|
Lịch sử phát triển nhân loại cũng chính là lịch sử
quyền mưu. Quyền là thay đổi để thích hợp, mưu là suy nghĩ để
vượt khó. Như vậy, từ lúc lọt lòng cho đến cuối đời, bất cứ lúc
nào, nơi đâu... chiến trường, thương trường, tình trường... mọi
người đều dùng quyền mưu để giành thắng lợi cho bản thân mình.
Nghìn xưa về trước đã xuất hiện những nhà quyền mưu
học như Tôn Tử, Ngô Khởi, Trương Lương, Trần Bình, Gia Cát
Lượng, Nhạc Phi... Tài trí của họ đã được các học giả đời sau
tích hợp thành các cẩm nang, bí kíp... Tuy vậy, “những thành
tựu nghiên cứu cho tới hôm nay phần lớn mới dừng lại ở sự chú
thích, bình luận điển tích quyền mưu hoặc phân loại câu
chuyện... rất ít người nghiên cứu thảo luận về mặt lý luận của
quyền mưu ở dạng chỉnh thể...”.
Tìm hiểu và tổng hợp về Quyền mưu học đã thôi
thúc, song khi vào cuộc mới thấy kiến thức bản thân còn quá thô
thiển hạn hẹp và đã lạc vào rừng hoa bát ngát không biết phải
bắt đầu từ đâu. Cũng may, sau khi đất nước mở cửa, du nhập những
kết quả nghiên cứu mới, tôi mới được đọc những tác phẩm bổ ích
như quyển Quyền mưu thần bí. Tuy vậy, một số điểm trong
sách tôi chưa đồng ý hẳn.
Trên nền tảng thành công của các nhà nghiên cứu đi
trước và cũng trên cơ sở hạn chế của họ, tôi có ý muốn bổ túc
thêm vào những ý kiến của riêng mình. Với tinh thần khoa học và
cầu tiến, tôi không sợ những điều mình nói ra là sai, mà chỉ sợ
không đủ can đảm để nói lên những ý nghĩ trong lòng, do vậy, xin
mạo muội đưa ra những suy nghĩ của mình, có thể sẽ rất sai, rất
mong độc giả vui lòng chỉ bảo thêm.
Đi vào nghiên cứu quyền mưu, chúng ta sẽ bắt gặp
những yếu tố mâu thuẫn tạo nên cấu trúc quyền mưu như “hư /
thật”, “thuận / nghịch”... Đưa ra các cặp phạm trù để
tìm cốt lõi của quyền mưu học là đúng, nhưng đó chỉ là logic
hình thức. Nhưng nếu nghiên cứu phối hợp trên Phân tâm học
các thành phần cấu tạo quyền mưu thì mới là logic biện chứng.
Bởi vì quyền mưu là sản phẩm của trí tuệ mà ra!
Để thực hiện các ý kiến đã nêu, tôi dùng phương pháp phân tích -
tổng hợp, trên cơ sở phương pháp luận của phép duy vật biện
chứng và quan điểm duy vật lịch sử. Bản thân không hề có tham
vọng tìm lại gốc gác của quyền mưu mà chỉ có ý muốn mở ra một
hướng mới bằng sự say mê cá nhân... rất mong sự tiếp tay của quý
bằng hữu... Trong giới hạn của tiểu luận này, tôi chỉ xin phân
tích cặp phạm trù “hư / thật”, là một cấu trúc rất thường được
sử dụng trong binh pháp.
Cuộc sống thiên hình vạn trạng, luôn thay đổi nên sự vận dụng
quyền mưu rất đa dạng, phong phú như người ta nói : “trăm phương
nghìn kế”. Do vậy, nếu không có phương pháp nghiên cứu đúng,
người tìm hiểu quyền mưu học thường lạc vào ngàn hoa cỏ dại
không biết nơi đâu mà lần. Để tìm ra cốt lõi, chúng ta cần tìm
hiểu quyền mưu được cấu tạo và hình thành như thế nào?
Bất cứ một quyền mưu nào cũng bao gồm 4 thành phần kết hợp:
- Chủ thể quyền mưu : chỉ phía nghĩ ra và vận dụng quyền mưu.
- Khách thể quyền mưu : chỉ phía bị quyền mưu chi phối.
- Trường quyền mưu : là những điều kiện khách quan làm chổ dựa
cho mưu kế như thời gian, không gian, địa điểm cùng các yếu tố
hỗ trợ...
- Bản thể quyền mưu : là những hành vi, ngôn ngữ, kỹ xảo... xuất
phát từ trí tuệ con người để thực hiện mưu kế trong một trường
quyền mưu.
Có thể hình dung 4 yếu tố cấu tạo quyền mưu tương tự một ván cờ
mà hai người đánh cờ là chủ thể và khách thể quyền mưu, bàn cờ
chính là trường quyền mưu, còn đường đi nước bước của các quân
cờ chính là bản thể quyền mưu...
Như vậy, chủ và khách là hai thành phần đối lập nhưng cùng dựa
vào nhau trong trường quyền mưu để hình thành quyền mưu. Không
có chủ thì không thể có khách và ngược lại. Hai thành phần này
là một cặp mâu thuẫn trong cấu tạo quyền mưu, vì quyền lợi mà
tìm cách loại trừ lẫn nhau. Từ mâu thuẫn này, khi vận dụng quyền
mưu lại nảy sinh những mâu thuẫn mới, lừa nhau, đưa đối phương
vào kế của mình...
Hai nhà nghiên cứu quyền mưu học người Trung Quốc là Triệu Quốc
Hoa và Lưu Kiến Quốc cho rằng : “- Coi quyền mưu là một môn
học thì phải đặt trọng tâm nghiên cứu vào bản thể quyền mưu”.
