|
Đối với các quốc gia đang
trên đà phát triển như Việt Nam chẳng hạn, mục tiêu chính yếu là
làm thế nào để nâng cao đời sống kinh tế và tạo dựng thêm nhiều
phúc lợi cho người dân nhất là trong lãnh vực y tế công cộng và
giáo dục. Do đo, việc quân bình hay cân bằng phát triển để thỏa
mãn các mục tiêu trên là một vấn đề gai góc mà bất cứ lãnh đạo
chân chính nào cũng phải lưu tâm.
Bài viết dưới đây nhằm mục
đích khai triển tình trạng phát triển của Việt Nam và từ đó đề
ra một số gợi ý trong việc cân bằng quản lý môi trường và phát
triển quốc gia trong tương lai.
Như đã biết, Việt Nam phải
đối mặt và đương đầu trực tiếp với những vấn nạn môi trường và
xã hội như sau: - Nạn phá rừng, - Đất bị thoái hoá và sa mạc hoá
do đó diện tích đất canh tác ngày càng bị thâu hẹp hơn, - Nguồn
nước mặt bị ô nhiễm, - Nguồn nước ngầm cũng không tránh khỏi
tình trạng trên và bị giảm thiểu tạo ra tình trạng lún đất như ở
một số vùng ở ĐBSCL, - Nguồn nước sinh hoạt ngày càng bị hạn chế
do tình trạng phát triển đô thị, - Không khí bị ô nhiễm nặng
nhất là ở các thành phố lớn, - Và sau cùng tình trạng di dân từ
nông thôn ra thành phố tạo ra hiện tượng thiếu lao động trong
canh tác và việc di dời dân chúng từ Bắc vào cao nguyên Trung
phần.
Theo thống kê của Việt Nam
vào tháng 7 năm 2003, dân số của Việt Nam là 81.624.716 người
chung sống trên một diện tích 325.000 Km2. Nhìn chung, Việt Nam
có nhiều thuận lợi hơn nhiều quốc gia đang phát triển trong vùng
vì thời tiết vũ lượng tương đối thích hợp cho nông nghiệp.
Nhưng ngược lại, Việt Nam phải cung cấp thực phẩm cho quá đông
cư dân so với diện tích đất khai thác. Với ước tính khoảng 10
triệu mẫu đất canh tác cho cả nước, và 70% dân số là nông dân,
số lượng đất canh tác sẽ ngày càng giảm thiểu so với mức gia
tăng dân số do hiện tượng đô thị hour, và những vấn nạn môi
trường vừa kễ trên có khả năng tăng cao thêm.
Về rừng, năm 1944, cả nước
có 14 triệu mẫu rừng chiếm một diện tích là 43,8%. Nhưng hiện
nay chỉ còn khoảng độ 17% diện tích rừng tự nhiên. Cũng theo ước
tính, Việt Nam mất khoảng 200.000 mẫu rừng hàng năm, trong khi
đó chỉ trồng lại khoảng 20.000 mẫu. Gần đây nhất, hiện tượng phá
các rừng tràm, đước để nuôi tôm làm cho diện tích rừng ngày càng
suy thoái thêm. Với tình trạng trên, ta có thể phỏng đoán rằng,
mức độ xói mòn, sự sa mạc hóa, sự hóa mặn, tệ trạng ô
nhiễm...của đất sẽ xảy ra với tốc độ nhanh hơn nếu chưa có biện
pháp thích hợp để ngăn chận các hiện tượng trên.
Do đó, mặc dù phải đối
diện với nhiều nghịch lý và mâu thuẫn trong bài toán phát triển
quốc gia và bảo vệ môi trường, mặc dù cần phải nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của người dân trong một quốc gia đang phát
triển, Việt Nam cần phải nhận thức việc cân bằng sản xuất, chấp
nhận hy sinh một số thu nhập ngoại tệ nặng do xuất cảng để đổi
lấy một tình trạng cân bằng hợp lý cho đất nước. Việt Namï biết
phải hy sinh để cứu lấy tài nguyên thiên nhiên, nguồn tiềm năng
của quốc gia. Việt Namï biết phải bảo vệ môi trường cho các thế
hệ về sau mặc dù phải tiến chậm lại vài bước.
