VỀ ĐỒNG TIỀN THỨ HAI CỦA NƯỚC VIỆT NAM


 

BS NGUYỄN ANH HUY

E.mail: anhhuyhue@yahoo.com

10 tháng 04 năm 2008

  Sau hơn 10 năm hưởng cảnh Thái Bình, dân Đại Cồ Việt chuẩn bị phòng thủ trước âm mưu xâm lược của lân bang to lớn, nước Đại Tống. Băn khoăn trước vận nước, ấu chúa chưa tham chính được, giang sơn có cơ nguy vong, thái hậu triều Đinh bèn khoát long bào lên vai chủ soái Lê Hoàn. Thập đạo Tướng quân lên ngôi, lập ra triều Lê (sử gọi là “nhà Tiền Lê”) lấy niên hiệu là Thiên Phúc (980-988) rồi sau đó đổi sang Hưng Thống (989-994), Ứng Thiên (995-1005).

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép rằng: “Giáp Thân, năm thứ 5 (984), mùa xuân, tháng 2, đúc tiền Thiên Phúc”.

Ngày nay, chúng ta đã tìm thấy tiền Thiên Phúc Trấn Bảo mà các nhà nghiên cứu tiền trên thế giới đều công nhận tiền này do Lê Đại Hành đúc. Xem kỹ, có thể thấy các loại chính khác nhau ở mặt lưng như sau:

1. Mặt lưng ngoài các gờ viền thì trơn, không có chữ gì.

2. Mặt lưng có chữ “Lê” ở trên lỗ vuông: do ngày xưa chữ viết trên khuôn đúc bằng thủ công nên chữ “Lê” đôi khi viết lớn nhỏ khác nhau.

3. Mặt lưng có chữ “Lê” dưới lỗ vuông: loại tiền này, tôi chưa thấy bao giờ, cũng chưa nghe ai nhắc đến, song căn cứ một đồng tiền khác trong sách của Toda mà suy ra thì nó cũng có thể có, nên tôi đưa ra ý kiến này để các nhà sưu tập, nghiên cứu có thấy thì công bố thêm. Năm 1882, trong sách Annam and its minor currency in tại Thượng Hải, Toda công bố một đồng tiền rất lạ: đồng tiền một mặt hoàn toàn trơn không có chữ, chỉ có gờ viền và lỗ vuông, mặt kia thì chỉ có một chữ Lê dưới lỗ vuông; và đã được giám định là của Lê Đại Hành.

Về sự xuất hiện đồng tiền này, có thể giải thích do ráp nhầm hai khuôn lưng của hai loại tiền mặt sau có chữ và mặt sau trơn; hoặc cũng có thể đồng tiền mặt trước có chữ mà lý do nào đó bị mòn cả mặt trước, như nhiều đồng tiền rơi xuống lòng sông suối, bị nước chảy bào mòn đều cả một mặt tiền vậy. Dù cách giải thích nào, đồng tiền của Toda chỉ nên xem là biến thể của một loại tiền chứ không thể xếp vào một loại chính trong các loại tiền hiệu này. Điều này chứng tỏ phải có làm một khuôn lưng của loại tiền mặt sau có chữ “Lê” dưới lỗ vuông. Và chúng ta hoàn toàn có lý khi nghĩ rằng, có thể có loại tiền Thiên Phúc Trấn Bảo mặt lưng có chữ “Lê” dưới lỗ vuông, nhưng chắc quá hiếm nên chưa thể tìm thấy!

Về niên hiệu Thiên Phúc, cũng còn gặp vào thời Ngũ Đại - Thập Quốc (Trung Quốc) của Hậu Tấn - Cao Tổ (Thạch Kính Đường) năm 937-942, và cũng có thêm loại tiền Thiên Phúc Nguyên Bảo. So sánh hai loại tiền Thiên Phúc, nhận thấy một số dị biệt sau:

- Về văn tự, dễ dàng thấy tiền Thiên Phúc Nguyên Bảo mang thư pháp của các chữ trong các loại tiền Trung Quốc đương thời: hai chữ “nguyên bảo” nét viết hoàn toàn giống với chữ trong các loại tiền Khai Nguyên Thông Bảo, Càn Nguyên Trọng Bảo, Thông Chính Nguyên Bảo, Thiên Hán Nguyên Bảo, Quang Thiên Nguyên Bảo, Càn Đức Nguyên Bảo, Hàm Khang Nguyên Bảo, và cả Tống Nguyên Thông Bảo... Hai chữ “Thiên Phúc” trong tiền này viết chững chạc, cứng cáp. Thêm nữa, tiền Thiên Phúc Nguyên Bảo, bốn chữ Hán đọc tròn càng mang đặc điểm của tiền Trung Quốc đương thời. Ngược lại, tiền Thiên Phúc Trấn Bảo, bốn chữ đọc chéo khác hẳn, thư pháp trên đồng tiền rất Việt Nam: mộc mạc, chân thật, hiền hòa, chập chững như trẻ mới tập viết, cũng như lối chữ trên tiền Thái Bình Hưng Bảo của triều Đinh.

- Về chất liệu, phần lớn đều được làm bằng đồng thau, và cũng có loại bằng đồng bạch. Nhưng tiền của Trung Quốc chất liệu đồng thau cứng do kỹ thuật luyện kim đã cao. Ngược lại, tiền Thiên Phúc Trấn Bảo chất đồng còn mềm cũng như tiền Thái Bình Hưng Bảo, nên khi mài dễ mòn nhanh.

          - Mặt lưng của hai loại tiền cũng khác nhau, tiền Thiên Phúc Nguyên Bảo đúc chững chạc nên vành và lỗ vuông cứng cáp, hùng dũng. Ngược lại, tiền Thiên Phúc Trấn Bảo và tiền Thái Bình Hưng Bảo có điểm giống nhau: giản dị, mộc mạc. Chữ Lê ở lưng tiền mang quốc tính của triều đại, không liên quan gì đến Tấn Cao Tổ, nhưng lại biểu hiện tính thừa kế triều đại nối tiếp với tiền Thái Bình Hưng Bảo mặt lưng mang quốc tính của triều Đinh.

- Về đường kính đồng tiền Thiên Phúc Trấn Bảo, cũng như tiền Thái Bình Hưng Bảo, đều bằng nhau, 23mm.

          Một vài đặc điểm trên, có thể dễ dàng phân biệt và giám định tiền Thiên Phúc Nguyên Bảo là của Trung Quốc, còn tiền Thiên Phúc Trấn Bảo là của Lê Đại Hành, Việt Nam. Chữ “trấn” trong tiền này như ngụ ý “thái bình” đã “hưng bảo” thì ta được “Thiên Phúc” (phúc của trời ban) phải ra sức mà “trấn (giữ) bảo” vậy! Và quả thật, Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn đã từng giữ nước rất xuất sắc!

                                                                                                                        NAH

 

 

tiền Thiên Phúc Trấn Bảo của Lê Đại Hành (980-988)

mặt  lưng tiền Thiên Phúc Trấn Bảo, có chữ “Lê” trên lổ vuông

 

Bài đã đăng:

MỘT ĐỒNG TIỀN, MỘT NIỀM TỰ HÀO...

Trở về Trang Chính