Tôi chưa đồng ý hẳn với nhận định này, bởi nếu chỉ nghiên cứu
bản thể quyền mưu mà không đặt trên nền tảng phân tích đặc điểm
của chủ thể và khách thể cùng trường quyền mưu, e rất thiếu sót
: bản thể quyền mưu hình thành từ đâu ? Không phải là sản phẩm
trí tuệ của chủ thể quyền mưu ?
Biết mình, biết người, trăm trận không thua! Chủ thể quyền mưu
phải dựa vào đặc điểm bản thân và đặc điểm đối phương cùng đặc
điểm từng trường quyền mưu, từ đó mới hình thành được kế sách.
Chính vì vậy quyền mưu mới biến hoá khôn lường ! Nhận thức được
mình, đồng thời nhận thức được đối phương, đó là điều kiện tiên
quyết để chiến thắng!
Từ cổ chí kim, từ đông sang tây... quyền mưu bàng bạc mọi khi,
mọi nơi... không sao kể xiết... Tôi xin chọn các điển tích trong
Tam Quốc diễn nghĩa, là truyện truyền kỳ rất nổi tiếng
được nhiều người yêu thích, để làm ví dụ cho sự phân tích của
mình...
1.
Khổng Minh
dùng kế khích Chu Du...
... Đến
chiều gần tối, có tin báo Lỗ Tử Kính đưa Khổng Minh tới yết
kiến... Thi lễ xong, chia ngôi chủ khách mà ngồi... Thế là hai
bên tranh luận kịch liệt. Khổng Minh thấy thế chỉ khoanh tay
ngồi cười nhạt.
Du hỏi: -Sao
tiên sinh cười?
Khổng Minh
nói: -Nào Lượng dám cười ai đâu! Chỉ cười Tử Kính không hiểu
thời thế đấy thôi.
Túc hỏi:
-Sao ông bảo tôi không hiểu thời thế?
Khổng Minh:
-Chủ ý của Công Cẩn muốn hàng Tào Tháo là hợp lý lắm.
Du nói:
-Khổng Minh là bậc sĩ thức thời vụ, đồng ý kiến với ta là phải!
Túc nổi
giận, đâm gắt: -Khổng Minh! Sao ăn nói như thế mà nghe được?
Khổng Minh
vẫn thản nhiên: -Tháo rất giỏi dùng binh, thiên hạ không ai
chống nổi... Nay tướng quân quyết kế hàng Tào để giữ gìn vợ con,
bảo toàn lấy phú quý như thế là phải. Còn vận nước đổi dời ra
sao, cứ mặc cho số trời! Mình có thiệt gì mà tiếc?
Lỗ Túc đùng
đùng trách mắng Khổng Minh: -Ngươi định xúi chúa công ta uốn gối
chịu nhục với thằng quốc tặc Tào Tháo à?
Khổng Minh
cứ nhơn nhơn như không, rồi bỗng dõng dạc nói: -Lượng này có một
kế chẳng phải khó nhọc nạp ấn giao đất... cũng chẳng phải đem
mình qua sông bái hàng Tào Tháo! Chỉ cần một người đi sứ, thả
một chiếc thuyền con, chở hai người ở đây sang dâng Tào Tháo.
Tháo được hai người ấy, tức thì trăm vạn quân cuốn cờ bó giáp
rút lui về ngay!
Du ngạc
nhiên hỏi: -Dùng hai người nào mà đẩy lui được quân Tào như thế?
Khổng Minh
còn luận tán hoa văn: -Giang Đông này mất hai người ấy thì chỉ
như rừng già rụng hai chiếc lá, kho Thái Thương mất hai hạt
thóc. Nhưng Tháo mà được hai người ấy thì sung sướng mãn nguyện
vô cùng, lui quân ngay tức khắc!
Du càng lấy
làm lạ: -Nhưng dùng hai người nào mà được thế chứ???
Khổng Minh
vẫn khoan thai: -Trước đây, Lượng còn ở núi Long Trung, có nghe
Tháo xây cất một cái đài trên sông Chương Hà, đặt tên là Đồng
Tước... Tháo vốn tuồng háo sắc, lại nghe đất Giang Đông này có
ông cụ họ Kiều sinh được hai cô con gái... đều có dung nhan chim
sa cá lặn... nên Tháo từng phát thệ rằng: “-Một là quét bình bốn
bể làm nên đế nghiệp, hai là lấy được hai nàng Kiều Giang Đông
đem về đài Đồng Tước, vui hưởng tuổi già. Được như thế thì khi
chết ta không tiếc hận gì nữa!”. Nay Tháo đem trăm vạn quân tới
đây như hổ dòm Giang Nam, thực ra chỉ vì hai cô gái ấy. Vậy
tướng quân còn đợi gì mà không cho tìm ông họ Kiều, bỏ ra ngàn
lạng vàng, mua lấy hai cô gái rồi sai người đem qua sông nạp
cho Tháo? Tháo được hai mỹ nữ ấy, ắt hả hê sung sướng mà rút
quân ngay lập tức. Đó chính là kế “Phạm Lãi dâng Tây Thi” đấy,
nên làm ngay đi thôi!
Du nghe qua,
tái mặt, vặn hỏi: -Có gì làm chứng rằng Tháo muốn lấy hai nàng
Kiều không?
-Có chứ,
Tháo có đứa con nhỏ là Tào Thực... có tài hạ bút thành văn. Khi
xây xong đài Đồng Tước, Tháo sai con làm bài phú Đồng Tước đài.