Năm tiếp cận sau đây lần
lượt được đề nghị với mục đích truy tìm nguyên nhân và một số
giải đáp cho vấn nạn môi trường ở Việt Nam hiện tại.
Tiếp cận I
- Đổi mới quan niệm quản lý môi trường
Đối với các nước ASIAN
trong vùng, ngân sách trung bình cho việc quản lý môi trường
chiếm 1,0% ngân sách quốc gia và có khoảng 70 cán bộ quản lý
trên 1 triệu dân. Trong lúc đó Việt Nam chỉ chi tiêu 0,1% ngân
sách và chỉ có 3 cán bộ/1 triệu dân. Do đó nếu tính về ngân
khoản cho tiết mục nầy, Việt Nam chỉ chi tiêu tương đương với
1/100 số tiền mà các quốc gia trong vùng tiêu tốn (ngân sách các
quốc gia trong vùng cao gấp 10 lần ngân sách của Việt Nam). Tổng
sản lượng quốc gia của Việt Nam được ước tính vào năm 1998 là 26
tỷ Mỹ Kim, do đó ngân sách dành cho môi trường là 26 triệu, quá
kém so với dân số.
Việt Nam đã thiết lập Bộ
Luật Môi trường từ cuối năm 1993 và đã chuẩn y hầu hết các luật
lệ liên quan đến môi sinh toàn cầu như: Luật về Đa dạng sinh học
(Biodiversity), Luật Thay đổi thời tiết ( Climate Change), Luật
Sa mạc hoá đất đai (Desertification), Luật Bảo toàn các loài có
nguy cơ bị tiệt chủng (Endangered Species), Luật về Phế thải độc
hại (Hazardous waste), Luật về Biển và Tầng ozone (Law of the
Sea & Ozone layer), Luật Bảo toàn rừng ngập nước (Wetlands
Protection), Luật ô nhiễm do tàu biển ( Ship Pollution), Và Nghị
định thư Kyoto (Kyoto Protocol).
Nhìn chung, Việt Nam đã có
đầy đủ thông tin và nhận thức về những bước cần thiết cho công
cuộc phát triển bền vững theo chiều hướng toàn cầu. Tuy nhiên,
do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan, Việt Nam vẫn
chưa thực hiện nghiêm chỉnh những hướng giải quyết căn bản trên.
Do đó, chúng tôi đề nghị Việt Nam cần nên rà soát lại toàn bộ hệ
thống quản lý môi trường cho thích hợp với nhu cầu phát triển
đất nước.
Trước mắt,
các việc đầu tiên cần phải làm là:
· Mời những cơ
quan tư vấn môi trường hay cá nhân ở trong nước cũng như ở nước
ngoài để tham khảo và thẩm định lại hiện trạng môi trường ở Việt
Nam để từ đó hoạch định kế hoạch quy định các điều luật về môi
trường thích ứng với các tiêu chuẩn của thế giới về định mức
giới hạn của các hóa chất độc hại hấp thụ trong đất, nước, con
người, gia súc và nhất là các sản phẩm cần xuất cảng. Có làm như
thế việc giao thương với các quốc gia trong tương lai sẽ dễ dàng
hơn.
· Giải thể hoặc
chuyển đổi những quy trình công nghệ quốc doanh đã lỗi thời, và
hiện đang là một gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Thay vào đó
bằng những quy trình sạch để bảo vệ môi trường. Cần áp dụng tinh
thần quản lý mới hợp lý về năng suất và cho lợi nhuận hơn là duy
trì chế độ bao cấp hay bù lỗ.
