|
Vào ngày 5 tháng 4 vừa qua, Ủy hội sông
Mekong đã tổ chức lễ kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Ủy hội qua việc ký kết Hiệp
định Hợp tác Phát triển Bền vững Lưu vực sông Mekong ngày 5 tháng 4 năm 1995.
Nhân dịp nầy, các giới chức thuộc Văn phòng Ủy hội ở Vientiane, Lào và đại điện
các quốc gia duyên hà - bao gồm Lào, Thái Lan, Campuchia, và Việt Nam - đã báo
cáo những thành quả mà Ủy hội đã đạt được trong mười năm qua. Bài viết do Kỹ sư
Nguyễn Minh Quang, một chuyên viên thuộc Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
(VAST). Trước năm 1975, ông là một trong những chuyên viên thủy lợi phục vụ tại
Ủy ban Quốc gia Thủy lợi trực thuộc Bộ Công Chánh và Giao thông ở Sài Gòn. Ông
phụ trách công tác nghiên cứu và điều hành chương trình đo đạc thủy học ở Đồng
bằng sông Cửu Long do Ủy ban Quốc tế Mekong phối hợp với Ủy ban Quốc gia sông
Cửu Long/Việt Nam tài trợ.
Ủy hội sông Mekong (Mekong River
Commission - MRC) được chánh thức thành lập qua việc ký kết „Hiệp định Hợp tác
Phát triển Khả chấp Lưu vực sông Mekong“ ngày 5 tháng 4 năm 1995 tại Chiang
Rai, Thái Lan giữa bốn quốc thành viên Cambodia, Lào, Thái Lan, và Việt Nam.
Tôi muốn mở một dấu ngoặc ở đây để giải thích thêm về chữ „khả chấp“ mà tôi tạm
dịch từ chữ „sustainable“ của tiếng Anh. Tôi nghĩ chữ „khả chấp“ thích hợp hơn
chữ „bền vững“ mặc dù chữ „bền vững“ được dùng một cách rộng rãi hiện nay.
Trở lại với Ủy hội sông Mekong, đây là một
tổ chức quốc tế gồm có ba cơ quan thường trực. Một Hội đồng (Council), với bốn
thành viên cấp bộ trưởng đại diện cho bốn quốc gia duyên hà, có nhiệm vụ đề ra
chánh sách, quyết định, và giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên.
Một Ủy ban Hỗn hợp (Joint Committee), với bốn thành viên ở cấp giám đốc hoặc
tương đương đại diện cho bốn quốc gia thành viên, có nhiệm vụ tham mưu cho Hội
đồng, thi hành chánh sách và quyết định của Hội đồng, và thực hiện công tác
nghiên cứu. Một Văn phòng (Secretariat) phụ trách công tác kỹ thuật và hành
chánh dưới sự giám sát của Ủy ban Hỗn hợp. Văn phòng được điều hành bởi một
Giám đốc Điều hành (Executive Officer) do Hội đồng chỉ định với nhân viên được
tuyển chọn từ các quốc gia thành viên. Văn phòng của Ủy hội hiện đặt tại
Vientiane, Lào. Có thể nói Ủy hội sông Mekong là hậu thân của Ủy ban Quốc tế
Mekong (Mekong Committee), được thành lập từ năm 1957, nhưng bị gián đoạn sau
khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt vào năm 1975.
Mục tiêu của Ủy hội sông Mekong được ghi
trong Chương III của Hiệp định 1995. Các mục tiêu nầy bao gồm hợp tác trên mọi
lãnh vực: khuyến khích, hỗ trợ, hợp tác, và phối hợp trong việc phát triển khả
chấp và ngăn ngừa việc phung phí nguồn nước; hợp tác trong việc sử dụng và bảo
tồn nguồn nước trên căn bản tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau;
sử dụng nước một cách công bằng và hợp lý trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia
qua hình thức thông báo (notification) hoặc hội ý (consultation); hợp tác trong
việc duy trì lưu lượng trong sông chính; nổ lực tránh, hạn chế, và giảm thiểu
hậu quả tai hại đối với môi trường; xác định nguyên nhân gây thiệt hại và giải
quyết các vấn tranh chấp theo nguyên tắc của luật pháp quốc tế; và sông Mekong
phải được duy trì để không có chướng ngại vật hoặc biện pháp hay hành động nào
có thể phương hại đến quyền tự do lưu thông trên toàn tuyến sông.
Nguyên tắc và mục tiêu của Ủy hội sông
Mekong thì hoàn toàn khác với nguyên tắc và mục tiêu của Ủy ban Quốc tế Mekong.
Mục tiêu của Ủy hội sông Mekong là sự hợp tác giữa các quốc gia thành viên trong
việc thực hiện các dự án của riêng mình, dựa theo nguyên tắc sử dụng nguồn nước
quốc tế một cách công bằng và hợp lý trong tinh thần tôn trọng chủ quyền của
nhau, nhằm mục đích phát triển khả chấp lưu vực sông Mekong. Nói một cách khác,
các quốc gia thành viên có toàn quyền thực hiện dự án trên lãnh thổ của mình sau
khi thông báo hoặc hội ý với các quốc gia thành viên khác.
Mục tiêu của Ủy ban Quốc tế Mekong là
nghiên cứu và thực hiện một kế hoạch phát triển toàn diện hạ lưu vực sông Mekong
gồm nhiều dự án khác nhau nhằm mang lại phúc lợi tối đa cho cư dân trong lưu vực
qua sự hợp tác giữa các quốc gia duyên hà và các cơ quan phát triển quốc tế của
Liên Hiệp Quốc và các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Do đó, các quốc gia
thành viên không thể thực hiện dự án, cho dù nằm hoàn toàn trong lãnh thổ của
mình, nếu không có sự chấp thuận của các quốc gia thành viên khác. Nguyên tắc
nầy chính là điểm khác biệt quan trọng nhất và có ảnh hưởng sâu xa nhất đối với
việc phát triển lưu vực sông Mekong giữa Ủy hội sông Mekong hiện nay và Ủy ban
Quốc tế Mekong trước kia.
Hoạt động của Ủy hội sông Mekong nhắm vào
việc hoàn tất bốn chương trình nòng cốt (core programmes), các chương trình
chuyên môn (sector programmes), và 1 chương trình yểm trợ (support programme).
Bốn chương trình nồng cốt gồm có Chương trình Sử dụng Nước (Water Utilization
Programme), Chương trình Phát triển Lưu vực (Basin Development Plan), Chương
trình Môi trường (Environmental Programme), và Chương trình Quản trị và Giảm
thiểu Thiệt hại Lũ lụt (Flood Management and Mitigation Programme).
Chương trình Sử dụng Nước, hoàn tất vào
năm 2003, bao gồm các quy định về việc trao đổi và lưu trữ dữ kiện; quy định về
việc thông báo, hội ý, và thỏa thuận; và quy định trong việc kiểm soát việc sử
dụng nước. Chương trình Phát triển Lưu vực, đang bước sang giai đoạn 2, đề ra
những nguyên tắc trong việc xác định, khuyến khích, và phối hợp thực hiện các dự
án ưu tiên và cơ hội đầu tư nhằm mục đích giúp đỡ các quốc gia thành viên có
những quyết định khôn ngoan nhất trong việc phát triển nguồn thủy lợi quý giá
của họ.
Trong năm 2001, Ủy hội sông Mekong đã
thông qua Chiến lược Quản trị và Giảm thiểu Thiệt hại Lũ lụt, là một phần của
Chương trình Quản trị và Giảm thiểu Thiệt hại Lũ lụt nhắm vào việc cung cấp
phương tiện và dịch vụ kỹ thuật, thảo luận các dị biệt và đề nghị giải pháp,
tăng cường khả năng chuyên môn, và chuyễn giao kỹ thuật. Một Trung tâm Tiên
đoán Lụt đã được thành lập và hoạt động vào năm 2001. Chương trình Môi trường
đang được soạn thảo nhằm mục đích thiết lập khuôn khổ cho việc quản trị môi
trường liên quốc gia.
Ngòai ra còn có chương trình Nông nghiệp,
Dẫn thủy, và Lâm nghiệp nhằm vào hiệu quả của việc sử dụng nước, quản trị lưu
vực, và tăng cường khả năng chuyên môn. Các phụ lưu vực ở Hạ Lưu vực sông
Mekong đã được kiểm kê vào năm 2002. Chương trình Thủy sản nhằm mục đích bảo
tồn mức thu hoạch và sản lượng kinh tế. Một số nghiên cứu về mức thu hoạch cá,
một số lớp huấn luyện, vài cuộc vận động nghề nuôi cá, nhiều buổi thảo luận với
giới chức địa phương đã được thực hiện.
Một số công tác của Chương trình Thủy vận
đã được hoàn tất như Bản đồ Thủy vận và Chiến lược Thủy vận trên sông Mekong,
nhằm mục đích cỗ vỏ sự lưu thông tự do trên sông Mekong và gia tăng việc phát
triển xã hội và thương mãi quốc tế. Qua Chương trình Thủy điện, Ủy hội sông
Mekong tham gia vào các công tác nghiên cứu cho đến gia đoạn tiền đâu tư, theo
dõi ảnh hưởng của các hoạt động có liên quan đến thủy điện, và cố vấn cho các
quốc gia. Một Chiến lược Phát triển Thủy điện được soạn xong trong năm 2004
nhằm mục đích tăng cường khả năng của các quốc gia thành viên trong việc thiết
lập kế hoạch và phát triển thủy điện.
Với kinh nghiệm của một chuyên viên trực
tiếp tham gia vào những dự án và chương trình của Ủy ban Quốc tế Mekong trước
đây, hoạït động của Ủy hội sông Mekong trong 10 năm qua cũng như trong tương
lai, chỉ mang lại kết quả trên hình thức nhiều hơn là trên thực tế nếu như
nguyên tắc và mục tiêu cho những hoạt động hiện nay vẫn được theo đuổi. Ủy hội
sông Mekong chỉ nhắm vào việc thiết lập những quy định và thủ tục trong việc
thực hiện dự án nhưng không có những biện chế tài rõ rệt; do đó, chúng sẽ khó
được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh bởi vì việc sử dụng tài nguyên thủy lợi luôn
luôn có sự mâu thuẫn. Hơn thế nữa, các dự án lại do mỗi quốc gia thành viên
thực hiện cho mục đích riêng trên lãnh thổ của mình nên có thể không phù hợp với
mục tiêu phát triển hoặc gây tai hại cho các quốc gia ở hạ lưu. Và nếu tai hại
được giảm thiểu một cách thỏa đáng, dự án có thể không còn mang lại lợi ích kinh
tế như lúc ban đầu. Đó là chưa kể đến những tranh chấp nếu những thiệt hại do
dự án gây ra không thể giải quyết êm đẹp giữa các quốc liên hệ.
Nếu muốn giải quyết vần đề một cách thiết
thực hơn, Ủy hội sông Mekong nên áp dụng nguyên tắc và mục tiêu của Ủy ban Quốc
tế Mekong trước đây. Có như vậy, các quốc gia thành viên mới có cơ hội tham gia
một cách đầy đủ và đồng đều trong việc phát triển lưu vực sông Mekong. Ủy hội
sông Mekong phải là một cơ quan quốc tế với đầy đủ thẩm quyền có nhiệm vụ nghiên
cứu, thực hiện, và điều hành một kế hoạch tổng thể phát triển thủy lợi cho toàn
lưu vực. Kế hoạch tổng thể nầy phải mang lại phúc lợi tối đa cho cư dân trong
lưu vực và phải được tất cả các quốc gia thành viên chấp thuận trước khi thực
hiện.
Trước nhất và khẩn cấp nhất, Ủy hội sông
Mekong cần phục hồi những chương trình và dự án nghiên cứu của Ủy ban Quốc tế
Mekong đã bị gián đoạn để thu thập dữ kiện, nhất là về phương diện thủy học và
môi trường đã được lên phương án từ lâu nhưng đã bị hủy bỏ vì chính sách của Ủy
hội thay đổi. Điều nầy là một giai đoạn rất cần thiết cho việc soạn thảo và điều
hành kế hoạch tổng thể cho tòan vùng ảnh hưởng của sông Mekong.
Nguyễn Minh Quang
5/2005 VAST
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |