Những bước tiến trong lĩnh vực nghiên cứu

tế bào mầm


 

    MINH  LUÂN

E-Mail: minhluan@khoahoc.net

26 tháng 06 năm 2008

          Một nhóm nhà sinh học ở Trung tâm Ung thư Sloan-Kettering (New York) do bác sĩ Lorenz Studer chỉ đạo đã chứng minh rằng tế bào mầm lấy từ phôi người có thể được dùng để điều trị các bệnh thoái hóa thần kinh, chẳng hạn như bệnh Parkinson. 

          Tế bào mầm của phôi có 2 đặc điểm : chúng có thể sinh sôi vô tận và giống hệt nhau, mặt khác lại có thể biệt hóa để trở thành mọi loại tế bào khác nhau của các mô trong cơ thể, cả rắn lẫn lỏng. Một trong những lĩnh vực hứa hẹn nhất là tạo được tế bào thần kinh để cấy ghép vào não nhằm điều trị các chứng bệnh thoái hóa thần kinh.

          Nhiều công trình nghiên cứu trong những năm gần đây, đặc biệt là trên loài chuột, đã giúp  xác định phương cách tạo được những loại tế bào khác nhau trong hệ thần kinh trung ương từ tế bào mầm. Tuy nhiên chưa có nhóm nghiên cứu nào thànhcông trong việc làm cho tế bào mầm biệt hóa tinh tế hơn để tạo ra một vài phân loài tế bào thần kinh nằm trong những vùng đặc thù của não.

          Tuy nhiên ranh giới này đã bị vượt qua bởi nhóm nghiên cứu của bác sĩ Studer. Họ đã biến một tỷ lệ lớn (hơn 70%) các tế bào mầm của phôi người thành tế bào thần kinh gọi là dopaminergique có liên quan trực tiếp trong chứng Parkinson. “Kết quả của chúng tôi được chứng thực từ 3 dòng tế bào mầm phôi người khác nhau và 2 dòng của khỉ. Khả năng có được một số lượng hầu như vô hạn các tế bào dopaminergique là giai đoạn đầu tiên trong việc khám phá những tiềm năng của tế bào mầm nhằm điều trị bệnh Parkinson” - bác sĩ Studer cho biết. Mặt khác, hệ thống thí nghiệm này còn cung cấp một công cụ mạnh mẽ để nghiên cứu cơ chế phân tử kiểm soát sự phát triển và hoạt động của các tế bào dopaminergique trong não.

          Mới đây một nhóm khoa học gia Mỹ vừa thực hiện được một kỳ tích sinh học và kỹ thuật. Bằng cách kết hợp kỹ thuật trị liệu gène và nuôi cấy tế bào trong một thí nghiệm, lần đầu tiên nhóm của Rudolf Jaenisch ở Viện Whitehead đã đưa ra bằng chứng rằng các tế bào trưởng thành được chuyển thành tế bào phôi có thể là một công cụ trị liệu, ít ra là ở loài vật. 

          Công trình này đã củng cố cho tính đúng đắn của những nghiên cứu trên khắp thế giới nhằm mục đích triển khai một ngành y học mới gọi là tái tạo. Tuy vẫn còn nhiều trở ngại kỹ thuật phải vượt qua, nhưng thí nghiệm đã mở ra nhiều triển vọng về việc tìm kiếm những liệu pháp để chữa trị các chứng bệnh thoái hóa hiện nay vẫn còn là nan y. Ngoài ra nó còn chấm dứt sự xung khắc của những người ủng hộ việc phá hủy phôi người để nghiên cứu và những kẻ lên án hành vi đó vì lý do tôn giáo.  

          Thí nghiệm này tiếp nối theo công trình của nhóm Shinya Yamanaka ở Đại học Kyoto. Họ đã làm lại trên người những gì đạt được trên loài chuột : biến đổi tế bào da (nguyên bào sợi) thành những tế bào có mọi đặc tính của tế bào mầm ở phôi. Sự biến đổi ngoạn mục này cần có 4 gène trong hệ di truyền của tế bào, qua một vecteur là virus. Sự có mặt của 4 gène này đã làm “khởi đầu lại” các tế bào đã biệt hóa để chúng trở thành chưa biệt hóa, tức là có thể biến đổi thành bất kỳ mô nào trong cơ thể.      

  

          Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều câu hỏi cần có lời giải, trước tiên là liệu các tế bào đó có thể được dùng như công cụ trị liệu không. Và nhóm của Rudolf Jaenisch đã chứng minh điều đó. Lúc đầu họ cũng cần 4 gène giống như nhóm nghiên cứu Nhật. Họ đưa các gène đó vào nguyên bào sợi lấy từ đuôi của 1 con chuột mắc chứng hồng cầu hình liềm. Chứng bệnh di truyền này rất phổ biến tại một số quốc gia châu Phi, thể hiện qua một khuyết điểm đặc thù trong cấu trúc của huyết tương, gây ra nhiều rối loạn, nhất là thiếu máu.

          Sau đó nhóm nghiên cứu chỉnh sửa sự bất thường này trong các tế bào mầm đạt được, rồi đưa chúng vào môi trường nuôi cấy để chúng biệt hóa thành tế bào mầm tạo huyết có khả năng tạo ra nhiều dòng tế bào máu khác nhau. Cuối cùng những tế bào tạo huyết này được cấy trở vào cơ thể chuột. Vả nhóm nghiên cứu cho biết rằng sau đó huyết tương của chuột không còn bất bình thường nữa, và các triệu chứng hồng cầu hình liềm cũng giảm đi.

 

          Với kết quả đó, trong mọi lĩnh vực khác của sinh học và y học, câu hỏi sẽ là khi nào người ta sẽ thử nghiệm lâm sàng trên người. Nên biêt rằng nhiều thao tác trong thí nghiệm trên chuột không phải là không có nguy cơ. Nhất là một số gène đươc sử dụng để làm cho nguyên bào sợi biến thành tế bào mầm phôi có thể dẫn đến ung thư. Với kiến thức hiện nay và nhất là với những điều chưa chắc chắn, hẳn không có giới chức thẩm quyền nào dám cho phép thử nghiệm lâm sàng trên người cả. Do vậy các nhà nghiên cứu còn phải tìm ra những phương pháp “vô hại” để loại trừ nguy cơ ung thư.

          Một chuyên gia Pháp nhận định : “Nhóm nghiên cứu của Mỹ đã chứng tỏ rằng cần phải cho các nhà khoa học được trọn vẹn tự do trong lĩnh vực nghiên cứu của họ”.

 

                                                                                                              MINH LUÂN tổng hợp.

Trở về Trang Chính