Bài này có ý khoe nhà hắn đáng giữ ngôi thiên tử và thề sẽ lấy
được hai nàng Kiều.
-Ông có nhớ
bài phú ấy không?
-Vì lời văn
rất hoa mỹ, tôi đọc thấy cũng thích, nên nhẩm nhớ thuộc lòng.
-Xin đọc thử
cho nghe?
Khổng Minh
liền hắng giọng, đọc bài Đồng Tước đài phú một thôi như sau...
Bài phú này,
thực ra đã bị Khổng Minh sửa đổi câu thứ 7. Nguyên văn câu này
của Tào Thực là: Bắc hai cầu đông tây nối
lại,
Như cầu vồng sáng chói không gian...
Nhưng Khổng
Minh đã đổi ra là:
Tìm hai nàng Kiều nam phương về sống,
Vui cùng nhau giấc mộng hồi xuân...
Chu Du nghe
xong bài phú, đùng đùng nổi giận, dứng phắt dậy trỏ tay về phía
bắc, nghiến răng trợn mắt mắng rằng: -Thằng giặc già dám khinh
ta thế à! Ta thề giết nó!
Khổng Minh
vội đứng dậy can khuyên: -Ngài đừng vội nóng giận! Xưa chúa
Thiền Vu xâm lăng bờ cõi, thiên tử nhà Hán còn phải gả công chúa
cho nó để giải hoà cầu thân nữa là? Nay Đông Ngô tiếc gì hai cô
gái nhà dân ấy?
Du uất ức
nói: -Thế ra ông chưa biết ư? Đại Kiều là chính phối của Tôn Bá
Phù tướng quân! Còn Tiểu Kiều chính là vợ tôi chứ ai???
Khổng Minh
giả bộ sợ hãi, vội chắp tay xá: -Quả tình Lượng không biết! Trót
mở miệng nói càn, tội thật đáng chết! Đáng chết!
Du căm gan
tím ruột, nghiến răng nói: -Ta thề không đội trời chung với
thằng giặc già!
Khổng Minh
còn cố khích thêm một câu: -Việc này phải nghĩ cho chín đã. Chớ
nóng nãy mà hối về sau!
Du hăng lên
nói: - Ta vâng lời Bá Phù ký thác, lẽ nào đi uốn mình hàng giặc
Tào! Những lời ta nói hồi nãy là để thử ý nhau đấy chứ! Ngay từ
lúc rời Bá Dương Hồ về đây, ta đã có chủ trương bắc phạt rồi.
Dẫu đao búa kề đầu, quyết không đổi chí! Mong Khổng Minh giúp
cho ta một tay, cùng phá giặc Tháo!
Khổng Minh
lòng đã sướng như mở cờ, liền nói: - Đô đốc đã đoái dùng, tôi
xin gắng sức khuyển mã, sớm tối bày mưu dưới trướng!
* Đây
là hồi 44 trong truyện Tam Quốc, một ví dụ điển hình về chiến
thuật địch vận trong trường chính trị, chủ thể quyền mưu là
Khổng Minh dùng kế sách trong thật ngoài giả.
Khổng
Minh thực hiện sách lược “liên Ngô diệt Tào”, nhưng Chu đô đốc
muốn Khổng Minh phải cầu lụy mình nên giả cách hàng Tào. Mâu
thuẫn nảy sinh, Khổng Minh tức thời hình thành mưu kế thuận đà
đưa lưỡi đao tung phá. Đó cũng là một mâu thuẫn để đưa đà mâu
thuẫn của Chu Du tăng cao thêm nữa. Hai đối tác tuy mâu thuẫn
nhưng thống nhất trong trường mưu đấu trí, gây nảy sinh những
mâu thuẫn mới... Bài phú là một yếu tố hỗ trợ trong trường quyền
mưu cũng được lợi dụng để gây mâu thuẫn: mâu thuẫn với chính nó
(vì đã bị sửa đổi) và mâu thuẫn với Chu Du. Khổng Minh giả vờ
không biết Nhị Kiều là người thân của Chu Du, cũng là một mâu
thuẫn... Và những mâu thuẫn đó cứ vận động, tương tác lẫn nhau
qua hình thức đấu trí, gây ra những mâu thuẫn mới... Và mâu
thuẫn đến tột cùng khi Khổng Minh ép thế Chu Du dâng vợ mình cho
Tào Tháo.
Vật
cùng tất biến, Chu Du tức khí nên “-Ta thề giết nó!”. Còn
Khổng Minh “lòng đã sướng” vì đã... địch vận được! Đó
là... chiến thắng được!
2.
Quần anh
hội, Tưởng Cán trúng kế...
...Tháo
rất mừng, sai bày tiệc tiễn Cán lên đường. Cán đội khăn thưa,
mặc áo vải, ngồi chiếc thuyền con, sang thẳng trại lớn Chu Du,
bảo quân canh vào báo rằng: -Có cố nhân là Tưởng Cán đến thăm!
Bấy giờ Chu
Du đang bàn việc trong trướng, nghe Cán đến thì cười bảo các
tướng: -Thuyết khách đến đấy nhé!
Rồi ghé tai
mọi người thì thầm dặn nhỏ... Tưởng Cán dẫn một chú tiểu đồng áo
xanh ngang nhiên đi vào. Du vái chào đón tiếp.
Cán hỏi:
-Thế nào? Công Cẩn lâu nay mạnh giỏi chứ?
Du nhếch
miệng: -Kìa, bác Tử Dực, rõ vất vã quá! Bác chịu lặn lội song hồ
đi làm thuyết khách cho họ Tào đấy ư?