· Thành lập một
tòa án môi trường để giải quyết các vấn đề tranh tụng giữa chính
phủ và nhà sản xuất, hay giữa các nhà sản xuất vơí nhau, thậm
chí để xử kiện những vi phạm môi trường của người dân. Tòa án
môi trường sẽ là tiếng nói sau cùng để phê chuẩn và kết án các
vi phạm môi trường cũng như không có trường hợp ngoại lệ nào để
có thể đi ngược lại quyết định chung quyết của tòa án.
Nếu thực hiện được ba việc
trên, thiết nghĩ sự quan tâm và đóng góp tích cực vào công cuộc
bảo vệ môi trường của người dân sẽ tăng dần theo trình độ nhận
thức và thời gian. Và từ đó, người dân sẽ thay đổi dần não trạng
thụ động trong cung cách ứng xử trước những nguy cơ có thể làm ô
nhiễm môi trường. Đây là một việc làm chung và là bổn phận của
tất cả mọi công dân trong nước. Từ đó, những mục tiêu sau đây có
thề dần dần sẽ được giải quyết như: - Bảo vệ và phòng vệ an toàn
lao động và môi trường ở các công nghệ sản xuất, - Phục hoạt lại
môi trường ở những nơi đã bị ô nhiễm, - Và quản lý chặt chẻ hơn
nguồn tài nguyên thiên nhiên như ao hồ, sông ngòi, kinh rạch, và
đất đai.
Tiếp cận 2
- Thực hiện việc đổi mới môi trường
Ở giai đoạn tiên khởi, để
thực hiện việc đổi mới môi trường thiết nghĩ Việt Nam cần tập
trung vào việc áp dụng quy định về nghiên cứu tác động môi
trường (NCTĐMT) của từng quy trình sản xuất hay chế biến trước
khi được cấp giấy phép hoạt động. Cơ sở nào không thỏa mãn điều
kiện trên sẽ không được cấp giấy phép cho đến khi đáp ứng được
yêu cầu NCTDMT. Điều nầy đã được ghi trong Bộ luật Môi trường
nhưng cho đến nay, năm 2004 vẫn không được thi hành nghiêm chỉnh,
các nhà sản xuất không tuân thủ cũng như những ngươi có trách
nhiệm vẫn chưa có biện pháp chế tài.. NCTDMT phải là một luật
định căn bản và sẽ không có một ngoại lệ nào được áp dụng, ngay
cả đối vơi các công ty ngoại quốc đầu tư vào Việt Nam.
Ngoài ra, cho đến nay luật
lệ về quản lý nước và rừng vẫn còn nhiều thiếu sót và cần phải
bổ túc thêm để tránh bớt lạm dụng vì còn nhiều quy định chưa
được minh bạch.
Một thí dụ điển hình là
đối với trên 30.000 công ty sản xuất đủ loại ở nội thành Tp
HCM cần phải di dời ra khỏi khu dân cư. Việc làm trên chỉ đạt
được hiệu quả của công cuộc đổi mới môi trường nếu nhà cầm quyền
quy định rõ ràng và đòi hỏi biên bản NCTDMT của từng cơ sở trước
khi chấp thuận việc di dời. Làm như thế mới hy vọng tránh được
cảnh di dời phế thải lỏng và rắn từ một địïa điểm đông dân cư
đến một địa điểm khác thưa dân hơn, chứ thực sư không giải quyết
được vấn đề ô nhiễm môi trường.
Dĩ nhiên, vai trò của tòa
án nơi đây rất quan trọng và cần phải thật sự vô tư và độc lập
với nhà cầm quyền để cho những vụ kiện tụng và xét nghiệm cũng
như biên bản NCTDMT có được đầy đủ tính khoa học và khách quan.
Sau khi đã giải quyết căn
bản và áp dụng biên bản NCTDMT cho hầu hết các loại công nghệ
đang được sản xuất trong nước, bước tiếp theo là thực hiện những
kế hoạch đặc biệt và tùy theo mức độ ô nhiễm để sắp xếp thứ tự
ưu tiên của những nơi cần phải xử lý ô nhiễm trong nước. Thí dụ
trước mắt là đặt ưu tiên vào việc giải quyết ô nhiễm không khí ở
thành phố HCM, và áp đặt hệ thống xử lý phế thải rắn và long ở
hơn 40 khu công nghiệp trên toàn quốc.
Tiếp cận 3
- Nhu cầu cho công cuộc đổi mới môi trường
Đối với công cuộc đổi mới
môi trường, yếu tố nhân sự đứng hàng đầu tiếp theo là yếu tố tài
chính cũng như tính xuyên suốt và nhất quán trong quản lý, và
sau cùng cũng cần nên kễ đến sư lưu tâm và tham dự của dân chúng
trước vấn đề chung của quốc gia:
Tuy nhiên, vấn đề nhân sự
chuyên môn là một trong những cản ngại lớn của Việt Nam trong
việc quản lý môi trường. Hiện tại, cũng còn nhiều trường hợp vi
phạm môi trường xảy ra do sự khiếm khuyết nhân sự. Việc kiểm
soát và quản lý không được chặt chẽ như mục tiêu đã đề ra. Thêm
nữa, còn có quá nhiều định mức chưa được cứu xét và quy thành
luật, do đó có nhiều kẽ hở về phía chính quyền và chính các kẽ
hở đó đã vô tình tiếp tay cho các công ty, nhất là các công ty
ngoại quốc tiếp tục vi phạm vì chưa có quy định rõ ràng.
Ngoài yếu tố nhân sự, yếu
tố tài chính cũng chính là một cản ngại then chốt thứ hai, và
trở ngại nầy đã gây khó khăn cho việc quản lý rất nhiều, và cũng
là lý do chánh trong việc trì trệ cứu xét các định mức độc hại.
Yếu tố thứ ba là thiếu
tính nhất quán trong quản lý. Vì khả năng chuyên môn của nhân sự
quản lý không được huấn luyện đồng bộ, vì chính phủ không đủ
điều kiện để cập nhật hóa các thông tin về luật lệ mới để thích
ứng với tình hình, cho nên việc thi hành luật ở nhiều nơi đôi
khi mâu thuẫn với nhau khiến phải mất nhiều thời gian để điều
chỉnh và dàn xếp ở tòa án thay vì tập trung vào việc soạn thảo
các quy định còn thiếu sót.
Tuy luật môi trường đã
được quốc hội thông qua từ năm 1993 và có thêm nhiều bổ túc tiếp
sau đó, nhưng sự hiểu biết của dân chúng về vấn đề nầy vẫn còn
mơ hồ do sự thiếu phổ biến và dân trí của người dân trong nước
vẫn còn hạn chế. Cho nên việc tham gia đóng góp trong công cuộc
giải quyết vấn nạn môi trường chưa được thể hiệnđúng mức, trừ
khi ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sức khỏe người
dân.
Tiếp cận
4 - Giải quyết những vấn đề ưu tiên ở Việt Nam
Về việc nhận thức nguy cơ
của các thảm nạn môi trường đã, đang và sẽ xảy ra song hành với
việc phát triển quốc gia, Việt Nam cần đưa vào kế hoạch giải
quyết đồng loạt những vấn nạn môi trường xảy ra sau đây:
Không khí: Ô nhiễm không
khí là một vấn nạn môi trường nguy hiểm nhất là ở các thành phố
lớn như TpHCM, Hà Nội, Hải Phòng, và các vùng khai thác quặng
mỏ. Các biện pháp làm giảm mức ô nhiễm nitrogen dioxide NO2,
sulfide dioxide SO2, carbon monoxide CO, thán khí CO2, các hạt
lơ lửng trong không khí (particles in suspension), hợp chất hữu
cơ nhẹ (VOCs)....là những mối quan tâm hàng đầu mà Việt Nam cần
phải giải quyết càng sớm càng tốt. Một thí dụ điển hình về ô
nhiễm không khí: Nhà máy xi măng Hải Phòng ở khu công nghiệp
Thương Đình đã bị ô nhiễm nặng nề khí SO2 và bụi, tác động trực
tiếp lên sức khỏe người dân sống trong vùng. Số người bị bịnh
đường hô hấp tăng từ 1,5 đến 2,5 lần so với các khu vực không bị
ô nhiễm.
