|
Là người chuyên sưu khảo tiền cổ Đông Á, tôi
có cơ may đọc rất nhiều công trình nghiên cứu tiền cổ Việt Nam
trên thế giới. Song các công trình ấy chỉ dừng ở mức độ thống
kê, giới thiệu sưu tập: người ta chỉ nhìn đồng tiền với góc độ
là vật trung gian trao đổi hàng hoá một cách đơn thuần. Ở đây,
tôi muốn giới thiệu một cách nhìn khác qua lăng kính “quốc học”:
có thể thấy hồn Việt lấp lánh nếu biết đặt đồng tiền trong tổng
thể hài hoà bối cảnh lịch sử ra đời!
Trung Quốc là nước đầu tiên ở Đông Á biết sử
dụng tiền tệ cách đây khoảng bốn nghìn năm, còn đồng tiền đầu
tiên của dân tộc Việt Nam là do Đinh Tiên Hoàng (968- 979) đúc.
Cùng thời triều Đinh, tại Trung Quốc, Đại Tống - Thái Tông cho
đúc tiền Thái Bình (mặt lưng đồng tiền không có chữ); còn Tiên
Hoàng nước ta cũng đúc tiền Thái Bình, nhưng mặt lưng có chữ
“Đinh”, họ vua, tức đồng tiền có mang quốc tính để phân biệt với
tiền Đại Tống!
Thời Ngũ Đại (Trung Quốc), Hậu Tấn - Cao Tổ
(936-942) đúc tiền Thiên Phúc, mặt lưng không có chữ. Lê Đại
Hành nước ta (980-988) cũng có đúc tiền Thiên Phúc, nhưng mặt
lưng lại có chữ “Lê” để phân biệt! Đến triều Trần, có đúc tiền
Khai Thái (1324-1329) và Thiệu Phong (1341-1357) cũng ghi
“Trần”!
Ông XiongBaoKang - Tổng Thư ký Hội nghiên cứu
tiền tệ và Bảo tàng tiền tệ Quảng Tây (Trung Quốc) - trong một
chuyến ghé Huế tháng 7/2003 để nghiên cứu tiền cổ, cho biết hai
loại tiền của vua Đinh - Lê (Việt Nam) được tìm thấy ở Hoa Nam
(Trung Quốc) rất nhiều. Việc ghi quốc tính trên đồng tiền của
nước ta để phân biệt với tiền Trung Quốc, há không phải:
Như nước Đại Việt
ta từ trước,
Vốn xưng nền văn
hiến đã lâu.
Núi sông bờ cõi đã
chia,
Phong tục bắc nam
cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lý,
Trần bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường,
Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.
Tuy mạnh yếu từng
lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời
nào cũng có!
* * *
Ngày xưa, bốn nước đồng văn ở Đông Á là Trung
Quốc - Việt Nam - Nhật Bản -Triều Tiên đều sử dụng chung một
hình thức tiền tệ và không phân biệt. Thế nhưng...
Nước mất, nhà tan... quân Minh tàn phá... Hội
thề Lũng Nhai năm 1416, lấy niên hiệu Thiên Khánh làm năm thứ
nhất của khởi nghĩa Lam Sơn. Mười năm kháng Minh “khi Linh
sơn lương cạn mấy tuần, khi Khôi huyện quân không một đội...”,
khó khăn đến thế, nhưng Đại Việt chúng ta vẫn đúc ra tiền Thiên
Khánh để biểu hiện:
Ta đây: núi Lam Sơn
dấy nghĩa,
Chốn hoang dã nương
mình.
Ngẫm thù lớn há đội
trời chung,
Căm giặc nước thề
không cùng sống!
Cái “thề không cùng sống” ấy còn được thể
hiện ở chổ tuy “lương cạn...” nhưng chẳng sử dụng tiền của giặc
đem sang, mà phải đúc riêng để dùng. Tiền Thiên Khánh này, ngày
nay sưu tập thấy rất nhiều loại chứng tỏ đã đúc xuyên suốt 10
năm kháng chiến. Và sau khi Bình Ngô đại cáo, tiền này tiếp tục
đúc để ban thưởng, có phải là một ẩn ý của hồn Việt?!
* * *
Thái tổ Nguyễn Hoàng, “từ thuở mang gươm
đi mở nước”, đã đem chất Việt từ bắc vô nam, cũng như các
chúa Nguyễn sau này, biết cách phối hợp với văn hoá bản địa tạo
nền móng mới, dám ly khai với Đàng Ngoài để cát cứ Đàng Trong
một thời... Để được “...vạn đại dung thân”, trước lúc lâm
chung, chúa Tiên đã trối trăng “cơ nghiệp muôn đời...” để
rồi các chúa thực hiện di ngôn bằng lệ đúc tiền Thái Bình, tạo
ra một dòng tiền mới rất đặc sắc!
Phóng khoáng cởi mở, hoà cùng tâm nguyện
“phản Thanh phục Minh” của Hoa kiều, sẵn sàng cho tàn quân Đại
Minh trú ngụ rộng rãi ở Đàng Trong, nhờ đó được họ giúp đỡ nhiều
về phương diện kinh tế:
Chúa Nguyễn từng nhờ Hoa kiều đem thư sang
Nagasaki trình Mạc Phủ Tokugawa (Đức Xuyên Mạc Phủ) thỉnh đúc
giúp tiền đồng, sau đó mua được đồng đỏ của Nhật Bản để bắt đầu
đúc ra hệ thống tiền đồng đỏ từ năm 1725. Sau khi hoàn tất cuộc
Nam tiến, chúa cho cha con người Tàu là Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ
làm đô đốc trấn Hà Tiên. Năm 1736, chúa cho Thiên Tứ mở cục đúc
tiền để thông thương hải ngoại. Năm 1746, chúa lại nghe lời
người Hoa họ Hoàng, mua kẽm trắng của Tây mở cục đúc tiền ở
Lương Quán (Huế) cho tiện việc tiêu dùng.
Sự xuất hiện của 3 hệ thống tiền ở xứ Đàng
Trong đã đẩy nền kinh tế khu vực này phát triển mạnh mẽ, một
vùng văn hoá Phú Xuân... Bởi chúng ta biết được: có một xã hội