Cán giật
mình nói: -Ô hay, xa cách túc hạ quá lâu, nay nhớ tình cũ tìm
tới thăm, sao lại ngờ là thuyết khách?
Du cười nói:
-Du tuy không có đôi tai thần như Sư Khoáng ngày xưa, nhưng nghe
tiếng đàn ca cũng hiểu được nhã ý. Còn giấu nhau nữa ư?
Cán nói:
-Túc hạ đãi cố nhân thế này thì thôi, Cán xin cáo lui vậy!
Du cười ha
hả, nắm tay níu lại: -Ấy, Du chỉ sợ huynh làm thuyết khách cho
họ Tào đấy thôi. Nếu quả không có bụng như thế thì can gì phải
về ngay?
Bèn dắt nhau
vào trướng... truyền mở yến tiệc lớn... Du giới thiệu với các
tướng: -Ông bạn đây vốn tình đồng song với ta, tuy từ Giang Bắc
tới đây nhưng không phải là thuyết khách của họ Tào đâu! Các ông
chớ nghi ngờ.
...Chu Du
xoa tay khoan khoái bảo mọi người: -Từ hôm lĩnh quân xuất sư tới
nay, ta chưa uống một giọt rượu nào. Nay có bạn cũ tới thăm, lại
không có điều gì đáng nghi, vậy phải uống một bữa cho say mới
được!
...Du bảo
Cán: -Đã lâu lắm, không chung giường với Tử Dực. Đêm nay phải
gác chân lên nhau mà ngủ mới ngon!
Bèn giả tảng
quá say, lảo đảo dìu Cán vào màn đi ngủ. Du cứ mặc cả áo dài lăn
ra giường mà nằm. Lại nôn ọe lên hừng hừng, rồi sau mửa cả ra
chiếu... Cán cứ úp tai gối thao thức... Khi nghe trống trung
quân canh hai, nhổm dậy thấy ngọn đèn leo lét, quay nhìn Du thì
bấy giờ đã ngủ say, tiếng ngáy như sấm. Cán nhìn qua cái án thư
trong trướng, thấy văn thư xếp một chồng cao, bèn rón rén bước
tới xem trộm, mới biết rặt những thư tín các nơi gởi về. Lục lọi
vào giữa, chợt thấy một phong thư ngoài đề mấy chữ: “Thái Mạo,
Trương Doãn cẩn phong”. Cán giật mình, mở ra xem trộm... Xem
xong nghĩ thầm: “-Té ra Thái Mạo, Trương Doãn ngầm liên kết với
Đông Ngô rồi! Chết chưa!”.
Bèn giấu bức
thư ấy vào mình. Đang xem đến thư khác thì Chu Du bỗng trở mình
ú ớ trên giường. Cán vội tắt phụt đèn, bước lại nằm giả ngủ.
Bỗng miệng Du lảm nhảm nói: -Tử Dực! Chỉ vài ngày nữa rồi ta cho
coi cái đầu thằng giặc Tháo!
Cán đành ậm
ừ đáp lại một tiếng. Nhưng Du lại ồ ề lớn hơn: -Ồ, Tử Dực cứ ở
đây, rồi ta cho xem cái đầu... giặc Tháo!
Nhưng Cán
cất tiếng hỏi thêm, thì Du lại ngủ mê mệt mất rồi, Cán nằm phục
trên giường miên man nghĩ ngợi...
Đến đầu canh
tư, bỗng có bóng người đi vào trướng khẽ lay gọi: -Bẩm, đô đốc
đã tỉnh chưa?
Chu Du đang
mơ màng, bỗng thức giấc, nhớn nhác ngồi dậy, rồi hỏi người ấy:
-Ô hay, ai ngủ trên giường thế này?
Người ấy
bẩm: -Đô đốc mời Tử Dực ngủ chung. Đô đốc quên rồi ư?
Du có ý hối,
phàn nàn: -Bình nhật ta chưa quá chén thế này bao giờ. Tối qua
uống say quá! Không biết ta có nói điều gì lỡ làng không?
Người ấy hạ
giọng: -Vừa có người từ Giang Bắc tới đây...
Nhưng Du vội
ra hiệu bảo im, rồi gọi Tưởng Cán: -Tử Dực! Tử Dực còn thức đấy
chứ?
Cán giả vờ
ngủ say. Du khẻ nhổm dậy, rón rén bước ra ngoài trướng. Cán cố
lóng tai, chỉ nghe tiếng người nọ thì thào bảo Du: -Hai vị đô
đốc họ Trương, Thái cho người sang bảo rằng lúc này chưa thể hạ
thủ ngay được!...
Rồi những
câu về sau, người ấy với Du nói nhỏ quá, Cán không hiểu là bàn
những gì. Lát sau, Du trở vào, lại lay gọi Cán: -Tử Dực! Tử Dực!
Cán cứ nằm
im, vùi đầu giả ngủ say. Du mới cởi áo ngoài nằm ngủ...
Cán nghĩ
bụng: “-Chu Du là người tinh tế, đến sáng tìm mà không thấy bức
thư, ắt sẽ hại ta. Khó mà về thoát”. Đến canh năm, Cán ngồi dậy
lên tiếng gọi Du. Du vẫn ngủ say không thưa. Cán bèn đội khăn
mặc áo, ngầm bước ra khỏi trướng, gọi tiểu đồng, rồi đi thẳng ra
viên môn. Quân canh hỏi: -Tiên sinh đi đâu?
Cán đáp: -Ta
ở đây lâu, sợ làm phiền lỡ việc của đô đốc, nên tạm cáo biệt.
Quân sĩ
không ngăn cản. Thế là Cán xuống thuyền sai chèo thật nhanh về
yết kiến Tào Tháo...