Thay đổi thời tiết: Bộ
Khoa học, Công nghệ & Môi trường cùng phối hợp với các đại học
liên hệ, các viện nghiên cứu, Bộ năng lượng để thiết lập bộ luật
về bảo vệ và giảm thiểu sự hâm nóng toàn cầu trong phạm vi quốc
gia theo tinh thần Nghị định thư Kyoto năm 1997.
Nước: Ô nhiễm nguồn nước
là một hiểm họa quốc gia. Do sự phân phối không đồng bộ của
thiên nhiên, miền Nam có lượng nước dư thừa; trong khi miền
Trung thì khô cằn. Trong hiện tại, hầu như tất cả lượng nước
thải công nghiệp (95%) đều được chảy thẳng vào sông, hồ, hoặc
biển gây ra tình trạng ô nhiễm trầm trọng cho nguồn nước sinh
hoạt của cả nước, đặc biệt là ô nhiễm manganese, thủa ngân,
chrome, chì, selenium, sắt, đồng, và ô nhiễm vi sinh. Nước thải
sinh hoạt từ các gia đình cũng cần được nghiên cứu xử lý ít nhất
là xử lý cơ học trước khi thải hồi vào sông hay biển.
Đất canh tác: Giống như
trường hợp của các quốc gia đang phát triển, ba vấn nạn căn bản
của đất đai dùng để canh tác ở Việt Nam nhằm mục đích tăng nguồn
sản xuất nông nghiệp là: sự xói mòn (erosion), sự sa mạc hóa
(desertification), và sự ô nhiễm. Hiện tại có thể nói rằng phần
lớn đất đai ở Việt Nam đang bị xói mòn đặc biệt ở miền Trung và
cao nguyên đất trồng trọt đang trên đà thoái hóa và có khả năng
bị sa mạc hóa nếu không có biện pháp cứu chữa thích nghi. Tại
ĐBSCL, tệ trạng nhiễm mặn do sự xâm nhập nước biển vào, và cũng
do việc sử dụng phân bón ào ạt đã làm tăng lượng muối trong đất.
Do đó tiến trình thoái hoá của đất cùng sự xói mòn có khả năng
tăng nhanh hơn nữa.
Do đó, trước những nguy cơ
trên, Việt Nam cần nên bắt đầu theo dõi, kiểm soát các kế hoạch
phát triển nông nghiệp cũng như hạn chế sản xuất một số nông
phẩm dư thừa dùng để xuất cảng để bảo vệ đất và giữ cho đất có
đủ thời gian để tái tạo trở lại giống như tình trạng nguyên thủy.
Quản lý chất phế thải rắn:
Chất phế thải từ các đơn vị gia cư vẫn còn được đổ vào những bãi
rác mỡ (open dump site). Tình trạng chất phế thải kỹ nghệ cũng
chẳng khá hơn, tuyệt đại đa số công nghệ hiện có đều không có hệ
thống xử lý và phế thải vẫn phải đi vào các bãi rác nếu là chất
rắn, và vào sông, hồ, biển nếu là chất lỏng.
Đề nghị
cần phải có một chương trình hành động nhắm vào từng mục tiêu
riêng biệt để giải quyết tình trạng trên:
· Thiết lập cơ
quan giáo dục công cộng về môi trường có mục đích giải thích cho
người dân hiểu rõ thêm về các vấn nạn môi trường;
· Khai triển
thêm các luật lệ chi tiết để quản lý từng loại phế thải;
· Thành lập
những bãi rác theo tiêu chuẩn quốc tế nghĩa là có vách ngăn nước
rỉ để bảo vệ nguồn nước ngầm và hệ thống xử lý nước rỉ để bảo vệ
sức khỏe người dân;
· Khuyến khích
và hỗ trợ sự tham gia của các nhà sản xuất công nghiệp vào việc
giảm thiểu phế thải (waste minimization) kỹ nghệ.
Tiếp cận 5
- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Nhận thức được nguồn tài
nguyên thiên nhiên không phải là một nguồn vô tận, đó là một
nguồn dự trữ thiết yếu của quốc gia, và là một vấn đề sống còn
của đất nước. Đây chính là nguồn nội lực cần phải được bảo vệ.
Do đó việc khai thác các hầm mỏ và nguồn tài nguyên rừng cần
được lưu tâm kỹ lưỡng.
Mõ: Đây là một nguồn tài
nguyên lớn của quốc gia cần phải được khai thác có tính toán và
cần có sự cân bằng trong việc bảo vệ môi trường. Việt Nam có
nhiều mõ quan trọng như phosphate, than, manganese, bauxite,
chrome, và nhất là dầu khí ở thềm lục địa. Do đó cần phải có một
bộ luật về mõ chi tiết trong đó quy định rõ ràng định mức khai
thác và biện pháp để làm giảm thiểu ô nhiễm khi bắt đầu đi vào
áp dụng. Từ đó, tình trạng ô nhiễm ở những vùng bị khai thác sẽ
được cải thiện sau đó, và chi phí y tế trong việc bảo vệ an
toàn lao động và sức khỏe của công nhân sẽ được giảm thiểu kéo
theo việc tăng thêm lợi nhuận trong khai thác.
Rừng: Do thiếu kiểm soát
và không có kế hoạch khai thác từ đầu, nạn phá rừng thiên nhiên
đã đưa Việt Nam đến nguy cơ cạn kiệt về rừng. Do đo,ù cần phải
có biện pháp cứng rắn và thích nghi để chận đứng nạn khai thác
rừng bừa bãi như: 1- Cấm phá rừng không theo quy hoạch; 2 - Cấm
và hạn chế xuất cảng một số gỗ; 2- Quy định kế hoạch trồng rừng
để tái tạo rừng nguyên sinh. Hành động cứng rắn nầy sẽ mang lại
cân bằng hệ sinh thái của quốc gia, một điều cần thiết để bảo vệ
môi trường.
Nông nghiệp: Trong khoảng
15 năm trở lại, sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp của Việt Nam
tăng vọt mạnh về lúa, trà, tiêu, hột điều, cà phê, và tôm cá. Vì
phải tập trung vào việc xuất cảng nông phẩm tối đa, Việt Nam
hiện nay phải trực diện với tình trạng đất xói mòn, bị sa mạc
hóa, và ô nhiễm môi trường do phân bón tồn đọng trong đất và sự
hiện diện của đủ loại thuốc trừ sâu rầy, diệt cỏ dại. Hiện tại,
đất bị xói mòn, và lượng thuốc trừ sâu rầy khổng lồ được nhập
cảng hàng năm. Hầu hết các loại thuốc bị cấm sử dụng như DDT,
Aldrin, Endrin,...đều đang được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Do
đó, Ủy ban thẩm định mức độc hại của thuốc bảo vệ thực vật cần
được thành lập gồm đại diện bộ y tế, bộ khoa học và môi trường,
bộ nông nghiệp cùng sự hợp tác của nhiều chuyên gia nông nghiệp
để thẩm định mức tối thiểu của từng hóa chất có thể ảnh hưởng
lên con người và thú vật. Việt Nam cũng có thể áp dụng các định
mức độc hại đã được nghiên cứu kỹ lưỡng và đang được thi hành ở
các quốc gia đã phát triển hoặc của Cơ quan Y tế LHQ (WHO).
Kết luận
Từ 5 tiếp cận trên đây,
chúng ta có thể có một tầm nhìn khái lược về những vấn đề trọng
tâm của Việt Nam trong việc quản lý môi trường hiện tại.Việt Nam
hiện có một sự ổn định chính trị dù dưới một hình thức không
thoải mái cho người dân. Nhưng đây cũng là một điều kiện cần để
mở đầu cho tiến trình phát triển kinh tế và tạo dựng phúc lợi
trong nước. Tuy nhiên Việt Nam cũng cần phải có thêm điều kiện
đủ để phát triển theo chiều hướng bền vững thích ứng với khái
niệm toàn cầu hoá đang được các quốc gia trên thế giới áp dụng.
Và chính những điều gợi ý trên đây là một khơi mào cho tiến
trình phát triển của Việt Nam. Từ đó xã hội sẽ hy vọng có được
sự ổn định và trật tự thật sự, các xáo trôn nội tại sẽ dần dần
bị triệt tiêu.
Nếu các quyết định và cung
cách giải quyết sáng suốt những vấn đề môi trường trên chắc chắn
sẽ đem lại tin tưởng cho người dân, từ đó Việt Nam sẽ có được sự
ổn định chính trị và xã hội thực sự trong nước. Từ sự ổn định
trên, đầu tư ngoại quốc sẽ an tâm hơn để giúp đất nước nầy đẩy
mạnh phát triển, mang nhiều quy trình công nghệ tân tiến và
"sạch" có khả năng làm tăng nhanh phát triển đồng thời giảm
thiểu hay ngăn ngừa được ô nhiễm. Làm được như thế, Việt Nam
cùng một lúc giải quyết được hai vấn đề cho quốc dân: làm tăng
phúc lợi cho người dân và bảo vệ được môi trường cho các thế hệ
về sau, đi đúng theo tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc đề ra cho sự
phát triển bền vững của các quốc gia đang phát triển là: 1- Tạo
dựng tăng trưởng kinh tế; 2- Cân bằng môi sinh; 3- và Tiến bộ xã
hội.
Không ai có thể phủ nhận
mức phát triển của Việt Nam tăng vọt hàng năm. Về mặt xuất cảng
trên thế giới, Việt Nam được xếp hàng thứ nhì về gạo, thứ ba về
cà phê, cao su, tiêu, trà, điều; các mặt hàng nầy đã chiếm vị
trí quan trọng trong cán cân xuất cảng chỉ sau dầu hỏa. Ngược
lại, Việt Nam phải trực diện với muôn vàn vấn nạn ô nhiễm môi
trường. Nhưng để đổi lại, người dân chẳng những không được hưởng
những phúc lợi do xuất cảng đem lại mà còn phải chịu đựng thêm
nhiều áp lực kinh tế trong đời sống hàng ngày và sức khỏe ngày
càng bị đe dọa nhất là đồng bào miền Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Do đó, lãnh đạo Việt Nam
cần có đủ đởm lược để tiếp nhận ý kiến đóng góp của người dân
trong việc quản lý đất nước nhất là phải biết chấp nhận lỗi lầm
để dứt khoát có những thay đổi thích hợp và đúng lúc, hợp với
lòng người, hợp với bối cảnh, và hợp với thiên nhiên. Cần phải
thực tế! Nên nhớ Phát triển (Nhân) và Ô nhiễm môi trường (Quả)
phải có cân bằng. Nếu tạo được Nhân lành như phát triển có kế
hoạch, có kiểm soát, và sử dụng công nghệ sạch, thì chắc chắn sẽ
gặt hái được Quả lành do môi trường ít bị ô nhiễm. Đây là cái lý
đương nhiên mà con người không thể nào làm khác hơn được.
Thời gian đã quá dài để
cho dân tộc Việt phải can qua quá nhiều vấn nạn trong đời sống
kinh tế, xã hội, và tâm linh rồi. Đã đến lúc cần phải chấm dứt
tình trạng trên. Muốn tìm câu giải đáp cho bài toán phát triển
Việt Nam, không cần phải có một trí tuệ ưu việt mà chỉ cần những
trí tuệ bình thường với một tấm lòng thủy chung với đất nước.
Mai Thanh
Truyết
Ý kiến, Phê bình xin gửi
đến
maithanhtruyet@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |