|
Một nhóm nhà sinh học ở Trung tâm Ung
thư Sloan-Kettering (New York) do bác sĩ Lorenz Studer chỉ đạo
đã chứng minh rằng tế bào mầm lấy từ phôi người có thể được dùng
để điều trị các bệnh thoái hóa thần kinh, chẳng hạn như bệnh
Parkinson.
Tế bào mầm của phôi có 2 đặc điểm :
chúng có thể sinh sôi vô tận và giống hệt nhau, mặt khác lại có
thể biệt hóa để trở thành mọi loại tế bào khác nhau của các mô
trong cơ thể, cả rắn lẫn lỏng. Một trong những lĩnh vực hứa hẹn
nhất là tạo được tế bào thần kinh để cấy ghép vào não nhằm điều
trị các chứng bệnh thoái hóa thần kinh.
Nhiều công trình nghiên cứu trong
những năm gần đây, đặc biệt là trên loài chuột, đã giúp xác
định phương cách tạo được những loại tế bào khác nhau trong hệ
thần kinh trung ương từ tế bào mầm. Tuy nhiên chưa có nhóm
nghiên cứu nào thànhcông trong việc làm cho tế bào mầm biệt hóa
tinh tế hơn để tạo ra một vài phân loài tế bào thần kinh nằm
trong những vùng đặc thù của não.
Tuy nhiên ranh giới này đã bị vượt
qua bởi nhóm nghiên cứu của bác sĩ Studer. Họ đã biến một tỷ lệ
lớn (hơn 70%) các tế bào mầm của phôi người thành tế bào thần
kinh gọi là dopaminergique có liên quan trực tiếp trong chứng
Parkinson. “Kết quả của chúng tôi được chứng thực từ 3 dòng tế
bào mầm phôi người khác nhau và 2 dòng của khỉ. Khả năng có được
một số lượng hầu như vô hạn các tế bào dopaminergique là giai
đoạn đầu tiên trong việc khám phá những tiềm năng của tế bào mầm
nhằm điều trị bệnh Parkinson” - bác sĩ Studer cho biết. Mặt
khác, hệ thống thí nghiệm này còn cung cấp một công cụ mạnh mẽ
để nghiên cứu cơ chế phân tử kiểm soát sự phát triển và hoạt
động của các tế bào dopaminergique trong não.
Mới đây một nhóm khoa học gia Mỹ
vừa thực hiện được một kỳ tích sinh học và kỹ thuật. Bằng cách
kết hợp kỹ thuật trị liệu gène và nuôi cấy tế bào trong một thí
nghiệm, lần đầu tiên nhóm của Rudolf Jaenisch ở Viện Whitehead
đã đưa ra bằng chứng rằng các tế bào trưởng thành được chuyển
thành tế bào phôi có thể là một công cụ trị liệu, ít ra là ở
loài vật.
Công trình này đã củng cố cho tính
đúng đắn của những nghiên cứu trên khắp thế giới nhằm mục đích
triển khai một ngành y học mới gọi là tái tạo. Tuy vẫn còn nhiều
trở ngại kỹ thuật phải vượt qua, nhưng thí nghiệm đã mở ra nhiều
triển vọng về việc tìm kiếm những liệu pháp để chữa trị các
chứng bệnh thoái hóa hiện nay vẫn còn là nan y. Ngoài ra nó còn
chấm dứt sự xung khắc của những người ủng hộ việc phá hủy phôi
người để nghiên cứu và những kẻ lên án hành vi đó vì lý do tôn
giáo.
Thí nghiệm này tiếp nối theo công
trình của nhóm Shinya Yamanaka ở Đại học Kyoto. Họ đã làm lại
trên người những gì đạt được trên loài chuột : biến đổi tế bào
da (nguyên bào sợi) thành những tế bào có mọi đặc tính của tế
bào mầm ở phôi. Sự biến đổi ngoạn mục này cần có 4 gène trong hệ
di truyền của tế bào, qua một vecteur là virus. Sự có mặt của 4
gène này đã làm “khởi đầu lại” các tế bào đã biệt hóa để chúng
trở thành chưa biệt hóa, tức là có thể biến đổi thành bất kỳ mô
nào trong cơ thể.

Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều câu hỏi
cần có lời giải, trước tiên là liệu các tế bào đó có thể được
dùng như công cụ trị liệu không. Và nhóm của Rudolf Jaenisch đã
chứng minh điều đó. Lúc đầu họ cũng cần 4 gène giống như nhóm
nghiên cứu Nhật. Họ đưa các gène đó vào nguyên bào sợi lấy từ
đuôi của 1 con chuột mắc chứng hồng cầu hình liềm. Chứng bệnh di
truyền này rất phổ biến tại một số quốc gia châu Phi, thể hiện
qua một khuyết điểm đặc thù trong cấu trúc của huyết tương, gây
ra nhiều rối loạn, nhất là thiếu máu.
Sau đó nhóm nghiên cứu chỉnh sửa sự
bất thường này trong các tế bào mầm đạt được, rồi đưa chúng vào
môi trường nuôi cấy để chúng biệt hóa thành tế bào mầm tạo huyết
có khả năng tạo ra nhiều dòng tế bào máu khác nhau. Cuối cùng
những tế bào tạo huyết này được cấy trở vào cơ thể chuột. Vả
nhóm nghiên cứu cho biết rằng sau đó huyết tương của chuột không
còn bất bình thường nữa, và các triệu chứng hồng cầu hình liềm
cũng giảm đi.
Với kết quả đó, trong mọi lĩnh vực
khác của sinh học và y học, câu hỏi sẽ là khi nào người ta sẽ
thử nghiệm lâm sàng trên người. Nên biêt rằng nhiều thao tác
trong thí nghiệm trên chuột không phải là không có nguy cơ. Nhất
là một số gène đươc sử dụng để làm cho nguyên bào sợi biến thành
tế bào mầm phôi có thể dẫn đến ung thư. Với kiến thức hiện nay
và nhất là với những điều chưa chắc chắn, hẳn không có giới chức
thẩm quyền nào dám cho phép thử nghiệm lâm sàng trên người cả.
Do vậy các nhà nghiên cứu còn phải tìm ra những phương pháp “vô
hại” để loại trừ nguy cơ ung thư.
Một chuyên gia Pháp nhận định :
“Nhóm nghiên cứu của Mỹ đã chứng tỏ rằng cần phải cho các nhà
khoa học được trọn vẹn tự do trong lĩnh vực nghiên cứu của họ”.
MINH LUÂN
tổng hợp.
Trở về Trang Chính
|