* Đây là hồi 45 của truyện Tam Quốc, một ví dụ điển
hình về nghệ thuật phản gián thật tinh xảo! Chủ thể quyền mưu là
Chu Du, đã dự kiến sẵn kế sách trong giả ngoài thật.
Khởi đầu, Du tiên phát chế nhân, chơi ngay ván bài
lật ngữa (dương mưu) bảo Cán là thuyết khách, rồi lợi
dụng Cán chối quanh, lại bảo Cán không phải là thuyết khách
(âm mưu). Đậu đường đã thành chè, nên thêm vài hạt muối, có
vẻ tương phản nhưng lại thêm phần tương thành (làm cho Cán yên
tâm hơn), vị ngọt thêm thanh tao, hạt chè thêm thấm thía, nghệ
thuật thêm phần ảo diệu, và câu chuyện... thêm phần thú vị!
Cán làm gián điệp, tức là vai chủ, nhưng Du lại phản
khách vi chủ (đổi khách làm chủ, đổi chủ làm khách) biến Cán
thành khách thể cho quyền mưu của mình. Đó là điểm mâu thuẫn lớn
nhất mà Cán không biết.
Du từ chổ biết, giả làm không biết (đó là mâu thuẫn)
như cố đi vào chỗ tối, nhưng trong tối nhìn ra sáng, gì cũng
thấy cả! Cán từ chỗ không biết nhưng cứ tưởng mình biết (đó cũng
là mâu thuẫn nội tại) bị Du đưa vào trường mưu ảo cảnh, chẳng
phân biệt được thật giả...
Du tỉnh nhưng giả say, đó là mâu thuẫn. Còn Cán,
cũng giả say, nhưng lại bị “say” thật! Những mâu thuẫn tiếp tục
nẩy sinh nhưng không tương tác trực tiếp để bùng nổ mà lại hỗ
tương cùng chiều, cộng hưởng để xoáy Cán vào vực sâu của một mâu
thuẫn vô cùng lớn: Đó là... trộm phải thư giả!
3.
Toán liệu
cao, Gia Cát chẹn Hoa Dung...
... Vân
Trường bèn viết tờ quân lệnh trạng, ký tên xong hỏi lại Khổng
Minh: -Nếu Tào Tháo không chạy qua đường Hoa Dung thì sao?
Khổng Minh
nói: -Ta cũng xin viết quân lệnh trạng với tướng quân!
Nói rồi viết
ngay, Vân Trường rất mừng. Khổng Minh dặn ông: -Tướng quân hãy
kéo vào con đường hẽm Hoa Dung, rồi lên núi cao chất cỏ đặt củi
mà đốt cho khói lửa bốc lên, để dụ Tào Tháo đến nhé!
Vân Trường
ngạc nhiên hỏi: -Tháo trông xa thấy khói lửa, ắt biết có mai
phục, đâu còn dám đến nữa?
Khổng Minh
cười nói: -Phải đâu ta không nhớ cái lý luận “hư hư thật thật”
trong binh pháp? Nhưng Tháo rất giỏi dùng binh, phải làm thế mới
lừa được nó. Nó thấy khói bốc, sẽ cho rằng chúng ta hư trương
thanh thế chứ không phục ở đấy, mà phục chổ khác...
... Đang
tiếp tục đi, bỗng quân sĩ quay lại bẩm: -Phía trước có hai ngã
đường, xin thừa tướng truyền đi ngã nào?
Tháo hỏi:
-Đi ngã nào gần hơn?
-Con đường
lớn bằng phẳng dễ đi, nhưng xa hơn 50 dặm. Con đường nhỏ qua Hoa
Dung thì gần được hơn 50 dặm, nhưng lối tắt nhỏ hẹp hiểm trở,
lại núi cao gồ ghề khó đi.
Tháo sai
người lên núi cao nhìn xem, thì họ trở xuống báo: -Trong con
đường nhỏ men núi, có khói lửa bốc lên mấy chổ. Con đường lớn im
lìm chẳng thấy động tĩnh gì.
Tháo bèn ra
lệnh theo con đường nhỏ mà chạy. Các tướng hỏi: -Chổ có khói lửa
ắt có quân mã đóng, sao lại đi đường ấy?
Tháo cười
nói: -Há không nhớ binh thư có câu “hư là thực, thực là hư”? Gia
Cát Lượng đa mưu nên sai người vào ghềnh núi đốt lửa, khiến quân
ta không dám theo đường nhỏ rồi nó phục binh ở đường lớn đợi ta
chứ gì! Ta thừa biết rồi, hắn lừa ta thế nào được?
...Các tướng
miễn cưỡng đi theo. Đi chưa được vài dặm, Tháo đang ngồi trên
yên, bỗng lại giơ roi về phía trước mà cười sằng sặc. Các tướng
hỏi: - Sao thừa tướng còn cười nữa?
Tháo nói: -
Người ta cứ đồn Chu Du với Gia Cát Lượng túc trí đa mưu, nhưng
cứ như ta xét đây thì rút cục cũng chỉ là lũ vô dụng! Thử hỏi:
nếu chúng biết phục một cánh quân ở chổ này, có phải chúng ta
chỉ còn đưa tay chịu trói không?
Nhưng Tháo
vừa dứt lời, đã nghe tiếng pháo nổ đùng!... Rồi 500 quân binh
tinh tráng cầm đao kéo ra đón chặn. Viên đại tướng đi đầu chính
là Quan Vân Trường, cầm Thanh Long Đao cỡi ngựa Xích Thố, đứng
chặn đứt lối đi!...
* Hồi 50, một ví dụ điển hình về nghệ thuật dụ địch
vào trận. Khổng Minh quyết định dùng kế sách trong thật mà
ngoài cũng thật!
Sự thật
của việc phục binh đã ló dạng qua hiện tượng khói lửa, nhưng tại
sao Tào Tháo vẫn sa bẩy? mâu thuẫn xuất phát từ đâu???
Tháo vốn
đa nghi, đó là mâu thuẫn tâm lý. Nghi ngờ là tốt, nhưng lại
thuộc lòng và vận dụng binh pháp một cách cứng nhắc. Đó là mâu
thuẫn với luật biến hóa...
Khổng
Minh phục binh nhưng vẫn cho thấy có hiện tượng phục binh, đó là
mâu thuẫn với bí mật quân sự. Tự tiết lộ quân cơ là điều chưa
thấy xưa nay bao giờ, cho nên Tháo nghi ngờ, không tin ở đó có
phục binh là đúng. Nhưng sự thật vẫn có phục binh, không như
Tháo dự đoán. Thật ra, Khổng Minh đã biết rõ đặc tính của Tào
Tháo nên lợi dụng triệt để mâu thuẫn bên trong họ Tào. Lấy mâu
thuẫn của đối phương làm nền tảng cho sự biến hóa mâu thuẫn của
mình: dùng ngược lại với binh pháp cổ! Đó là mâu thuẫn lớn nhất,
đang chờ Tháo đến!
4.
Khổng Minh ôm đàn, đuổi Tư Mã Ý
chạy dài...
...Khổng Minh tự đem
5000 quân đến huyện Tây Thành vận chuyển lương thảo. Đến thành
chưa kịp thu xếp, bỗng thám mã phi báo: -Tư Mã Ý kéo 15 vạn đại
quân đang ồ ạt đến đây như sóng trào gió cuốn!
Đang sửng sốt thì
lại tiếp luôn mười tin báo dồn dập như thế nữa. Bấy giờ bên mình
Khổng Minh chẳng có một đại tướng nào, chỉ trơ một số quan văn.
Có 5000 quân đem đến thì đã chia một nửa đi tải lương, trong
thành chỉ còn 2500 người. Các quan văn nghe tin như sét nổ ngang
tai, ai nấy tái mặt mà run như gà cắt tiết. Khổng Minh nhô lên
thành trông xa, quả thấy cát bụi tung trời... Ông lập tức truyền
lệnh hạ hết cờ quạt binh khí trên thành xuống, đem cất giấu đi,
quân sĩ phải chia nhau nép trong các cửa, ai tự tiện ra vào lấp
ló là chém, ai nói to gọi lớn cũng chém ngay. Rồi ông sai mở
toang 4 cửa thành, mỗi cửa chỉ để 20 quân sĩ ăn mặc giả nhân
dân, cứ thong thả quét đường ngõ, dọn phố xá và dặn họ rằng:
“-Khi quân Ngụy đến, không được hoảng hốt, cứ bình tỉnh như
không...”. Chuẩn bị xong, Khổng Minh mới khoát áo lông hạc, đội
khăn luân cân, cắp một cây đàn, dẫn hai cậu tiểu đồng ung dung
bước lên địch lâu. Rồi tiên sinh bệ vệ ngồi dựa lan can nhìn ra,
sai đốt hương nghi ngút, lần tay... so phím tơ dạo mấy cung đàn!
Chốc lát, đội tiền quân Nguỵ dến nơi, chợt thấy quang cảnh ly kỳ
ấy, vội dừng ngay, không dám nhúc nhích và cho người phi ngựa
trở lại báo Tư Mã Ý. Ý nghe báo, cười không tin! Bèn truyền đại
quân tạm đóng lại, rồi Ý phi ngựa lên trước, tiến dần đến nhìn
xem... thì quả thấy Khổng Minh đang ngồi chễm chệ trên lầu
thành, cười nói ung dung, tươi như hoa nở! Bên khói hương dìu
dặt, tay tả thoăn thoắt so phím đàn, tay hữu nhẹ nhàng búng dây
tơ thánh thót... Bên trái, một cậu tiểu đồng nâng thanh bảo
kiếm; bên phải, một cậu tiểu đồng cầm cây phất trần. Cửa thành
thì mở toang, bên trong bên ngoài chỉ có vài mươi người dân đang
cúi lom khom quét tướt... Ngoài ra, tất cả đều vắng tanh, im
lìm! Ý nhìn qua một lượt, lòng đầy nghi hoặc... bỗng nghĩ sực ra
một chuyện!!! Lập tức quay ngựa chạy về trung quân, truyền lệnh
đổi hậu quân thành tiền đội, tiền đội quay lại làm hậu quân, tức
tốc nhắm ra con đường phía bắc núi mà chạy!
Tư Mã Chiêu hỏi: -Có
lẽ Gia Cát Lượng không quân không tướng nên bày trò ra thế. Sao
phụ thân đã vội lui binh?
Ý lắc đầu giục: -
Không được! Gia Cát Lượng bình sinh cẩn thận, không có làm liều
bao giờ! Giờ nó mở rộng cửa thành, ắt đã mai phục 4 mặt, quân ta
tiến lên là mắc mẹo!
Chiêu còn nghi hoặc
muốn hỏi nữa, thì Ý quát lên: - Chúng mày con nít, biết gì? Hoả
tốc lui mau.
Thế là hai đạo binh
đông như kiến cỏ đột ngột kéo đến, rồi lại đột ngột chạy đi mất
dạng. Khổng Minh thấy quân Nguỵ đã chạy xa, vỗ tay cười ầm lên.
Các quan ai cũng ngạc nhiên, vẫn chưa hết sợ, vội hỏi: -Tư Mã Ý
là danh tướng nước Nguỵ, nay thống xuất 15 vạn tinh binh tới
đây, sao mới thấy thừa tướng đã vội bỏ chạy?
Khổng Minh giảng
giải: -Vì hắn thấy ta bình sinh cẩn thận, chắc ta không làm liều
bao giờ nên thấy quang cảnh này, hắn ngờ ngay là có phục binh,
vội vã chạy trốn! Còn ta, thì chẳng muốn làm chuyện mạo hiểm làm
gì. Chẳng qua bất đắc dĩ, hết đường phải dùng kế này đó thôi!...
Mọi người hiểu ra,
đều giật mình bái phục: -Mưu cơ thừa tướng, đến quỷ thần cũng
không lường được. Cứ như chúng tôi, thì đã bỏ thành mà chạy rồi.
Khổng Minh nói:
-Quân ta chỉ có 2500 người, nếu bỏ thành mà chạy cũng chẳng trốn
được xa, ắt bị Tư Mã Ý bắt sống!...
...Rồi Khổng Minh bỏ
Tây Thành kéo quân dân chạy về Hán Trung... Còn Tư Mã Ý, sau khi
chỉnh binh lại, chia đường truy kích, nhưng không kịp nữa: quân
Thục đã về đến Hán Trung yên ổn cả rồi. Ý mới đem quân trở lại
Tây Thành, nhân thể hỏi dân chúng còn lại trong thành... xem
thực tình quân đội Khổng Minh trước đó ra sao thì ai cũng bẩm
rằng... Ý hối tiếc thì đã muộn, mới ngửa mặt lên trời than: -Ta
thật kém xa Gia Cát Lượng!
* Hồi
95, một ví dụ điển hình của đỉnh cao nghệ thuật nghi binh chặn
địch. Trong tình thế hết kế, Khổng Minh tức thời dùng kế sách:
trong giả mà ngoài cũng giả!
Binh
pháp cổ đã có kế bỏ thành không, nghĩa là cho quân phục sau cửa
thành, giả như không có quân (mâu thuẫn) rồi mở toang cửa thành
dụ địch vào để bất ngờ chặn đánh. Song đó là khi có quân (về bản
chất là có quân thật) nhưng giả làm như không có quân (hiện
tượng giả), tức trong thật ngoài giả. Đó là mưu kế cổ điển đã
được sử dụng nhiều...
Trong
tình huống của Khổng Minh không có quân (bên trong giả), lại giả
làm như có quân mai phục qua hiện tượng giả làm “Không thành
kế”, tức lấy một cái giả để lồng vào một cái giả khác nữa (mâu
thuẫn với kế cổ điển), quả thật ảo bí khôn lường! Tư Mã Ý đã
được chỉ điểm nhưng tại sao vẫn bị lừa?
Nguồn
gốc sự việc, Khổng Minh trước rất cẩn thận, nay vô kế khả thi,
cực tất phản, phải chơi liều! Đó là tự mâu thuẫn với chính bản
thân mình. Trong bụng rất lo sợ, nhưng vẫn cười nói ung dung,
tươi như hoa nở, ngón tay đàn thong thả không loạn nhịp... hiện
tượng mâu thuẫn với bản chất. Còn Tư Mã Ý, cũng biết Khổng Minh
xưa nay cẩn thận, không làm liều bao giờ: đó cũng là mâu thuẫn
trong tâm lý Tư Mã Ý, do bị chính mình đánh lừa! Biết Tư Mã Ý
đánh giá mình như thế nên Khổng Minh đã tự mâu thuẫn với mình,
và mâu thuẫn đó được dồn vào Ý nên Ý đã bị lừa! Thật kỳ diệu vô
cùng!...
NHẬN ĐỊNH VỀ YẾU TỐ MÂU THUẪN
Qua đó,
ta thấy những yếu tố mâu thuẫn có mặt khắp nơi... khi ẩn, khi
hiện...
Mâu
thuẫn đầu tiên và cơ bản nhất là mâu thuẫn giữa chủ thể và khách
thể quyền mưu. Trong các ví dụ đã nêu là mâu thuẫn đối kháng
giữa các thế lực chính trị là Tào Nguỵ với liên minh Ngô - Thục
(Chu Du và Gia Cát Lượng) luôn tìm cách tiêu diệt lẫn nhau. Mâu
thuẫn cơ bản cần phải giải quyết, từ đó hình thành quyền mưu và
bản thể quyền mưu...
Mâu
thuẫn cơ bản nói trên là mâu thuẫn chung mà quyền mưu nào cũng
có, song tuỳ vào từng hoàn cảnh mà nó thể hiện riêng qua các mâu
thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn tình huống..., những mâu thuẫn tình
huống riêng này đều bị mâu thuẫn cơ bản chi phối.
Ở ví dụ
1, xảy ra mâu thuẫn giữa Khổng Minh và Chu Du, mâu thuẫn này
không đối kháng, và là mâu thuẫn bên trong liên minh chống Tào,
chủ yếu ở đây là Chu Du muốn Gia Cát Lượng phải cầu luỵ mình. Ở
ví dụ 2, trong mâu thuẫn đại cuộc nảy sinh mâu thuẫn tình huống,
chủ yếu là Tháo cài gián điệp còn Du thì tìm cách phản gián. Ở
ví dụ 3, cũng trên nền tảng mâu thuẫn cơ bản mà nảy sinh mâu
thuẫn tình huống chọn đường: bên thì tìm đường thoát, còn bên
thì tính đường chặn bắt. Ở ví dụ 4, mâu thuẫn chủ yếu cũng chính
là mâu thuẫn cơ bản, trực tiếp: bên trốn, bên tìm!
Trong
việc giải quyết mâu thuẫn, sự hình thành bản thể quyền mưu phải
dựa trên cơ sở bản chất của mâu thuẫn đó, đồng thời dựa vào đặc
điểm của chủ thể, khách thể và cả trường quyền mưu, tuỳ từng
tình hình cụ thể mà có quyền mưu thích hợp. Do đó bản thể quyền
mưu rất thiên hình vạn trạng...
Song dù
quyền mưu có thiên biến vạn hoá thế nào đi nữa, dù là dự mưu
(mưu kế đã dự kiến sẵn) hay tức mưu (mưu kế nảy sinh tức
thời), thì cũng phải chọn một yếu tố mâu thuẫn làm hạt nhân,
điểm tựa mà hình thành bản thể quyền mưu; và hạt nhân, điểm tựa
đó không thể nằm ngoài cấu tạo của quyền mưu!
Một sự
vật, hiện tượng có vận động mới gây mâu thuẫn, còn đứng im (theo
nghĩa tương đối) thì không thể có mâu thuẫn. Trong 4 thành phần
cấu tạo nên quyền mưu thì có 3 thành phần luôn vận động: chủ
thể quyền mưu vận động bằng suy nghĩ và vận dụng quyền mưu,
khách thể quyền mưu thì vận động bằng cách phản ứng với
quyền mưu, còn bản thể quyền mưu thì vận động theo cách
biến hoá dưới chi phối của chủ thể quyền mưu. Riêng trường
quyền mưu là các yếu tố khách quan như ngoại cảnh, không mâu
thuẫn; nhưng nó cũng sẽ mâu thuẫn nếu có sự tác động làm mất
trạng thái vốn có của nó, lúc đó nó sẽ tự mâu thuẫn với chính nó
vì đã bị biến dạng, đồng thời mâu thuẫn với khách thể quyền mưu:
Ở ví dụ
1, hạt nhân cần tìm là ở ngay trong trường quyền mưu,
chính là bài phú! Bản thân bài phú chỉ là một sự vật tĩnh tại
khách quan trong trường quyền mưu, nó chẳng mâu thuẫn gì ai!
Nhưng khi bị Khổng Minh tác động (sửa đổi), nó đã “vận động”
(thay đổi trạng thái) nên mâu thuẫn với chính vốn có của nó và
mâu thuẫn với Chu Du, làm cho Du bị mắc lừa Khổng Minh!
Ở ví dụ
2, hạt nhân cần tìm là ở ngay trong bản thể quyền mưu!
Biến hoá thì tạo mâu thuẫn! ở chỗ: phản khách vi chủ! Chu Du là
khách thể quyền mưu của Tưởng Cán, nhưng Du lại biến Cán thành
khách thể của mình, do đó Cán mới bị lừa!
Ở ví dụ
3, hạt nhân cần tìm nằm ngay trong khách thể quyền mưu:
Tào Tháo rất đa nghi, nhưng lại dụng binh cứng nhắc. Khổng Minh
đã lợi dụng mâu thuẫn đó để xây dựng bản thể quyền mưu của mình.
Ở ví dụ
4, hạt nhân cần tìm ngay trong chủ thể quyền mưu: xưa cẩn
thận, nay làm liều, Khổng Minh lợi dụng sự mâu thuẫn của chính
bản thân mình, hình thành quyền mưu và gạt được Tư Mã Ý.
Trong
giả - ngoài thật, hoặc trong thật – ngoài giả là cấu trúc bình
thường ai cũng làm được. Nhưng trong thật – ngoài thật, và nhất
là trong giả - ngoài giả mà vẫn lừa được địch, quả là đỉnh cao
của tuyệt học quyền mưu! Biết mình - biết người, là thế! Kết quả
của quyền mưu phải được tổng hợp trên đầy đủ cả 4 yếu tố cấu tạo
quyền mưu chứ không phải chỉ ở bản thể quyền mưu vậy!
Hư hư
thật thật, chân chân giả giả... Quyền mưu học nghiên cứu trí tuệ
và tâm lý con người, nên cũng là Nhân học. Con người vốn tự mâu
thuẫn, từ đó mâu thuẫn với bên ngoài và hình thành quyền mưu...
Để có
được quyền mưu, không thể không có một hạt nhân mâu thuẫn để làm
nền tảng, điểm tựa cho sự phát triển quyền mưu. Tuỳ vào từng
tình huống và hoàn cảnh cụ thể mà tìm hạt nhân ấy ở đâu? bản
chất là gì? Và để đạt được kết quả cao trong quyền mưu, cần phải
biết lợi dụng triệt để tất cả các mâu thuẫn trong tổng thể hài
hoà cả các mối quan hệ: Những mâu thuẫn nhỏ không đối kháng thì
nên lái chúng cùng chiều sẽ cộng hưởng để tạo mâu thuẫn lớn hơn.
Mâu thuẫn đối kháng thì phải biết tuỳ thời kìm hãm hoặc thúc đẩy
đến cực điểm dể chúng triệt tiêu lẫn nhau hoặc bùng nổ tạo nên
những trạng thái mới.
Và để
vận dụng quyền mưu, bản thể quyền mưu chỉ là một hình thức biểu
hiện của quyền mưu, không có gì là quy tắc. Nếu nói đến quy tắc
cần thiết để vận dụng quyền mưu thì đó là không theo một quy
tắc nào cả, như vậy quyền mưu mới thiên biến vạn hoá và đạt
được kết quả cao...
“Thiên biến vạn hoá”, đã bao hàm mâu thuẫn và thật
giả!
Trở về Trang Chính
|