lớn đã khuất vào dĩ vãng, cũng nhờ dư âm vang dội và những di
tích còn mang nhiều nét đậm khó phai... Cùng những chứng cứ khảo
cổ học khác như đô hội cổ, thương cảng cổ, bến cũ nhà xưa... với
những di vật gốm sứ, bi ký, chuông vạc... những đồng tiền cổ
cũng phần nào giúp tái tạo diện mạo một xã hội với cảnh tượng
sinh hoạt ồn ào hàng mấy trăm năm... Lần theo dấu vết phiêu du
của tiền cổ, từ những lò đúc đến các đô thị... rồi vượt sóng
sang những chân trời hải ngoại xa xăm... chúng ta phần nào hiểu
được tầm cỡ giao lưu thương mại quốc tế rộng lớn của các chúa...
Và nhờ vậy, Đàng Trong được xem là một trong những trạm trung
chuyển hàng hoá giữa các trung tâm vùng, trung tâm liên vùng với
trung tâm liên thế giới...
* * *
Vua Lê ở Đàng Ngoài, được Đại Thanh - Khang
Hy hoàng đế sách phong “Trung hiếu thủ bang”, và vì
“-Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong”, nên chúa Trịnh chẳng
dám ngo ngoe, phải chịu “-Giữ chùa thờ phật thì được ăn oản”.
Từ đó, dù đúc tiền cho mình, chúa cũng phải dùng niên hiệu vua
Lê, chứ không phải như chúa Nguyễn ở Đàng Trong giao cho Hoa
kiều đúc tiền hiệu gì cũng được. Tuy vậy, chúa Trịnh là người
thích lập chiến công, việc đúc tiền cũng thể hiện sự xa hoa:
Mẹ em tham thúng xôi rền,
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng!
Quả thật, tiền Cảnh Hưng của vua Lê Hiển Tông
(1740-1786) quá phong phú đa dạng... Ông Xiong BaoKang cho biết
tại bảo tàng do ông quản lý, có hơn hai nghìn đồng tiền Cảnh
Hưng có chi tiết khác nhau, đồng thời trao đổi:
- Nhật Bản có hiện tượng tiền Khoan Vĩnh, Cao
Ly thì có hiện tượng tiền Triều Tiên, đều đã có người nghiên
cứu. Riêng Việt Nam thì có hiện tượng tiền Cảnh Hưng, cho đến
nay vẫn chưa có ai nghiên cứu!
Nhân cao hứng, tôi nhận định và
vị chuyên gia tiền cổ của Trung Quốc cũng đồng ý: -Chính sự phát
triển phong phú của tiền tệ xứ Đàng Trong, buộc chính quyền Đàng
Ngoài phải tìm mọi cách làm rộ nở tiền Cảnh Hưng!
* * *
Tây Sơn, nổi bật là anh hùng
Nguyễn Văn Huệ, biết kết hợp nhiều thành phần tạo sức mạnh vỡ
bờ, đã “xoá sông Gianh” mà ra bắc như thần xuất quỷ nhập rồi dắt
về nam một công chúa Ngọc Hân...
Tôn Sĩ Nghị với dã tâm “-An Nam
vốn là đất cũ của ta...”, còn Đại Thanh - Càn Long thì mơ đồng
hoá hồn Việt nên đã cho đúc loại tiền “Càn Long - An Nam”!
Cũng rất may, Nguyễn Văn Huệ vì
lòng tự hào dân tộc nên quyết “-Đánh cho sử tri nam quốc anh
hùng chi hữu chủ!”... làm cho Tôn Sĩ Nghị “phiến giáp bất
hoàn, chích luân bất phản...”, sau đó lại cống cho Càn Long
loại tiền Quang Trung cũng có hai chữ An Nam!
Đồng tiền “Quang Trung – An Nam”
ấy, há không phải là một tuyên ngôn “-Nam quốc sơn hà, nam đế
cư!” hay sao?!
* * *
Hoàng thân Nguyễn Phúc Ánh, một ý chí sắt đá,
sau 25 năm bôn ba phục quốc, đã nhất thống từ Gia Định đến Thăng
Long, rồi đúc ra đồng tiền Gia Long - Thái Bình để biểu hiện
chính bản thân mình đã hoàn tất di mệnh của tổ tiên! Sửa sai vì
đã ký Hiệp ước Versaille cùng Pigneaux de Béhaine (giám mục Bá
Đa Lộc) lúc khủng hoảng, vị Thế tổ triều Nguyễn thấy được âm mưu
của Pháp, đã bỏ dòng trưởng hoàng tôn Đán, lấy dòng thứ hoàng tử
Đảm, tạo nên một hoàng đế Minh Mạng và Việt Nam hùng mạnh trong
mấy chục năm...
Trước đây, tiền các nước trong khối đồng văn
đều được sử dụng chung trên đất Việt, song từ thời Gia Long đến
Tự Đức, không bao giờ sử dụng tiền nước ngoài, chứng tỏ một Đại
Nam tự chủ!
Đau đớn thay: giáo mác người Việt không đỡ
được súng đạn thực dân... Bao nhiêu tài sản đất Việt,
trong đó có cả kho tàng vàng bạc châu báu triều Nguyễn đều bị
cướp sạch!!! Biết bao giờ mới đòi lại được???
* * *
Vốn chỉ học được
chữ “Y” là chót bảng ABC, nhưng nhờ mê sử từ thuở còn tiểu học,
đã từng sưu tập tem, ảnh... Lớn lên, được xem sưu tập tiền cổ
của cha... thấy hồn Việt lấp lánh... mà đem lòng tự hào dân tộc
mình có những Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa... Từ đó, trên các
nẻo đường tìm hiểu, lòng vẫn “nghìn năm thương nhớ đất Thăng
Long”; và mỗi lần ra thăm Đất Tổ, không thể không đến Hồ
Gươm, Bác Cổ, Văn Miếu... tâm trí cứ rộn ràng “...Ơi, Đông
Đô, hùng thiêng dấu xưa còn in nơi đây. Ơi, Thăng Long, ngày mai
chiến công rạng danh non sông”... cùng nhạc sĩ Phan Nhân mà
“...chân ta bước, lòng ung dung tự hào”...
NAH
|

Htiền Thái Bình Hưng Bảo của Đinh Tiên Hoàng
(968-979) |

mặt lưng
tiền Thái Bình Hưng Bảo, có chữ “Đinh” dưới lổ vuông |

mặt lưng
tiền Thái Bình Hưng Bảo, có chữ “Đinh” trên lổ vuông |
|

tiền Thiên
Phúc Trấn Bảo của Lê Đại Hành (980-988) |

mặt lưng tiền
Thiên Phúc Trấn Bảo, có chữ “Lê” trên lổ vuông |

tiền Khải Định Thông
Bảo (1916-1925) bằng bạc
|
|

tiền Minh Mạng
Thông Bảo bằng bạc |

tiền Thiệu Trị Thông
Bảo (1841-1847) bằng bạc |

tiền Tự Đức Thông
Bảo (1848-1883) bằng bạc |
Bài đã đăng:
MỘT ĐỒNG TIỀN,
MỘT NIỀM TỰ HÀO...
VỀ ĐỒNG TIỀN THỨ HAI CỦA NƯỚC
VIỆT NAM
VỀ ĐỒNG TIỀN CỦA THÁI TỔ TRIỀU LÝ
BÀN VỀ TIỀN CỦA LÝ
THÁI TÔNG
NHỮNG ĐỒNG TIỀN
CỦA LÝ CAO TÔNG
Trở về Trang Chính
|