáo sư Nghiêm Thẩm đã viết: ”Ta có thể chắc chắn từ Quảng Nam vào đến Phan Thiết, trong nhiều người Việt đã có pha máu Chàm.” Trên tạp chí Làng Văn số 150, xuất bản ở Toronto, tháng 2-1997, trong bài “Quê cũ sách xưa”, tác giả Trần Văn Tích đã viết: “... Qua những đợt di dân trong lịch sử, những đoàn người từ châu thổ các sông Hồng, sông Mã, đã đến lập nghiệp ở Triệu Phong, Hải Lăng. Chắc phải có những chàng trai tứ chiếng giang hồ từ phương bắc tới gá nghĩa cùng các nàng Mỵ Ê thôn dã địa phương để trở thành viễn tổ của người viết bài nầy...”

 

Mốt tác giả khác, ông Hồ Trung Tú, trong đặc san Xuân Quảng Nam năm 2001 ở Boston, đã đặt một câu hỏi rất thiết thực mà có lẽ không ai trả lời được là trong những người Quảng Nam, ai biết được mình có bao nhiêu phần trăm máu Việt và bao nhiêu phần trăm máu Chăm?

 

Các ví dụ trên cho thất ngày nay, người Việt ở Trung và Nam phần bắt đầu ý thức rằng chân dung của tổ tiên mình không phải chỉ là người Việt đi từ Bắc vào Nam, mà còn có hình ảnh của người Chăm địa phương nữa.

 

Thưa quý vị,

 

Cho đến nay, ảnh hưởng văn hóa hỗ tương Việt Chăm và Chăm Việt đã lẫn lộn và trở nên quá quen thuộc trong đời sống chúng ta đến nổi chúng ta hầu như không còn phân biệt được đâu là Việt, đâu là Chăm? Do đó, khi nhìn về quá khứ, chúng ta nên mở rộng nếp suy nghĩ mà hai tác giả Dohamide và Dorohiêm đã viết là cần phải THAY ĐỔI TƯ DUY (BC, tr. 164), và nhất là dựa trên căn bản cũng do hai tác giả nầy đưa ra, đó là căn bản TÌNH NGƯỜI (BC, tr. 361), để tạo sự hiểu biết và thông cảm rộng rãi giữa hai sắc dân Việt Chăm cùng sống trên đất Việt.

 

Chúng ta cần tìm về quá khứ để bảo tồn và phát huy những nét hay đẹp của nền văn hóa nguồn cội, nhưng chúng ta cần đoàn kết để xây dựng sự bình đẳng và dân chủ trên đất nước Việt Nam chung của chúng ta, trong đó có khoảng 54 sắc dân chung sống.

 

Riêng về văn hóa Champa, thưa quý vị, như tôi đã trình bày ở trên, văn hóa Champa đã chan hòa cùng văn hóa Việt; và tôi tin tưởng một cách mạnh mẽ rằng văn hóa Việt còn, thì còn văn hóa Champa.

 

Nhân lễ ra mắt sách Bangsa Champa của hai Dohamide và Dorohiêm, tôi xin chia sẻ một số suy nghĩ của tôi, và nếu có gì thiếu sót, thì xin quý vị bổ túc, trong tinh thần học hỏi và nhất là trên căn bản tinh thần của một câu ca dao rất quen thuộc là, chúng ta những người Việt và người Chăm ngày nay “tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.”.

 

Trân trọng cảm tạ và kính chào quý vị.

 

TRẦN GIA PHỤNG

Toronto, 12/2004

 

Trở về Trang Chính